Translate

Thứ Bảy, 5 tháng 4, 2014

CAO THỦ VÕ VIỆT: VÕ SƯ BĂNG SƠN


Môn đồ cuối cùng trong Thập nhị đại đồ đệ

Bởi lý do đó, vào Sài Gòn suốt mấy tuần trời, tìm đến khắp các võ đường của Võ lâm Côn Luân nhưng ông vẫn không một lần được thấy mặt người. Thấy ông vất vả, kỳ công, các trợ giáo của đại sư đã thương cảm, khuyên ông nên ra Bắc bởi đại sư không bao giờ tùy tiện gặp người mình không quen biết. Thế nhưng, nhớ lời dạy của Lý sư phụ trước lúc chia tay, ông quyết chí tìm gặp Thiện Tâm Thiền Sư cho kỳ được, dù có phải đi làm thuê để kiếm kinh phí trang trải trong những ngày chờ đợi.

 
 
Thế rồi, cơ duyên, một lần đến viếng thăm một võ đường của đại sư nằm khuất sâu trong con hẻm nhỏ yên tĩnh, ông đã được một trợ giáo của đại sư đon đả mời vào. Chưa hết ngạc nhiên thì vị trợ giáo ấy đã bảo: “Đại sư đang chờ ông ở trong. Người biết thế nào ông cũng đến nên đã cố tình chờ đấy!”.
Võ sư Băng Sơn kể, nghe câu nói đó, ông đã mừng đến nỗi ú ớ chẳng nói được câu nào. Quãng đường từ võ đài vào phòng đại sư chỉ vòng vèo qua mấy gian nhà mà ông thấy như xa vời vợi. Thế rồi, cái giây phút căng thẳng ấy đã nhanh chóng trôi qua khi cánh cửa phóng của đại sư bật mở.
Đang ngồi trầm ngâm, thấy ông đại sư đã bật dậy, vồn vã: “Con vào đây! Ta chờ con cũng đã lâu rồi!”. Khi vừa an vị, một câu hỏi nữa của đại sư càng khiến ông thêm phần bối rối, khó hiểu: “Có phải Lý sư phụ giới thiệu con tới tìm ta?”. “Ôi, sao đại sư biết!?”.
Trước câu hỏi đầy sự kinh ngạc ấy của ông, Thiện Tâm Thiền Sư chỉ khẽ mỉm cười. Sau này, ông đoán rằng, trước đây, bôn tẩu giang hồ, hai vị đại sư đã có lần hội ngộ nên đã hứa hẹn chuyện dìu dắt đệ tử cho nhau.
Võ sư Băng Sơn kể ngay buổi gặp gỡ ấy, đại sư Đoàn Tâm Ảnh đã thử tài năng võ nghệ của người đệ tử tương lai của mình. Ngồi trên sập, đại sư bảo ông thi triển quyền cước ngay trong gian nhà chật chội ấy.
Ban đầu, đại sư bắt ông đánh phá 2 cửa, rồi tăng lên 4 cửa, 6 cửa. Sau một thôi một hồi tri triển tất cả những kỹ năng mà mình có được, đã thấm mệt, đang chực dừng lại thì Thiện Tâm Thiền sư lại giục tiếp: “Đánh 8 cửa!”. Mệt, thêm nữa, trong căn phòng nhỏ ấy, không đủ diện tích để ông thực thi “mệnh lệnh” lạ lùng của vị đại sư nên ông đành chắp tay mà rằng: “Cái đó thầy con chưa dậy!”.
Nghe ông nói vậy, đại sư bỗng phì cười. Thế nhưng, sau nụ cười ấy ông bỗng trầm ngâm, như đang mải mê với một suy nghĩ vô cùng sâu sắc.
Đăm đăm nhìn ông, bất chợt đại sư hỏi: “Con có muốn làm đệ tử ta không? Nếu đồng ý, ta sẽ đích thân chỉ giáo!?”. Câu hỏi ấy đã làm ông vô cùng sung sướng bởi đó là mục đích của chuyến đi này. Thế nhưng, nghĩ đến hàng ngàn đệ tử của đại sư, có mấy người được hưởng ân sủng đặc biệt ấy của người. Sợ hiềm khích, đố kỵ nên ông đã e dè: “Con sợ mình không có khả năng với lại còn sư huynh, sư đệ…”. “Cái đó thì con khỏi phải lo, khả năng của con đến đâu ta biết! Còn về môn phái, ta sẽ đặc cách cho con!”.
Sự kiện Thanh Hư Chân Nhân đặc cách thu nạp đệ tử ấy chẳng mấy chốc lan rộng ra khắp sư môn, thậm chí cả làng võ phía Nam. Thế nhưng, với những người luyện võ chân chính thì lại cho đó là một điều vô cùng có lợi cho võ lâm, bởi họ tin vào con mắt tinh đời của Thiện Tâm.
Và, cũng qua sự kiện ấy, võ lâm mới hiểu hết khát khao cháy bỏng mà suốt cả cuộc đời, Thanh Hư Chân Nhân chưa hội đủ điều kiện để thực hiện. Từ năm 1960, khi sáng lập Tổng hội Võ lâm Việt Nam và Võ lâm đạo Việt Nam, sáng tổ Đoàn Tâm Ảnh đã có dự định hưng chấn võ đạo Việt Nam cùng với Thập nhị đại đồ đệ như truyền thống của các danh sư Côn Luân thủa trước ở Trung Hoa. (Mỗi danh sư của phái Côn Luân đệ tử thì có thể có nhiều nhưng chỉ có 12 người được phong pháp danh và được truyền thụ tất cả những bí kíp võ công của môn phái). Võ sư Băng Sơn kể, trước đó, đã có 11 đại đồ đệ được đại sư Đoàn Tâm Ảnh thu nạp.
Trong số họ, đã có nhiều người danh chấn giang hồ như Hàng Thanh, Lạc Hà, Hùng Phong, Vũ Đức… (các cao thủ này hiện đang sinh sống và truyền bá võ thuật ở nước ngoài). Thu nạp ông làm đại đồ đệ cuối cùng, thứ 12, Thanh Hư Chân Nhân đã đặt pháp danh cho ông là Bắc Phong Chân Nhân với uớc muốn, ông sẽ đưa môn phái phát triển rực rỡ ở miền Bắc.
Được tặng bí kíp võ công giá hơn cả… 200 cây vàng

Từ dạo đó, ngày nào cũng vậy, võ sư Băng Sơn kể, ông được đại sư trực tiếp truyền thụ võ công. Tuy là vô cùng yêu mến nhưng đại sư là người rất nghiêm khắc trong việc dạy học trò.
Còn nhớ, khi mới vào, tiếp xúc với một số đồ đệ của đại sư, ai cũng bảo: “Ổng khó tính lắm! Lôi thôi là ông uýnh liền à!”. Và, võ sư Băng Sơn cũng không ngoại lệ. Tuy chưa bị “uýnh liền” nhưng Thanh Hư Chân Nhân đã ra với ông một điều kiện, các bài mà người dạy ngày hôm trước, hôm sau phải tinh thông cho kỳ được. Nếu không làm được như thế thì đại sư sẽ không dạy nữa và coi như duyên số giữa hai thầy trò đã đến ngày cạn phai.
Chỉ ít lâu theo đại sư Đoàn Tâm Ảnh, ông đã lãnh hội được toàn bộ Thập bát chưởng công, võ công cơ bản của Côn Luân Bắc phái. Theo võ sư Băng Sơn thì võ công của Côn Luân thiên về việc tu thân luyện sức, toát lên tinh thần nhân ái, các môn sinh thích sống cuộc đời ẩn dật, không phô trương.
Bởi thế, võ lâm giang hồ bảo, võ của Côn Luân là Võ tiên. Bởi còn công việc ngoài Bắc, nên khi đã thấm nhuần cái đạo của Võ tiên, thầy trò đành phải nói lời giã biệt. Năm 1991, nhân Đại hội Võ thuật toàn quốc lần thứ nhất, Thanh Hư Chân Nhân ra Hà Nội.
Tái ngộ nhau, hai thầy trò mừng mừng tủi tủi. Võ sư Băng Tâm kể, lần gặp gỡ ngắn ngủi ấy, đại sư đã trao cho ông cuốn Cẩm nang bí kíp. Đây là cuốn sách ghi lại đầy đủ những bí kíp võ công của môn phái Côn Luân, do đại sư tự tay mình chép lại.
Về cuốn sách đặc biệt này, võ lâm giang hồ xem như báu vật. Có giai thoại rằng, trước đó, đã có rất nhiều nhà xuất bản đến nài nỉ xin mua lại bản thảo với số tiền khổng lồ. Riêng nhà sách Khai Trí ở Sài Gòn đã trả cho đại sư 200 cây vàng nhưng ngài vẫn không chịu bán. Tiếp những nhà xuất bản ấy, đại sư chỉ bảo: “Sách quý, không bán được! Nhưng gặp ai, thấy thích, tôi sẽ tặng ngay!”.
Cũng trong lần gặp ấy, đại sư đã bảo ông rằng: “Ta 18 năm lang bạt học võ thì đến giờ đã truyền cho con được 9 năm rồi. Khi nào vào đó (Sài Gòn) ta sẽ truyền nốt 9 năm con lại cho con!”. Nghe lời dạy của đại sư, thu xếp ổn thỏa công việc, năm 1995, ông lại khăn gói vào Sài Gòn hội ngộ với sư phụ mình. Và, chuyến đi này, theo võ sư Băng Tâm, khả năng hấp thụ võ công của ông đã khiến Thanh Hư Chân Nhân vô cùng mãn nguyện.
Thọ giáo “Vương kiếm” Huyền Công Đạo

Ra Bắc, vừa tập trung sức lực gây dựng môn phái, võ sư Băng Sơn còn được “Vương kiếm” Huyền Công Đạo Trần Công quý mến chỉ giáo thêm. Nhờ sự tận tình ấy, ông đã lãnh hội được ở đại sư nhiều môn binh khí đặc dị và những bí pháp có một không hai.
Chuyện võ sư Băng Sơn diện kiến Huyền Công Đạo Trần Công giờ giới võ thuật vẫn truyền tai nhau như một giai thoại đẹp. Võ sư Băng Sơn kể, nghe tiếng tăm của cụ Trần Công đã lâu, đặc biệt là khả năng khí công siêu phàm của cụ, đã nhiều lần ông muốn thử.
Thế nhưng, ngại mình là bậc hậu sinh, lại thêm phần Huyền Công Đạo nổi tiếng kỹ tính nên loay hoay mãi mà ông chẳng biết chọn cách nào. Cho đến một buổi, sau hôm gặp đại võ sư ở Hội võ thuật Hà Nội, ông đã quyết định “diện kiến” sự cao thâm của bậc danh nhân làng võ ấy.
Ông lấy côn và tự đánh một đòn rất nặng vào tay trái của mình. Cú “tự xử” ấy khiến tay ông bầm tím, xưng vù. Ôm cánh tay đau đớn ấy, ông đã gõ cửa nhà Huyền Công Đạo. Võ sư Băng Sơn kể, hôm ấy, ông đã được mấy phen kinh ngạc.
Thấy bộ dạng của ông, Huyền Công Đạo như đã biết tỏng sự việc, nhưng ông vẫn vui vẻ mời ông vào. “Ông muốn ta phóng khí chữa vết thương phải không, được rồi, ông cứ ngồi nguyên đó, ta sẽ chữa cho!”. Nghe đại sư nói thế, biết là “âm mưu” của mình đã bị đại sư “bắt vị”, nhưng ông vẫn ngồi xuống và toan cởi bỏ hết áo rét để xem bậc trưởng lão… phóng khí chữa bệnh thế nào. Thế nhưng, việc ấy đã bị Huyền Công Đạo ngăn lại. “Không cần, ông cứ ngồi nguyên đó!”.
Lời của đại sư khiến ông rất kinh ngạc bởi hôm đó trời rét như cắt da cắt thịt nên ông đã ních vào người rất nhiều áo rét. Ngoài 2 chiếc áo len, ông còn khoác thêm cả chiếc áo Na- tô ở ngoài. Bởi ăn vận như vậy nên ông không thể tin lão võ sư có thể truyền khí xuyên qua ngần ấy áo để mà chữa thương cho mình.
Thế nhưng, lạ kỳ thay, sau khi vận khí, tay đại lão võ sư để cách vết thương của ông đến cả gang tay. Vậy mà, chỉ trong tích tắc, ông đã cảm nhận được sự thay đổi rõ rệt ở ngay tại nơi “mình tự làm mình khổ” ấy. Tay ông lúc thì nóng ran, lúc thì lạnh toát.
Chừng 3 phút sau, Huyền Công Đạo kết thúc công việc của mình. Và, thật bất ngờ, ngay sau đó, ông đã thấy tay mình tuyệt nhiên không còn đau đớn nữa. Vết thương thì chỉ qua đêm đó đã lành lại như chưa hề bị va đập gì.
Một lần xuất chiêu cả đời day dứt

Năm 1985, sau khi đi bộ đội về, võ sư Băng Sơn mở võ đường ở Hà Nội. Ông kể, cái thủa ban đầu cam khó ấy, để võ đường tồn tại được, ông đã phải nhiều lần đích thân đứng ra thi thố võ nghệ để giữ vững uy danh của võ đường.
Trong số những đối thủ ấy, có cả những kẻ cố tình phá đám, dẫm đạp lên tinh thần võ đạo. Thế nhưng, từ sau trận đấu với một võ sư ở quận Hoàng Kiếm, ông đã rất ăn năn, tự hứa với mình không bao giờ ra tay nếu thật sự thấy không cần thiết.
Võ sư Băng Sơn kể, nghe tiếng ông đã từng thọ giáo nhiều bậc đại sư tiếng tăm lừng lẫy, đặc biệt lại là đệ tử chân truyền của Băng Tâm sư phụ, Chưởng môn Lý Chấn Hòa, một võ sư cũng học thầy Tàu ở quận Hoàn Kiếm đã nhiều lần gửi lời thách đấu. Vị võ sư ấy lực lưỡng, sức mạnh thì kinh hồn, mỗi cú thôi sơn có sức nặng ngàn cân.
Để biểu diễn sức mạnh của mình trước võ lâm đồng đạo, vị võ sư ấy từng dùng tay trần đấm tróc vỏ cây. Khiêu chiến mãi không được, vị võ sư đó đành qua một người quen của ông mời ông tới nhà uống rượu. Nghĩ đó là sự ân tình, ông đã vui vẻ nhận lời.
Võ sư Băng Sơn kể, ban đầu cuộc rượu đó diễn ra rất vui vẻ, thế nhưng, rượu vào thì lời ra, chủ đề võ thuật lại được chủ nhà nhắc tới. Và, ông ta có những lời miệt thị, xúc xiểm đến việc mấy lần ông từ chối lời thách đấu. Cùng với sự chế nhạo đó, ông ta khoe những thế võ độc của mình.
Rượu cũng đã ngà ngà, trước sự khoe khoang vô lối của đối phương, võ sư Băng Sơn bảo, những thế võ đó, ông có thể hóa giải được. Và, ngay trong cuộc rượu đó, ông đã “diễn thuyết” cách thức phá chiêu của mình. Bị bóc mẽ, trước đám đệ tử của mình, gia chủ đã vô uất ức.
Ông ta bảo, Băng Sơn chỉ giỏi… võ mồm, còn quyền cước thì chẳng đến đâu. Vẫn bằng cái giọng khiêu khích, hợm hĩnh, ông ta thách người ngồi đối diện với mình ra sân thi đấu. Trước thái độ hỗn hào, quá quắt ấy, hơi men trong người đã làm võ sư Băng Sơn tức giận. Ông đứng phắt dậy, ra sân. Nhưng, với “thói quen” vốn có khi thi đấu của mình, võ sư Băng Sơn kể, ông vẫn nhường cho đối thủ tấn công trước 3 đòn.
Và, đúng như đã nói ở trong mâm rượu, hai đòn đầu, khi đối phương tung chiêu độc, ông đã lần lượt hóa giải và nhứ đòn vào những chỗ hiểm của đối phương. Đòn thứ ba cũng vậy, như mãnh thú say mồi, đối phương hùng hục lao tới, nhưng ông cũng nhanh chóng vô hiệu hóa chiêu thức ấy. Thế nhưng, đã quy ước trước, khi hai bên giao đấu, không được cố tình đánh vào những tử huyệt của nhau như yết hầu, mắt, hạ bộ… Thế nhưng, đòn thứ 3 này, đáng ra, khi đã bị triệt tiêu, vị võ sư kia phải dừng lại và coi như cuộc đấu đã phân biệt rõ kẻ thắng người thua.
Vậy mà, võ sư Băng Sơn kể, khi ông đã dừng đòn, bởi cay cú bất thình lình gia chủ chơi ngay đòn hiểm, xỉa thẳng tay vào mắt đối phương. Không đề phòng nên trước cú đánh bẩn ấy, ông chỉ kịp ngửa mặt tránh. Tuy thế, ngón tay của đối phương vẫn cầy rách mí mắt trái của ông. Sau cú đánh đó, tiện tay, gia chủ tung ngay một đòn như trời giáng vào vai trái khiến ông loạng choạng.
Biết đối phương quyết hạ độc thủ, hết đường lùi, ông quyết định phản đòn. Lấy lại thăng bằng, sau cú thôi sơn vào vai đối phương, chưa kịp thu tay về thì đã bị võ sư Băng Sơn túm lấy giật mạnh về phía trước. Võ sư Băng Sơn kể, khi đối phương lỡ chớn, lao theo cú giật đó thì ngay lập tức, ông lách sang bên rồi giáng luôn một đòn vào mang tai đối phương và tiếp theo là một đòn vào phần gáy.
Đồng thời với sê- ri đó là một cú gối thốc ngược lên phản đà đổ xuống của đối thủ. Dính 3 đòn liên tiếp, vị võ sư cao to ấy bật ngược ra phía sau và nằm bất động.
Võ sư Băng Sơn kể, vài tuần sau, có người đến tìm ông báo tin, vị võ sư ở Hoàn Kiếm đó sau lần tỉ thí với ông đã nằm liệt giường, không thể nào đi lại được nữa. Tin ấy làm ông giật mình, kinh hãi.
Có lẽ tại bởi uống rượu, bởi tức giận nên hôm đó ông đã xuống tay quá nặng và những cú đòn đó đã làm kinh mạch của đối phương bị tổn thương, sinh ra bại liệt. Ăn năn, hối hận, ông đã vội vàng đường sữa lên thăm. Gặp ông, vị võ sư đó đã thiểu não bảo: “Lỗi này do tôi, ông không phải bận tâm gì. Suốt mấy tuần qua, nằm suy nghĩ, tôi biết, với tính khí ấy của mình thì sớm muộn gì tôi cũng sẽ gặp cảnh này!”.
Theo võ sư Băng Sơn thì cho đến tận bây giờ, vị võ sư ấy vẫn phải sống cảnh liệt giường. Tâm sự với tôi, day dứt ông bảo, nếu có thể thì qua bài báo này, một lần nữa ông gửi lời xin lỗi tới vị võ sư đó và gia đình. Một lời xin lỗi tự đáy lòng mình.
Môn phái… nhường đòn

Sự day dứt ấy của võ sư Băng Sơn đã “ngấm” rất sâu vào phong cách dạy môn đồ. Nội quy môn phái, ông nhấn mạnh tinh thần võ đạo, ấy là không được dùng võ công để khuất phục người khác. Đặc biệt hơn, môn sinh của ông, nếu thi đấu với ai mà không được sự đồng ý của thầy thì coi như tự xóa tên mình ra khỏi môn phái.
Đặc biệt, tinh thần ấy đã “chuyển hóa” thành sự trượng nghĩa, nhân ái: Tất cả các môn đồ, nếu cực chẳng đã phải thi đấu thì dứt khoát phải nhường đối phương trước 3 đòn rồi mới được ra tay. “Quy chế” đó đã bất di bất dịch từ lâu lắm rồi!
Mấy lần tôi đến, trong căn nhà cấp 4 tuềnh toàng ở ngay cạnh hồ Thanh Nhàn, đều bắt gặp cảnh võ sư Băng Sơn đang loay hoay viết sách. Ông đang tập trung sức lực của mình để cho ra đời bộ sách Võ lâm Việt Nam tùng thư. Theo võ sư Băng Sơn thì đó là bộ sách ghi chép khá đầy đủ những chặng đường phát triển của võ học Việt Nam.
Đào Thanh Tuy
http://giaoduc.net.vn/xa-hoi/40-tin-nong/6604-cao-th-vo-vit-th-giao-i-s-va-trn-th-tai-cay-ng.html

Chủ Nhật, 30 tháng 3, 2014

CAO THỦ VÕ VIỆT: VÕ SƯ PHAN DƯƠNG BÌNH


Ông là võ sư cao cấp, một trong số ít các võ sư được giới võ thuật bầu chọn là danh nhân làng võ Việt Nam. Võ lâm giang hồ đồn rằng, ông luyện được tuyệt kỹ “Xúc cốt công” nên trong chốc lát có tự co rút xương, khiến cơ thể mềm oặt, có thể thu mình nằm gọn gàng trong... rổ bún. Bởi thế, suốt mấy chục năm trời, võ lâm đồng đạo gọi võ sư Phan Dương Bình, cao thủ môn phái Vịnh Xuân, bậc trưởng lão của Vovinam phía Bắc bằng cái tên thân mật Bình “bún”. 
 
Cao nhân đến từ phương Bắc
 
Võ sư Phan Dương Bình sinh năm 1929, là người Việt gốc Hoa, (bởi thế mọi người còn gọi ông bằng cái tên Trung Quốc là Xếnh Xáng.
 
 
Võ sư Phan Dương Bình (bên phải ảnh)
Võ sư Phan Dương Bình (bên phải ảnh)
 
 
Ông trông không giống người học võ bởi vóc thái thư sinh. Nếu không có sự giới thiệu của các võ sư thì khi gặp, tôi cứ ngỡ ông là một ông giáo nghỉ hưu, đang thảnh thơi an hưởng tuổi già. Mê truyện kiếm hiệp từ nhỏ nên suốt thời niên thiếu, ông ước ao được hoá thân thành những nhân vật trượng nghĩa như trong truyện. May mắn lớn trong đời, ông đã được nhận làm đệ tử của một cao thủ đệ nhất: Thầy Tế Công của môn Vịnh Xuân quyền. 
 
Có lẽ, trong số các võ sư người Trung Quốc lánh nạn dạt đến Việt Nam thì võ sư Tế Công là người nổi tiếng và có nhiều công lao nhất. Nhờ có ông mà các võ sinh người Việt biết đến một võ phái lừng danh, và cũng nhờ có ông mà Vịnh Xuân Việt Nam đã có những viên gạch vững chắc đầu tiên. 
 
Cụ Tế Công tên đầy đủ là Nguyễn Tế Công, là sư huynh của danh sư Diệp Vấn, Chưởng môn phái Vịnh Xuân ở Hồng Kông (tôn sư của võ sĩ, hiện tượng điện ảnh Lý Tiểu Long. Như vậy Tế Công là sư bá của Lý Tiểu Long). Với vị sư tổ của môn phái Vịnh Xuân Việt Nam này, thì võ sư Phan Dương Bình có rất nhiều kỷ niệm dù người đã đi xa cả nửa thế kỷ rồi. 
 
Năm 1907, võ sư Tế Công đến Việt Nam. Ban đầu, bởi muốn che giấu thân phận, vị võ sư tiếng nổi như cồn ở Trung Quốc ấy đã không truyền dạy võ nghệ cho ai. Thế nhưng, ngặt nỗi gia sản của bậc cao nhân ấy ngày một sa sút. Ngày ấy, ở Hàng Buồm, cửa hàng thuốc của gia đình cụ Trần Thúc Tiển đang thời bán buôn gặp nhiều phát đạt nên của ăn của để dôi dư.
 
Thấy cảnh ngộ cụ Tế Công bần hàn, cụ Tiển đem lòng thương xót. Cụ Tiển thường qua lại thăm hỏi và giúp đỡ luôn.
 
Cụ Tiển mắc chứng lao mãn tính, thuốc thang đã nhiều mà bệnh tình chẳng hề thuyên giảm. Chứng nan y ấy làm thân thể cụ héo mòn, đỉnh điểm trọng lượng cơ thể chỉ xấp xỉ 35 kg. Thấy người thật lòng hậu đãi mình vướng vào bạo bệnh, sau nhiều đêm đắn đo, cụ Tế Công đã quyết định dạy võ cho cụ Tiển, bởi từ khi ra đời, nội công của Vịnh Xuân đã chiến thắng nhiều căn bệnh nan y. 
 
Và, thật diệu kỳ, chỉ sau một thời gian luyện tập, bạo bệnh vốn hành hạ cụ Tiển bao nhiêu năm đã bị đẩy lùi. Và, cũng từ khi dạy võ cho cụ Tiển thì cụ Tế Công mới bắt đầu nhận đệ tử để truyền thụ những tinh hoa võ học mà mình có được. 
 
Buổi tiếp khách có một không hai
 
Vịnh Xuân thiên về nhu, lấy nhu chế cương và phân biệt rạch ròi giữa nội công và nội lực. Nội công là khả năng chịu đòn, nội lực là lực đánh ra. Cả hai thứ trên, trong làng võ hiếm môn phái nào sánh kịp. Theo cụ Tế Công, học võ chỉ vỏn vẹn 2 năm nhưng những khả năng siêu phàm ấy của sư phụ mình, đến giờ, lão võ sư Phan Dương Bình vẫn còn ấn tượng. 
 
Ông kể, đã có lần, với nội lực kinh hoàng, chỉ một chưởng, cụ Tế Công đã đánh bật một bao tải gạo nặng đến gần 2 tạ văng tuột cả bốn năm thước từ đầu bàn này sang đầu bàn kia. Lần nữa, ở ngay nhà cụ Tế Công, ông đã được tận thấy sức mạnh kinh hoàng của sư phụ mình. Hôm ấy, nhác thấy hai người Tàu đang ngáo ngơ trên phố, cụ Tế đã vẫy ông và bảo: “Pha cho thầy ấm trà ngon, sắp có khách quý!”. 
 
Quả như lời thầy, khi chén trà nóng hôi hổi vừa được rót ra thì hai vị khách người Tàu đã đứng ngay trước mặt. Cầm chén nước trên tay, cụ Tế cung kính mời khách theo đúng nghi thức của người Trung Hoa. Thế nhưng, đó chẳng phải là kiểu mời nước bình thường. Chủ tay nắm chặt chén nước, khách thì phùng mồm trợn mặt bóp chặt tay chủ phía ngoài.
 
Chủ vẫn vẻ mặt điềm nhiên, nói nói cười cười tiến ra cửa và đẩy khách ra theo. Bị đẩy, người khách thứ hai vội vã nhảy vào tiếp sức nhưng cũng chẳng thấm tháp gì. Cả hai bị chủ dồn ra tận ngoài cửa, trong khi chén nước trên tay chủ vẫn không hề sóng sánh. Đến khi ấy thì hai vị khách phải nhượng bộ, nhảy dạt sang hai bên và chắp tay, nói những lời khâm phục. 
 
Lão võ sư Phan Dương Bình kể, khi mời khách trở lại nhà, trò chuyện, ông được biết, hai vị khách ấy 10 năm trước, trong cuộc tỉ thí đã bị sư phụ Tế Công đánh bại. Mười năm, họ đã dồn hết tâm trí, sức lực để luyện võ và lặn lội khắp nơi để tìm cụ Tế, những mong trả được mối hận năm nào. Thế nhưng, chỉ bằng động tác thử trên, họ đã biết, võ công của mình còn kém cụ Tế rất nhiều. 
 
Nối gót sáng tổ Nguyễn Lộc phát dương Việt Võ đạo
 
Cụ Tế Công có người bạn thân là Chung Cảnh Vân, cũng một cao thủ của đất võ Trung Hoa, thuộc phái Thiếu lâm Hồng gia. 
 
Cụ Chung thích phiêu bạt giang hồ, bởi vậy, khi thấy bạn mình tới Việt Nam, ngay lập tức cụ Tế đã giới thiệu ông tới học để mở mang thêm kiến thức. Chung sư phụ là người có cá tính, nóng nảy. Lão võ sư Phan Dương Bình kể, tuy là chỗ thâm giao (rất nhiều lần Chung sư phụ đến tận nhà ông để uốn nắn võ nghệ) nhưng là người nghiêm khắc nên sư phụ ông vẫn giáo cậu học trò cưng của mình vô cùng khắt khe. Chỉ nguyên chuyện đứng tấn thôi mà đến giờ nghĩ lại ông vẫn còn... thấy hãi. 
 
Bắt cậu học trò đứng như tượng gỗ ở một góc, Chung sư phụ cứ thế mải mê cuộc cờ, chén rượu. Ấy vậy mà nếu cậu học trò chân tay rã rời mà nhúc nhích là y rằng... ăn chưởng. 
 
Truyền thụ vừa hết những công phu của mình cho cậu học trò ham học thì bởi lý do riêng, cụ Chung phải về Trung Quốc. Thầy trò chia tay nhau, nước mắt vắn dài. 
 
Như cánh chim không biết mỏi trên bầu trời võ thuật, muốn hấp thụ thêm những tinh tuý võ công của các môn phái khác, ông quyết định bôn ba tiếp trên con đường tầm sư học đạo. Lúc này, ở Hà Nội, danh tiếng của võ sư Nguyễn Lộc, sáng tổ môn phái Vovinam - Việt võ đạo đang nổi như cồn. 
 
Võ sư Nguyễn Lộc, sinh năm 1912 tại làng Hữu Bằng, Thạch Thất, Hà Tây. Dựa trên môn võ vật cùng các môn võ cổ truyền của Việt Nam, chắt lọc những tinh hoa của võ thuật trên thế giới, cụ đã phát triển một môn phái võ rất riêng lấy tên là Vovinam, ra đời năm 1938. 
 
Lão võ sư Phan Dương Bình kể, tìm hiểu, thấy tinh thần vẻ vang của Vovinam và của võ sư Nguyễn Lộc rất phù hợp với mình, ngay lập tức ông khăn gói tìm đến võ đường đang là nơi sinh hoạt của rất nhiều thanh niên Hà thành ấy. Ngay buổi đầu tiếp xúc, võ sư sáng tổ của môn phái giờ đã nổi tiếng khắp năm châu đó đã vô cùng quý mến ông. 
 
Thấy ông đã có căn bản, quyền cước thì vô cùng uyển chuyển, võ sư Nguyễn Lộc đã mời ông lưu lại ngay tại nhà mình để rèn dạy và phụ trách việc trợ giảng. Võ sư Nguyễn Lộc hơn ông 18 tuổi, tuy danh nghĩa là thầy trò nhưng chỉ ít bữa biết nhau, hai người đã tình thâm như ruột thịt. 
 
Những ngày ở bên võ sư Nguyễn Lộc, ông không những được trau dồi rất nhiều kiến thức võ học uyên thâm mà còn học được ở người thầy, người anh ấy rất nhiều đức tính quý báu mà cả đời ông sẽ chẳng thể nào quên. Có lần, tâm sự, võ sư Nguyễn Lộc đã nói với ông rằng: “Là võ sinh thì phải tôn thờ danh dự võ sĩ Việt Nam. Hiểu biết nhiệm vụ và nguyện hi sinh cho lý tưởng của người võ sĩ, xứng đáng với tên gọi vì nghệ thuật và nhân loại.”. 
 
Cuộc thượng đài chấn động bất thành
 
Trước năm 1954, trước làn sóng đấu tranh sôi nổi của thanh niên Việt Nam, thực dân Pháp đã đứng ra thực hiện rất nhiều hoạt động thể thao, mục đích là ru ngủ phong trào quần chúng. Bởi thế, tại Hà Nội, các võ đài mọc lên ở khắp nơi và cũng thu hút rất nhiều cao thủ từ khắp mọi miền về tranh tài, thi thố. 
 
Những võ đài ấy không những có sức hút với các võ sĩ trong nước mà còn hấp dẫn cả những cao thủ nước ngoài. Với các võ sĩ ngoại quốc, khi được nhà cầm quyền bật đèn xanh, họ đến Việt Nam không chỉ là tìm đối thủ để tranh tài, phân biệt cao thấp mà còn biến đó thành cơ hội để kiếm bộn tiền. 
 
Mỗi trận thượng đài của họ đều tổ chức bán vé và thu hút rất nhiều khán giả tới xem. Với chủ đích trên, khoảng đầu năm 1953, hai anh em võ sư nổi tiếng ở Hồng Kông là Vương Bang Phu, Vương Bang Dân cũng tìm về Hà Nội. 
 
Trong hai anh em thì Vương Bang Phu sức khoẻ phi thường. Đại lực sĩ này có thể vật ngã cả con bò mộng, tay không bẻ cong nhíp ô tô, kê ván trên người để mấy chục khán giả trèo lên nhún nhảy mà mặt vẫn không hề biến sắc. 
 
Người em Vương Bang Dân thì thân thủ nhanh nhẹn, quyền thuật biến ảo khôn lường. Tại Hông Kông, suốt gần chục năm, hai anh em thượng đài mà vẫn chưa tìm ra đối thủ. 
 
Bởi thế, đến Hà Nội, thách đấu đã vài ngày mà chưa tìm thấy ai nhận lời thách đấu, Phu, Dân đành dùng kế khích tướng và cũng là để lôi kéo khán giả đến xem những trận thượng đài của mình. Hai anh em Vương đã loan tin rằng, họ vừa đánh gục thần tượng của thanh niên thủ đô, võ sư Nguyễn Lộc. Tin ấy truyền đi khắp mọi nơi khiến nhiều người, dù biết là tin vịt vẫn vô cùng phẫn nộ. 
 
Tại võ đường của Vovinam, là người điềm đạm nên võ sư Nguyễn Lộc chẳng chút bận tâm tới sự hỗn hào của hai võ sĩ ngoại quốc. Tuy thế, các học trò của ông, đặc biệt là võ sư Phan Dương Bình thì hết sức bức xúc, nằng nặc đòi rửa nhục cho thầy, cho môn phái. Và, bí mật, ông đã tìm hai anh em họ Vương để nhận lời thách đấu. 
 
Thông tin ấy ngay lập tức thành đề tài nóng hổi của báo giới trong nước và nước ngoài. Dân tình sôi sục, chờ mong đến ngày hổ đấu, long tranh. Sự căng thẳng của trận đấu trên đã khiến nhà chức trách lo lắng và ngay lập tức phải nhảy vào can thiệp. 
 
Ngay trước ngày thượng đài, võ sư Phan Dương Bình bị nhà cầm quyền bắt nhốt. Vậy là, trận đấu được rất nhiều người mong đợi trên đành phải huỷ bỏ. Võ sư Phan Dương Bình kể, biết đã đụng chạm đến tinh thần thượng võ của người Việt nên ngay ngày ông bị bắt nhốt thì hai anh em Phu, Dân gửi lời xin lỗi chính thức đến ông, đến võ sư Nguyễn Lộc và toàn thể những người học võ ở Hà Nội. Lời xin lỗi đó được đăng tải trên khắp các mặt báo khiến dư luận được một phen hả hê, phấn khích.
 
Một ngày chịu hàng ngàn cú đấm
 
Sau sự nổi tiếng của hiện tượng Lý Tiểu Long vào thập niên 70 của thế kỷ trước, Vịnh Xuân quyền đã được rất nhiều môn sinh theo học. Và, trên khắp thế giới, rất nhiều những võ đường của Vịnh Xuân đã được khai trương. Thế nhưng, ngoài cái nôi là Trung Hoa, chỉ có hai nơi Vịnh Xuân thu gặt hái được nhiều thành công, hội tụ nhiều cao nhân nhất, đó là Hồng Kông và Việt Nam. Điều ấy đã được danh sư Tế Công thừa nhận khi ông rời Hà Nội vào Nam sinh sống. 
 
Lúc chia tay, nhìn sự trưởng thành của đám học trò mình, buột miệng ông bảo: “Vịnh Xuân đã sang Việt Nam mất rồi!”. Ở Hồng Kông, sư đệ của cụ Tế Công là danh sư Diệp Vấn cũng đưa Vịnh Xuân phát dương quang đại với Vịnh Xuân Hồng Kông. Tại chi phái này, ngoài Lý Tiểu Long, tông sư Diệp Vấn còn có một đệ tử chân truyền, tiếng tăm lừng lẫy là Ngũ Sáng. Ngũ Sáng có trưởng tràng là Trần Nghị Khiêm, một thần đồng võ thuật.
 
Lão võ sư Phan Dương Bình kể, 15 năm trước, Trần Nghị Khiêm có đến Việt Nam. Và, người đầu tiên mà Trần sư phụ muốn gặp là lão võ sư Phan Dương Bình. 
 
Ông Bình kể, Trần Nghị Khiêm là người cao lớn, quyền thuật nặng tính cương. Hai người đã vài lần thử sức, nhưng bất phân thắng bại. Sau những trận thử tài ấy, khâm phục về nội công của người đồng môn, Trần Sư phụ đã nhờ ông chỉ giáo.
 
Lão võ sư Phan Dương Bình giờ có nhiều học trò, không chỉ ở trong nước mà còn ở nhiều nơi trên thế giới. Họ là những người ngưỡng mộ Vịnh Xuân nên tìm về Hà Nội. 
 
Lão võ sư bảo, người Tây học võ thực dụng hơn người Á Đông, bởi thế, trước khi bái ai đó làm sư thì họ thường... thử luôn tài sức của người đó. Từ năm 1982, khi phong trào võ thuật của Hà Nội được khôi phục đến giờ không biết bao nhiêu lần ông được (bị) các võ sinh phương Tây thách đấu. Sau tất cả các cuộc thử tài ấy, ông đều nhận được thêm những đệ tử một lòng hướng về võ thuật chân chính. 
 
Năm 1995, một câu lạc bộ võ thuật nổi tiếng ở Đức, sau khi cho thành viên của mình sang Việt Nam thăm dò, đã mời đích thân ông sang đó dạy võ. Cuộc “ly hương” này đến giờ nhiều người vẫn còn ấn tượng và được nhiều tờ báo lớn ở Đức đăng tải. Tại đó, với nội công siêu phàm của mình, ông lão võ sư tuổi đã ở ngưỡng xưa nay hiếm ấy đã lên một lịch tập kinh hoàng. Từ 14 giờ đến 18 giờ mỗi ngày, các môn sinh lực lưỡng có thể thoải mái tung hàng ngàn cú đấm vào thân 
 
Kỹ năng “thần đả”
 
Bây giờ, tuổi đã gần 80 nhưng lão võ sư Phan Dương Bình vẫn còn nhanh nhẹn lắm. Gặp ông tại căn gác yên tĩnh tại phố Hàng Bạc, ông bảo, chính nghiệp võ đã cho ông một sức khoẻ dồi dào. 
 
Sáng nào cũng vậy, cứ như đồng hồ, 3 giờ sáng đã thấy ông ngồi dậy với bài khí công quen thuộc. Khí lực siêu phàm, như nhiều cao thủ Vịnh Xuân khác, tuổi ấy, ông vẫn có thể để mọi người thẳng tay nện hết sức vào người mà sắc mặt vẫn không hề suy chuyển. 
 
Về quyền cước, hiện tại, ông cho biết, kỹ năng của ông đã đạt tới mức “thần đả”, đỉnh giới cao siêu của võ thuật. Đỉnh giới ấy là “tâm ứng thủ”, nghĩa là nghĩ ra đòn ở bộ phận nào thì lực đã có sẵn ở bộ phận đó, không cần vận đà nhiều. Luyện tới đỉnh giới đó thì người võ sư chỉ cần nghĩ ra động tác, chiêu thức thì ngay lập tức chân tay thực hiện chính xác, thành công chứ không cần qua tập luyện. 
 
Tuổi cao, nhưng ông còn rất nhiều dự định với nghiệp võ của mình. Tâm sự, ông bảo, ông rất thần tượng Hoắc Nguyên Giáp, một võ sư nổi tiếng của Trung Quốc. Vị võ sư ấy bằng tài năng đã dựng lên Tinh võ quán oai danh một thuở và hội tụ nhiều võ sư tài nghệ cao thâm.

Đào Thanh Tuy
http://giaoduc.net.vn/xa-hoi/40-tin-nong/6914-cao-th-vo-vit-ngi-hc-tro-yeu-ca-s-ba-ly-tiu-long-k-vii-.html

Thứ Ba, 25 tháng 3, 2014

CAO THỦ VÕ VIỆT: HUYỀN CÔNG ĐẠO TRẦN CÔNG LÃO SƯ

 
Ngoài cặp song kiếm vô địch hùng bá trên võ đài suốt bao năm, lão võ sư huyền thoại này còn làm chủ 20 binh khí và nhiều ám khí độc môn hiếm có trên đời.
 
Làng võ nói về Huyền Công Đạo Trần Công, Nguyên chủ tịch Hội đồng cố vấn tối cao của Hội võ thuật Hà Nội, thế này: Từ thủa nhỏ, ông đã được sư phụ người Trung Hoa rèn cặp nên vũ thuật kinh hồn, nhất là khi thi triển Song hổ vĩ côn, Tam tiết côn, Không động kiếm, Cửu long tiên, Huyết kỳ... Lão võ sư là một cây đại thụ, một tên tuổi lẫy lừng trong làng võ Việt, luận về võ học thì là bậc kỳ tài, thiên hạ ít người sánh kịp... Chính bởi công phu xuất chúng nên lão võ sư Trần Công đã nhiều lần được biểu diễn võ cho Bác Hồ xem, thậm chí còn được Người bất ngờ vào tận nhà ân tình thăm hỏi.



Cao nhân ẩn tích
 
Tuy tên tuổi lẫy lừng nhưng trong số những võ sư cao thủ mà tôi đã may mắn được gặp thì lão võ sư Trần Công là người... khó tìm nhất. Ông mai danh ẩn tích đã hơn chục năm nay. Hỏi nơi ở của ông, người thì bảo, đã đến nhà rất nhiều lần, nhưng chính bởi cái sự thân thuộc ấy nên chẳng ai nhớ số nhà. Người khác thì lại nói, bởi lão võ sư thích lang bạt giang hồ nên duyên số gặp nhau... ngoài đường chứ nhà ở đâu thì không được biết. 
 
Chính bởi sự quy ẩn lạ lùng ấy mà nhiều năm nay, nhiều môn sinh mến mộ ông đã nháo nhác kiếm tìm ông khắp nơi những mong được ông chỉ giáo, san sẻ cho ít nhiều những tinh hoa võ thuật mà ông đã cần mẫn gom góp cả đời, mà vẫn không gặp được. 
 
Điện thoại khắp nơi, tôi cũng kiếm được một thông tin... mù mờ: Có người đã từng gặp lão võ sư ở gần dốc Tam Đa, đường Hoàng Hoa Thám. 
 
Lang thang tìm kiếm ở đó suốt mấy ngày trời, mới hay rằng, trước đây lão võ sư từng sống ở đó, nay chuyển nhà đi đâu thì không ai biết. Mãi sau này, may mắn được lão võ sư Phan Dương Bình (làng võ còn gọi là Bình “bún”, môn phái Vịnh Xuân, Vovinam) và võ sư Nguyễn Ngọc Nội (phái Vịnh Xuân) giúp đỡ, tôi mới biết được nơi ở mới của bậc tiền bối tài danh. 
 
Sau cuộc họp Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Hà Nội, hỏi các đồng đạo, võ sư Nội đã điện thoại báo rằng, lão võ sư Trần Công ở dốc Liễu Giai, gần sân Quần Ngựa. Ra tận nơi hỏi, nhưng lạ lùng thay, lão  võ sư nổi tiếng thì không ai biết, chỉ biết một ông già tuổi trạc 90 da dẻ hồng hào vẫn thường hay đạp xe qua lại. Đoán rằng ông cụ khoẻ khoắn ấy đích thị là người tôi muốn gặp nên tôi đã vội vàng tìm tới tận nhà. Cơ duyên, người như tiên như phật ấy chính là lão võ sư.
 
“Chú khách” kỳ dị
 
Lão võ sư đón tôi trong căn phòng chật chội, trên tường, xung quanh chiếc giường một, treo chi chít những binh khí, nào côn, nào kiếm, thứ nào cũng bóng nhẫy mồ hôi. 
 
Ông bảo, đó là những bảo vật kỉ niệm của cả cuộc đời theo đuổi nghiệp võ của ông. Tuổi đã 90 nhưng lão võ sư còn tráng kiện lắm. Nhìn ông, tuyệt nhiên không thấy dấu hiệu gì của bệnh tật. Ông theo nghề võ từ năm lên 8 tuổi. Ông bảo, với võ thuật, ông như có duyên tiền định. 
 
Sinh ra ở Nam Định, thế nhưng vì đói, mẹ ông đã cho ông vào thúng, quẩy đi khắp nơi bởi cuộc mưu sinh. Bát cơm, manh áo đã đưa hai mẹ con ra Hà Nội, trọ ở xóm Dinh, làng Vạn Bảo bây giờ. Hai mẹ con sống qua ngày bằng thúng ốc luộc mà mẹ ông tần tảo đội trên đầu đi bán rong khắp phố.
 
Năm ông lên 8 tuổi, có chút vốn, mẹ ông mở sạp hàng sáo ngay tại nhà. Ông tung tăng phụ giúp bà bán hàng, khi rảnh lại cùng đám bạn cùng tuổi mải mê đánh khăng, đánh đáo ngay trước cửa nhà. 
 
 

 
 
 
Ông còn nhớ lắm, nhà ông khi ấy ở tận cuối con ngõ vắng vẻ, vậy mà hầu như hôm nào cũng thấy “chú khách” (người Trung Quốc) quẩy đôi xọt thuốc qua, rao bằng cái giọng lơ lớ: “Ai thuốc đê!”. Mỗi lần đi qua chỗ ông và đám bạn đang chơi, chú khách lại dừng bước, rồi cứ thế, đứng nhìn ông đăm đăm. 
 
“Chú khách” là người tốt bụng, mặc dù suốt ngày nhễ nhại mồ hôi với gánh thuốc trên vai, nhưng “chú” chỉ bốc thuốc và chữa bệnh không công. Ông chưa từng thấy “chú khách” lấy tiền của ai bao giờ. 
 
Một trưa, trời nắng như đổ lửa, dừng chân trước nhà ông, sau khi ngắm nhìn ông vẫn ánh mắt đăm đăm ấy, “chú khách” bỗng quay sang mẹ ông hỏi: “Trời nắng tôi khát quá hà. Bà cho tôi xin hớp nước cho đỡ khát à!”. 
 
Nói vừa dứt câu, chẳng cần biết chủ nhà đồng ý hay không, “chú khách” đã quẳng đôi sọt thuốc, chạy ào về phía sau nhà, nơi có chum nước mà mẹ con ông vẫn dùng để thổi nấu. Thấy vậy, mẹ ông đã hoảng hốt: “Không uống nước ở đó được đâu bác ạ! Đau bụng chết, bác vào đây, nhà tôi có nước chè xanh!”. Vừa nói, mẹ ông vừa rót bát nước chè khói vẫn còn nghi ngút. 
 
“Bà tốt quá à! Thật ra, tôi vào đây không phải để xin nước đâu à!”. “Chú khách” đáp lời mặt đầy bí ẩn. “Thế bác không khát nước à?! Bác vào đây làm gì vậy?”. Mẹ ông hốt hoảng hỏi. “Tôi thấy bà có đứa con tốt quá à! Tôi muốn xin nó về làm con nuôi à?!”. 
 
Nốt ruồi son đặc chủng
 
“Không! Không được đâu! Tôi có mỗi mình nó thôi!”. Mẹ ông phản đối quyết liệt nguyện vọng của vị khách vừa thân quen lại vừa xa lạ ấy. “Không, tôi không mang nó đi đâu đâu! Tôi chỉ muốn nhận nó làm con nuôi để giáo nó thôi à!”. 
 
“Giáo nó, bác định giáo nó cái gì?”. Mẹ ông xuôi giọng. “Tôi muốn dạy võ cho nó. Dạy võ cho nó khoẻ, không bị ai bắt nạt nữa à! Mấy lần nhìn nó, tôi biết nó là nhân tài để luyện võ đấy à. Nó có một nốt ruồi nhỏ ở trên thái dương bên trái đấy, nốt ruồi ấy là tốt lắm à!”. 
 
Thấy “chú khách” nói về đặc điểm kỳ lạ của cậu con trai mình, mẹ ông vội vàng kéo ông lại, vén mớ tóc bờm xờm cạnh tai trái của ông lên. Bà giật mình khi biết “chú khách” nói chẳng sai. Ông có một nốt rồi son ngay giữa thái dương bên trái, nốt ruồi ấy bấy lâu tóc che kín, chẳng để tâm nên bà cũng không hề hay biết. Nghĩ đây là ý trời, vả lại, bấy lâu thấy “chú khách” là người tốt bụng, đường hoàng, nên bà đã gật đầu đồng ý. 
 
Sau bữa ấy, “chú khách” ghé qua nhà ông luôn. Mỗi lần đến thăm, “chú” chỉ xoa đầu, nắn tay nắn chân ông chứ chẳng dạy võ thuật như là đã nói. Mãi vài tháng sau, khi tình cảm giữa “chú” và mẹ con ông đã trở lên thân thiện, “chú” đã xin mẹ ông để “chú” được đưa ông về Hàng Buồm, nơi có cửa hàng thuốc và gia đình “chú” ở. 
 
Ngay hôm đầu tiên, “chú khách” đã gọi các con của mình lại và bảo họ biểu diễn võ thuật cho ông xem. Nghe lời cha, mấy đứa con lau nhau của chú khách lao vào thử tài nhau bằng những chiêu thức võ thuật vô cùng đẹp mắt. Xem bọn họ đánh nhau, ông thích lắm. Nhận ra vẻ thích thú của ông, “chú khách” khẽ gật đầu, ra chiều vô cùng mãn nguyện. Bữa ấy, “chú khách” cũng vẫn chưa dạy võ cho ông mà ngay lập tức lại đèo ông về bằng chiếc xe đạp bóng loáng.
 
Trên đường đi, “chú khách” đã nói với ông rằng: “Sang Việt Nam, mục đích của ta là không phải đi bán thuốc đâu à! Ta muốn đi tìm một đệ tử chân truyền. Tìm được con rồi, ta muốn con chăm chỉ luyện tập theo tất cả những gì ta chỉ bảo! Con nhớ không!”. 
 
Hồi ấy, còn bé, nghe “chú khách” nói thế nào thì ông chỉ biết gật đầu thế đó chứ biết gì về hoài bão của người thầy đến từ Trung Quốc xa xôi. Sau này, khi lớn hơn một chút, ông mới biết “chú khách”, người đã coi ông như con, suốt đêm ngày truyền thụ cho ông những tinh hoa võ học chính là Mao Diệp Xi, giang hồ còn gọi là Xần Xi, là đệ tử nổi danh của môn phái Không Động, một môn phái lừng lẫy ở Trung Hoa đại lục. 
 
Vì những biến cố của đất nước, Mao sư phụ đã phải đem gia đình sang sinh sống ở Hà Nội. Đã nhận nhiều đệ tử, nhưng chưa tìm được bậc kỳ tài, sợ những bí kíp võ công của môn phái mà mình đã dày công tu luyện bị thất truyền nên Xần Xi đã phải mượn gánh thuốc, đi triệu bước chân lang thang khắp nơi để tìm người nối nghiệp. 
 
Bắc tiến
 
Từ hôm đó, chiều nào cũng vậy, Mao sư phụ đạp xe đến tận nhà để đón ông về Hàng Buồm luyện võ. Thời gian đầu, Mao sư phụ chỉ dạy ông mỗi hai “chiêu thức” vô cùng đơn giản ấy là xoay bi và đẩy bóng. Đưa cho ông những viên bi sắt to như quả quýt, Mao sư phụ bảo, cứ vê, xoay chúng trong lòng bàn tay, khi thì một, lúc thì hai, khi nữa thì ba viên liền lúc. 
 
“Chơi” với bi chán thì quay sang đẩy bóng. Những quả bóng cao su rất lạ, thứ đó ông cũng không biết sư phu mình kiếm từ đâu. Mới đầu, Mao sư phụ bảo ông phải đẩy, ép quả bóng nhỏ nhất vào tường. Khi quả bóng đó bị lực từ tay ông đẩy, ép chặt hai mặt vào nhau thì mới thôi. 
 
Đẩy được hai tay thì chuyển sang dùng một tay. Những quả bóng cứ to dần lên theo thời gian ông luyện tập. Gần hai năm sau, khi mà đứng kẹp giữa hai bức tường, hai bên là hai quả bóng to nhất, dùng lực, ông đẩy chúng bẹp dúm sát tường thì Mao sư phụ mới bắt đầu dạy ông quyền cước. 
 
Cứ thế, thời gian thấm thoắt thoi đưa, năm ông 12 tuổi, ông đã thông thạo tất cả những chiêu thức võ thuật mà Mao sư phụ truyền dạy. Luyện võ 10 năm mà không luyện khí thì cũng coi như chưa từng biết võ, điều này thì những đệ tử của Không Động, môn phái thiên về nội công rành hơn ai hết. Bởi thế, muốn rèn rũa “viên ngọc quý” của mình được toả sáng muôn bề, Mao sư phụ đã đi đến một quyết định quan trọng: Đưa cậu học trò cưng về Trung Quốc. Theo Mao sư phụ thì ở quê hương ông có một nơi luyện khí công vô cùng lý tưởng, đó là đỉnh Thái Sơn, cách nơi ở cũ của ông vài chục cây số.
 
Vậy là, dù không muốn phải xa đứa con duy nhất của mình, nhưng trước sự tận tình của Mao sư phụ, mẹ ông cũng đành gạt lệ tiễn ông đi.
 
Luyện nội công ở đỉnh Thái Sơn
 
Nhà Mao sư phụ ở huyện Tân Hội, tỉnh Quảng Đông. Lão võ sư Trần Công bảo, đến giờ, ông vẫn còn nhớ như in ngôi nhà số 3 phố huyện ấy. Sang đến nơi, ông mới biết mình có rất nhiều sư ca, sư tỉ. Thấy Mao sư phụ về, họ đã lũ lượt kéo đến nhà chúc mừng. Thấy ông lanh lẹ lại rất đỗi hồn nhiên, nói tiếng Trung Quốc thì ngô nghê nên họ rất thích. Họ chiều chuộng ông hệt như cậu út trong nhà. 
 
Tại đây, ông được Mao sư phụ đặt cho một cái tên Trung Quốc: Xần Cóng. Và, cũng tại đây, ngày nào cũng vậy, khi trời mới tờ mờ sáng, Mao sư phụ đã kéo ông dậy, rồi bằng xe đạp, đèo ông vượt mấy chục cây số tới núi Thái Sơn. Để xe dưới chân, hai thầy trò chạy bộ lên đỉnh núi. Nơi chân mây ấy, hai thầy trò mải miết luyện khí công, hệt như... đôi bạn tri âm. Khi mặt trời khuất bóng, thầy trò mới ngừng việc luyện tập, xuống núi và thầy lại đèo trò về. 
 
Đến giờ, lão võ sư Trần Công không thể nhớ chính xác mình đã luyện võ với Mao sư phụ ở Trung Quốc bao nhiêu năm. Chỉ biết, khi đi ông còn là một cậu bé ngây ngô, khi trở về thì đã là một chàng trai cường tráng, sức mạnh phi thường. 
 
Ngày ấy, bởi nhớ thương đứa con độc nhất, mẹ ông đã mấy lần biên thư gọi ông về. Thương mẹ, ông đành lưu luyến tạm biệt người thầy khả kính. Trước hôm lên đường trở về Việt Nam, trước mặt tất cả các đệ tử của mình, Mao sư phụ đã gọi ông lại mà rằng: “Tất cả những tuyệt kỹ võ công, ta đã dạy cho con hết cả. Con phải nhớ rằng, sau này khi ra đời, không bao giờ được dùng võ để chèn ép mọi người. Nếu làm trái lời thì đừng bao giờ nghĩ đến ta nữa!”. 
 
Cũng buổi ấy, Mao sư phụ đã làm một việc khác thường, ấy là đặt cho ông pháp danh Huyền Công Đạo. Việc đặt pháp danh đó, từ trước đến nay, Mao sư phụ chưa từng ưu ái với bất cứ đệ tử nào...
 
Ông về Việt Nam được ít lâu thì Mao sư phụ mất. Theo các sư ca, sư tỉ của ông nói lại thì khi hấp hối, Mao sư phụ đã luôn miệng gọi tên ông. Theo nguyện vọng của Mao sư phụ là muốn được về phương Nam thăm ông, người đệ tử hiếu đễ, tài ba, các sư ca của ông đã tiễn đưa người thầy của mình về cõi vĩnh hằng bằng không táng. Thi hài của Mao sư phụ được hoả táng, sau đó gói gọn gàng trong ống nứa hệt như người ta làm pháo thăng thiên, hướng về phương Nam mà đốt...


Một que tăm, một chiếc lá, một nhúm cát cũng có thể được Huyền Công Đạo Trần Công biến thành “vũ khí tối thượng” để hạ gục đối phương trong nháy mắt. Đó không phải là những điều chỉ có trong phim chưởng...
 
Những mũi tiêu kinh hoàng
 
Khi còn ở Việt Nam, ông đã được Mao sư phụ truyền dạy rất nhiều môn ám khí độc chiêu. Ông bảo, muốn ám khí đạt hiệu quả tốt nhất thì ngoài khả năng về nội công, đòi hỏi người sử dụng phải tập luyện thường xuyên, kiên trì. Ngưng luyện tập thì chỉ ít lâu, ám khí phóng ra sẽ không trúng đích như mong muốn.
 
 
Ông Trần Công và những mũi tiêu
Ông Trần Công và những mũi tiêu
 
 
Môn ám khí đầu tiên ông được sư phụ truyền dạy là phóng tiêu. Tiêu của Mao sư phụ rất đơn giản, chỉ là những chiếc đũa được chế từ những cây thép nhỏ, vát nhọn một đầu, sức đàn hồi lớn. Khi cần phóng tiêu, tuỳ khoảng cách xa, gần mà người sử dụng chỉ cần giữ cố định một đầu, vít cong đầu còn lại, dựa vào lực đàn hồi mà bật tiêu đi. Điều quan trọng nhất khi dùng ám khí đó là độ chính xác. Chính thế, người sử dụng phải luyện tập không ngừng. 
 
Lão võ sư Trần Công kể, ban đầu tập phóng tiêu, Mao sư phụ dựng cho ông một hình nhân bằng rơm rồi bắt ông đứng cách chừng 7 - 10 m, phóng đũa sắt tới. Bước đầu là phóng sao cho trúng được phần ngực của hình nhân; Bước sau cao hơn, đó là phóng vào phần đầu; Tiếp đến là phóng vào phần mắt. Bài ám khí này chỉ được coi là thành công khi người tập trong tích tắc với cả chục chiếc đũa sắt trên tay, phóng đích xác vào phần mắt hình nhân. 
 
Ngày còn ở bên Mao sư phụ, cũng như sau này, dạy độc chiêu phóng tiêu cho một số đệ tử, võ sư Trần Công thường lấy mục tiêu là những quả trứng, khi thì đặt ở khắp nơi, khi thì rút hết ruột, treo lên để gió đẩy đưa tứ phía. Nắm đũa dắt bên hông, tả xung hữu đột, chỉ nghe tiếng gió rít lên rất khẽ thì những chiếc đũa nhọn hoắt đã được ông phi bách phát bách trúng vào những quả trứng. 
 
Búng ngón tay, đối phương mù mắt
 
Biến thể của tiêu đũa là tăm. Những chiếc tăm cật tre già, vót nhọn một đầu, trừ phần cật tre, với người bình thường thì chỉ dùng để vệ sinh răng, nhưng với Huyền Công Đạo Trần Công thì chúng là một ám khí vô cùng lợi hại, sát thương kinh hồn. Chỉ bằng động tác búng ngón tay, trong vòng 3 - 5 thước, chiếc tăm nhọn của ông có thể khiến đối phương mù mắt. 
 
Thủa thanh niên, phiêu bạt giang hồ, lúc nào trong túi áo ngực của ông cũng có những chiếc tăm ấy để phòng thân. Chỉ có điều, chúng không làm từ tre mà được ông cần mẫn chế từ dây tanh của lốp xe đạp. Bởi luyện tập nhiều nên giờ, trông chúng vẫn sáng bóng, tựa như những chiếc kim mà người ta vẫn dùng để khâu giày dép. 
 
Một loại ám khí khác mà nhiều người vẫn thấy trong phim chuyện chưởng của Trung Quốc, ấy là cát. Ngày trước, tập loại ám khí này, tuy chưa một lần phải sử dụng nhưng bôn tẩu giang hồ, Huyền Công Đạo vẫn “trang bị” cho mình. 
 
Chế loại ám khí này cũng công phu lắm. Ban đầu là phải chọn tìm cát hạt mịn, sau đó lọc qua nước để gạt bỏ rác bẩn và đất. Phơi khô rồi cho vào rang lẫn với muối, bột ớt, bột tiêu... Những “hợp chất” ấy khi quyện vào nhau sẽ vo thành những viên nhỏ xíu, tựa như hạt vừng. Lão võ sư đổ những “sản phẩm” ấy vào những lọ nhỏ, khi ngược xuôi thì bỏ trong tay nải, để ở tư thế tiện dùng. 
 
Tao ngộ chiến, bị vây hãm bởi đông đối thủ, chỉ cần nhanh tay hất một lọ hỗn hợp ấy ra thì đảm bảo rằng không kẻ nào còn nhìn thấy nổi ánh sáng mặt trời. Khi đó, nếu cảm thấy cần phải đánh thì đánh, không cần thiết thì chỉ việc... đủng đỉnh bỏ đi. 
 
Sát thương kẻ thù cách 50m bằng tiêu
 
Một loại ám khí nữa đã đưa tên tuổi Huyền Công Đạo nổi như cồn suốt mấy chục năm hành tẩu giang hồ ấy là thuật thổi tiêu. Bởi là người có nội công thâm hậu, nên đường tiêu của lão võ sư vừa đi xa, vừa vô cùng chuẩn xác. 
 
Theo lão võ sư thì ống tiêu làm từ trúc, từ gỗ, thậm chí từ thanh sắt rỗng ruột. Loại ám khí này tàn khốc và nguy hiểm ở chỗ mũi tiêu được ông làm từ những cây kim mà mọi người vẫn dùng để khâu vá hàng ngày. Đầu mũi kim, ông đánh ngạnh, khi găm vào người đối phương chỉ tạo cảm giác hơi buốt. Tuy nhiên, sự nguy hiểm là ở chỗ, khi đối phương rút tiêu ra, phần mũi tiêu sẽ gãy và nằm lại trong ra thịt. 
 
Theo Huyền Công Đạo, loại ám khí vô cùng lợi hại này có thể gây sát thương ở khoảng cách tới 50m. Chính thế, khi còn lãng du ở vùng cương thổ, ông vẫn dùng nó để... bắn chim. Thậm chí, cá dưới sông, dùng loại ám khí này, ông vẫn đều đều đánh bắt.
 
Cuộc biểu diễn lạ lùng trong sân vận động
 
Có lẽ trong làng võ Việt, ông là người may mắn được gặp Bác Hồ nhiều lần nhất. Lão võ sư kể, một sớm (năm 1961) có người đi ô tô tìm đến nhà ông, nói là ra sân Hàng Đẫy gấp, khi đi nhớ mang theo đôi Song hổ vĩ côn. Ngạc nhiên vì lời mời lạ lùng ấy, nhưng khi thấy phong thái của người khách lạ, linh tính mách bảo rằng đó chẳng phải chuyện bình thường, nên chẳng suy nghĩ nhiều, ông vào nhà xách côn đi luôn. 
 
Gần đến nơi, vị khách mới cho ông biết một tin bất ngờ, Bác Hồ muốn xem ông múa võ nên đã bí mật mời ông đến. Thông tin ấy làm ông sững sờ. Ông không ngờ mình lại có được vinh dự lớn lao đến vậy. Niềm vui sướng đó khiến trống ngực ông nện liên hồi. Vào sân, ông đưa mắt nhìn khắp lượt, khán đài chẳng có ai, cũng chẳng thấy Bác đâu. Người dẫn đường chỉ lên góc khán đài cao nhất. Ngước mắt lên, ông thấy Bác cười hiền, giơ tay vẫy, ông cảm động đến suýt rơi nước mắt. 
 
Không để mất thời gian của Người, ông ra sân với một suy nghĩ, sẽ tung tất cả những tuyệt kỹ công phu mà suốt mấy chục năm trời mình rèn luyện để Bác thưởng thức. Thế nhưng, ra đến giữa sân, có lẽ chưa bao giờ biểu diễn trước một khán giả vĩ đại đến vậy, nên dù mấy lần xuống tấn nhưng ông vẫn thấy chân tay mình mềm nhũn. Sau cùng, thêm một lần nữa ngước lên khán đài, thêm một lần nữa bắt gặp nụ cười đôn hậu của Bác, ông trấn tĩnh lại. 
 
 
Ông Trần Công đã nhiều lần được gặp Bác, biểu diễn võ thuật
Ông Trần Công đã nhiều lần được gặp Bác, biểu diễn võ thuật
 
 
Và, hôm ấy, với đôi Song hổ vĩ côn, một binh khí sở trường, ông múa vun vút, để trên khán đài, những tiếng vỗ tay của Bác và những tùy tùng cứ vang lên không ngớt. 
 
Kết thúc buổi biểu diễn, người dẫn đường khi trước đã từ chỗ Bác ngồi chạy xuống, đưa cho ông một chiếc phong bì nói là Bác tặng và Người dặn rằng khi về đến nhà mới được mở ra xem. 
 
Ông cho chiếc phong bì đó vào túi ngực, hướng về phía Người cúi chào và ra về. Trên đường đi, ông như thấy túi áo mình nóng ran bởi ý nghĩ, không biết Bác tặng mình thứ gì mà bí mật đến vậy? Về đến nhà, ông vội vàng bóc chiếc phong bì đó ra xem. Thì ra Người tặng ông mấy vần thơ giản dị: “Thể lực đứng đầu há phải tiền. Luyện rèn vũ thuật vẫn thường xuyên. Tiền nhiều thượng võ mua chẳng được. Vui mạnh sống lâu khác gì tiên”. 
 
Triết lý của người học võ
 
Đến giờ, ông vẫn nhớ như in câu chuyện võ học mà ông từng may mắn được đàm đạo cùng với Bác. Sau lần biểu diễn võ cho người xem ở sân vận động Hàng Đẫy, có lần Bác đã mời ông vào nơi mình ở. 
 
Tại đây, thấy Bác đang mải miết tập quyền cước, ông buột miệng hỏi: “Dạ thưa, Bác cũng tập võ Tàu?”. Nghe câu hỏi của ông, ngừng tập Bác quay sang từ tốn: “Sao chú lại hỏi thế?”. “Dạ, cháu thấy bài quyền Bác đang tập có xuất xứ từ Trung Quốc”. 
 
“Đúng, chú nói đúng rồi! Đây chính là bài quyền bác học được của người Trung Quốc, nhưng không thể gọi là võ Tàu được!”. “Thế gọi là võ Trung Quốc, thưa Bác!”. “Chú nói thế cũng không phải, mà phải gọi là võ Việt Nam!”. 
 
Câu khẳng định của Bác làm ông ngạc nhiên, không hiểu. Thấy vẻ bối rối của ông, Bác khẽ mỉm cười, kéo ông ngồi xuống, Người nói: “Nhà chú có ao thả cá, nhà hàng xóm của chú cũng có ao thả cá. Một hôm, trời mưa, nước lớn, cá nhà chú tràn sang ao nhà hàng xóm thì chú có sang đó mà nhận hay đòi lại cá nhà mình được không? Võ cũng vậy, từ Trung Quốc chảy xuống nước ta thì phải gọi là võ ta chứ!”. Triết lý đơn giản nhưng vô cùng chí lý của Người khiến ông suy nghĩ. 
 
Thấy thế, Bác liền vỗ vai, thân mật: Chú là người giỏi võ, chú phải cố gắng làm sao để cả dân tộc ta học được võ, có thế thì mới có sức khoẻ để bảo vệ và kiến thiết đất nước! Phong trào học võ, rèn luyện sức khoẻ phải nở như hoa! Ông bảo, chỉ một lần gặp ấy thôi, ông đã phục sát đất sự uyên bác của Bác Hồ, người mà ông cả đời kính trọng, quý yêu.
 
Anh thợ cắt tóc và chuyến thăm bí mật của Bác Hồ
 
Ông từng được Bác Hồ đến thăm ông. Chuyện đó, trong giới võ lâm, có lẽ chẳng có võ sư nào được vinh hạnh ấy. Lão võ sư Trần Công bảo, ấy là phần thưởng cao quý nhất mà cả đời ông không thể nào quên được. 
 
Ngày đó, ông thuê nhà ở dốc Tam Đa, sống bằng nghề cắt tóc. Hôm ấy, một sáng mùa Thu, đang tha thẩn trước sân thì ông thấy một chiếc xe ô tô con đậu gần cửa nhà mình. 
 
Cứ ngỡ đó là khách của hàng xóm nên chẳng bận tâm, ông vẫn mải mê với những suy nghĩ riêng tư của mình. Thế nhưng, một cái vỗ vai đã làm ông giật mình bừng tỉnh. Chưa kịp hỏi thì ông đã bàng hoàng khi vị khách đó từ từ tháo mũ ra. “Bác!”. Thấy ông mừng rỡ quá đỗi, “vị khách lạ” vội vàng ra dấu, ý rằng, không nên để người khác biết sự xuất hiện của Người. 
 
Kéo ông vào nhà, Bác hỏi: “Thế chỗ chú luyện võ đâu?”. Câu hỏi của Bác làm ông bối rối bởi khi ấy, gia cảnh khó khăn, ông thuê một gian nhà rất chật, chỗ ông tập võ hàng ngày cũng là chỗ ông cắt tóc kiếm sống qua ngày. Chỗ ấy lổn nhổn những gạch đá, khi dọn về đó ở ông vẫn chưa kịp sửa sang. 
 
“Chú tập võ ở đây?”. Chỉ vào khu nền nhà mấp mô đó, Bác ngạc nhiên hỏi. Không muốn Bác phải bận tâm nhiều về hoàn cảnh của mình, ông vội vàng đáp: “Dạ, chỗ này cháu xới lên đó! Luyện võ ở đây chân sẽ cứng cáp hơn!”. Nghe ông nói vậy, Bác gật đầu cười: “Chú này tập chi mà lạ!”. Cứ thế, câu chuyện về nghiệp võ và đời võ được ông và Bác đàm đạo say sưa, mãi khi phía ngoài, khách đến cắt tóc đã đứng chờ lố nhố, Bác mới lặng lẽ ra về.
 
Lão võ sư Trần Công bảo, dù thành thạo nhiều ám khí độc môn như vậy, nhưng cả đời ông, ông mới sử dụng nó bất đắc dĩ một lần. Đó là trận chiến kinh hồn với một băng đảng giặc cướp.
Đào Thanh Tuy

http://giaoduc.net.vn/xa-hoi/40-tin-nong/7657-cao-th-vo-vit-tuyt-k-vo-song-va-mon-qua-ca-bac-h-k-ix.html


Đào Thanh Tuy
http://giaoduc.net.vn/xa-hoi/40-tin-nong/7182-cao-th-vo-vit-qvua-am-khiq-cuc-i-tiu-ngo-giang-h.html

Thứ Năm, 20 tháng 3, 2014

CAO THỦ VÕ VIỆT: KHUẤT PHỤC BỌN CƯỚP


Khi nội công đã tu luyện tới mức thượng thừa, lão võ sư Trần Công bảo, tất cả các vật dụng ở xung quanh, với ông đều có thể là một loại ám khí kinh hồn. Dùng một chiếc lá cứng, một hòn sỏi, một mẩu que... ông vẫn có thể hạ gục đối thủ chỉ trong chớp mắt. 
 
Theo học chủ nhân của bí kíp Gồng trà kha 
 
Tuy thiên hạ vô song về độc chiêu ám khí nhưng theo lão võ sư Trần Công, trong suốt cuộc đời bôn tẩu giang hồ, ông chỉ duy nhất sử dụng chúng một lần khi giao chiến. Ông bảo, ám khí đã phóng ra là tàn khốc, là gây sát thương cho đối thủ, nên tuyệt đối không được dùng khi chưa thấy thực sự cần thiết.
 
 



Lần phải vận đến tuyệt chiêu của mình đã diễn ra cách đây lâu lắm rồi, ông cũng không còn nhớ rõ đích xác vào năm nào nữa. Khi ấy, ông mới từ biệt Mao sư phụ trở về Việt Nam, lên khu Nghĩa Đô, bái danh sư Lại Phú Dương, cũng một sư phụ rất giỏi về võ Tàu làm thầy để tiếp tục rèn thêm kĩ năng chiến đấu cho mình. 
 
Nói thêm về võ sư Lại Phú Dương, theo lão võ sư Trần Công, thì trước cách mạng, danh tiếng của cụ Lại đã nổi như cồn, đặc biệt với tuyệt chiêu Gồng trà kha. Lão võ sư Trần Công kể, có lần ngay gần chợ Bưởi, với tuyệt chiêu trên, cụ Lại đã để cho mọi người thẳng tay dùng dao chém vào người mà da thịt không hề xây xát, hệt như người ta dùng thanh gỗ mà nện vào bị bông. 
 
Cụ Lại theo cách mạng. Một lần, tại nhà người bạn của mình, Lại sư phụ bị giặc Pháp vây hãm. Chạy vọt lên tầng thượng của toà nhà cao 3 tầng nhưng quân giặc vẫn rầm rập đuổi theo. Trong cơn khốn quẫn, tài trí và sức mạnh phi thường của cụ đã vô cùng hữu dụng. 
 
Thấy trên lầu có chiếc cối đá nặng đến cả trăm cân, phía dưới, bên nhà hàng xóm lại có chiếc ao rộng, cụ liền bê luôn chiếc cối ấy mà ném sang ao. Thấy tiếng động mạnh, tưởng cụ đã liều mình nhảy xuống ao, hòng tìm đường thoát, quân Pháp liền xì xồ hô nhau quay xuống, vây kín khắp bờ ao, chờ “con mồi” nổi lên để... bắt. Đánh lạc hướng kẻ thù, Lại sư phụ đã ung dung tìm đường thoát thân.
 
Cơ hội hiếm hoi dùng tuyệt kỹ
 
Lão võ sư Trần Công kể, ngày ấy, bởi nhớ lời dặn của Mao sư phụ nên ông đã giấu biệt không cho cụ Lại biết khả năng võ công của mình. Theo học cụ Lại được chừng một năm, một đêm, cụ dựng ngược ông dậy nói là đi đánh nhau. Tưởng thầy mình nói chơi, hoá ra đúng là đi đánh nhau thật. 
 
Đối thủ của hai thầy trò là đảng cướp hung hãn ở khu chùa Thầy, cứ đêm đến chúng kéo nhau về khu ven Hà Nội ngang nhiên cướp bóc. Mỗi lần “ra quân” chúng thường gửi tối hậu thư cho gia chủ, thông báo luôn ngày giờ và những thứ... cần cướp. Nhận được thông báo ấy, nếu khổ chủ không kiếm đủ những thứ trên, hay cố tình tẩu tán tài sản thì chúng sẽ xuống tay vô cùng tàn bạo. 
 
Đêm đó, địa chỉ mà chúng định mò tới là một gia đình ở ngay trong làng Nghè, nơi võ sư Lại Phú Dương sinh sống. Hoảng hốt, không biết cầu cứu ai, khổ chủ bèn tìm tới cụ Lại, những mong vì lòng trượng nghĩa mà lão võ sư ra tay cứu giúp. 
 
Bất bình với toán cướp đã lâu, cụ Lại đã gật đầu ưng thuận. Trước lúc lên đường, cụ Lại nói với đệ tử mình: “Binh khí cho con tự chọn, nên nhớ đây là toán cướp giết người không gớm tay!”. Lão võ sư Trần Công kể, nghe sư phụ mình nói thế, ông... mừng lắm, bởi toán cướp càng hung dữ bao nhiêu thì ông càng “có điều kiện” để thử nghiệm võ công của mình, thứ mà ông còn thấy thiếu vì từ trước tới giờ, ngoài mấy trận đánh võ đài toàn thắng ra, ông chưa bao giờ có cơ hội để dụng võ ngoài đời. 
 
Đường phi tiêu thần sầu quỷ khốc
 
Khoác đôi song hổ vĩ côn vào tay, ra cửa, như sực nhớ ra điều gì, ông quay lại cầm thêm nắm đũa sắt, món ám khí mà ông tập luyện đã lâu. Đến nơi, bởi chưa đến giờ như đã hẹn nên toán cướp kia chưa xuất đầu lộ diện. Thấy hai thầy trò, gia chủ mừng quýnh nhưng vẫn có phần e ngại. Có lẽ, họ sợ hai thầy trò không phải là đối thủ của toán cướp tàn bạo kia. 
 
Vẻ ái ngại, lo lắng ấy càng trầm trọng hơn khi vào đến nhà, cụ Lại sai cậu học trò miệng còn hôi sữa của mình ra cửa đứng canh, còn cụ thì cứ ngồi ung dung uống trà.
 
Đứng gác chưa mỏi chân thì phía đầu làng, đèn đuốc đã sáng rực. Quân ăn cướp đến. Thấy ầm ĩ, mấy nhà bên cạnh vội vàng tắt đèn, đóng cửa đánh rầm. Đạp cổng, ập vào sân, chúng hùng hổ quát mắng tựa như đang ở chỗ không người. 
 
“Bọn kia đi đâu?” - đứng ngoài cửa, dù đã lấy hơi để dương oai, nhưng giọng quát bọn cướp của ông là cái giọng trẻ con, nghe rất đỗi buồn cười. “Á, thằng này láo! Các ông đi ăn cướp chứ còn đi đâu! Khôn hồn thì cút để các ông vào!” - một tên trong đám sừng sộ. 
 
 

 
 
“Thích vào à? Thích vào thì cứ chui qua đây mà vào!” - chỉ tay xuống dưới háng mình, ông khiêu khích. 
 
“Chúng mày đâu, lôi thằng nhãi nhép này ra tẩm dầu đốt cho tao!” - không chịu được màn khiêu khích ấy, tên tướng cướp đùng đùng nổi giận, quát nạt đám lâu la.
 
Tiếng quát như sư tử hống ấy chưa dứt, một tên tiên phong đã vác binh khí lao lên tưởng sẽ ăn tươi nuốt sống cậu nhóc thư sinh mang gan cóc tía. Thế nhưng, vừa tiến lên được vài bước, hắn bỗng rú lên rồi ôm chân qụy xuống. Một chiếc đũa sắt từ tay cậu thiếu niên phóng ra đã cắm phập vào đầu gối, khiến hắn không thể lê bước.
 
Thấy thuộc hạ bị dính đòn quá nhanh, tên tướng cướp đã giật mình lùi lại. Sợ mất mặt với đám đàn em, hắn lại rống lên đồng thời tuốt kiếm chực xông lên. Nhưng, cũng chỉ trong chớp mắt, một chiếc đũa nữa được “thằng nhóc láo toét” phóng ra. Lần này, chiếc tiêu đi một đường kinh hãi hơn, sượt qua mặt, xuyên qua vành tai của tên trùm sỏ. Vừa thoảng nghe tiếng gió rít bên tai, đã thấy máu rơi xuống vai áo lạnh toát, mặt cắt không còn giọt máu, quá kinh hãi, tên tướng cướp thối lui mấy bước rồi chẳng kịp hô đám lâu la, hắn co cẳng chạy.
 
Ngồi trong nhà, thấy “kỹ nghệ” lạ lùng ấy của ông, cụ Lại lấy làm ngạc nhiên lắm. Hỏi ai dậy, ông chỉ cười trừ nói rằng cái đó là ông tự mày mò, rồi năng luyện tập mà thành.
 
Từ lần bị dính đòn thảm khốc đó, toán cướp bỗng bặt vô âm tín. Người dân ven đô ai cũng mừng như vừa trải qua một kiếp nạn kinh hoàng. 
 
Một mình vào hang cọp dữ
 
Sau đó chừng gần một tháng, ông nhận được một lá thư do một người lạ mặt chuyển đến. Người viết lá thư ấy chính là tên tướng cướp đã dính đòn của ông tháng trước. Hắn mời ông về đại bản doanh của hắn ở gần chùa Thầy để dự một bữa cơm giao hảo. Nhận bức thư ấy, nghĩ không đi không được, nên ông đã viết thư trả lời, hứa sẽ đến như đã hẹn. Theo yêu cầu của tên tướng cướp, ông đi một mình và tuyệt nhiên không mang binh khí gì, đặc biệt là những que đũa sắt, thứ mà bọn chúng đã được một lần... “nếm mùi đau khổ”. 
 
Lão võ sư Trần Công kể, đợt ấy, không muốn cụ Lại và gia đình lo lắng, ông đã giấu nhẹm chuyện mình được mời vào “hang cọp”. Hôm đó, đúng hẹn, ông cứ một mình chạy bộ vào chùa Thầy cùng chiếc khăn mặt vắt vai. 
 
Gần đến nơi, qua mương nước, ông nhúng ướt chiếc khăn mặt và nghĩ, nếu trúng gian kế, bị phục kích thì đó cũng là một vũ khí có sức công phá kinh hồn, có thể đánh bại cả chục tên lưu manh trong vòng vài phút. 
 
Sào huyệt của đảng cướp nằm trong một ngôi nhà kiên cố. Nhác thấy bóng ông, tên đầu lĩnh với vết thương trên tai còn chưa lành, vội vàng ùa ra vồn vã, xun xoe: “Cậu đến rồi à? Mời cậu vào trong! Biết hôm nay thế nào cậu cũng đến nên tôi đã triệu tập tất cả anh em đến đây để đón tiếp đấy!”. 
 
Vừa ngoắc tay mời, hắn vừa gỡ chiếc khăn trên vai rồi đẩy ông vào gian nhà trong, nơi đã đặt sẵn mâm cỗ với ê hề rượu thịt. Bị đẩy vào góc trong, tì lưng vào tường, ông hơi nghi ngại vì tư thế ngồi đó, nếu bị chúng dùng bàn ép chặt vào trong mà tấn công trực diện thì sẽ vô cùng nguy khốn. 
 
Tuy thế, ông vẫn vui vẻ ngồi vào nơi mà tên đầu lĩnh đã định sẵn cho mình và hai tay thì luôn đặt trên mặt bàn để nếu có biến, ngay lập tức những chiếc thìa, đũa trong tầm với sẽ giúp ông chống trả. 
 
Song thật lạ lùng, khi tất cả đều đã yên vị, tên đầu lĩnh bỗng đẩy ghế, quỳ thụp xuống rồi khẩn khoản: “Cám ơn cậu đã đến với chúng tôi! Thưa cậu, từ hôm ở làng Nghè về đến giờ, chúng tôi đã không còn đi cướp nữa! Cảm ơn cậu hôm đó đã nương tay!”. Nói vừa dứt câu, hắn tu ực bát rượu như vừa để cảm ơn, vừa để chuộc lỗi. Cuộc rượu cứ thế kéo dài mấy tiếng đồng hồ, ai lấy đều say nghiêng ngả... 
 
Kiếp lãng du và một lần chết hụt
 
Ông là người thích lãng du, phiêu bạt. Ông bảo, giờ có tuổi, ông mới chịu xếp chân ở yên một chỗ chứ khi trước, đời ông là những chuyến đi. Bởi yêu thích cảnh tự do tự tại, ông đã từng bỏ phố xá, ngược lên biên giới ở đến cả chục năm. 
 
Đến đâu, ông cũng truyền dậy võ công hay bốc thuốc giúp mọi người nên luôn được đối đãi như thượng khách. 
 
Ông kể, hồi ở Lào Cai, khi giặc phỉ hoạt động mạnh, với những độc chiêu võ thuật của mình, ông đã được mời dậy võ cho rất nhiều đơn vị tham gia tiễu phỉ. 
Ở Lào Cai chán, ông lại vòng vào Quảng Trị, nơi bom đạn đang thời khốc liệt. Tại đây, ông lại được mời huấn luyện võ thuật cho các đơn vị đặc công. Ông tâm niệm, người luyện võ thì phải nay đây mai đó, có vậy thì mới trau dồi được vốn liếng võ thuật của mình. Nhưng cũng vì thế mà trong một chuyến phiêu bồng, ông đã suýt bỏ mạng. 
 
Năm 1960, ông và một số võ sư nổi tiếng khác về Ninh Bình để phát động phong trào học võ và dạy võ cho dân quân tự vệ tại Phát Diệm. Để dập tắt phong trào trên, gián điệp đã dùng thủ đoạn thâm độc là hạ sát các võ sư, đặc biệt là ông, người được quần chúng vô cùng yêu mến. 
 
Chúng bỏ độc vào nồi canh tại nhà ăn tập thể. Vì thế, vừa buông đũa, gần 100 võ sư cùng các môn sinh bỗng thấy ruột mình quặn thắt, sau đó lịm đi. Biết là bị kẻ gian hạ độc, ông bình tĩnh ngồi xuống, vận khí bế huyệt để chất độc không thể ngấm nhanh chóng vào cơ thể mình. 
 
Sau khi giúp đỡ các nhân viên y tế đưa mọi người ra Bệnh viện huyện chạy chữa, ông bắt đầu thấy mình choáng váng. Chất độc đã bắt đầu ngấm. Khi bác sĩ đưa ông lên giường bệnh, trong cơn đau đớn, vật vã, để giải toả, ông đã bẻ gãy cả... hai chiếc chân giường. 
 
Nhờ các bác sĩ cứu chữa tận tình, cùng với một thể trạng khoẻ mạnh vốn có, sự nguy kịch cũng dần qua. 
 
Phát công chữa bệnh cứu người 
 
Từ ngày thôi làm Chủ tịch Hội đồng cố vấn cao cấp của Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Hà Nội, Huyền Công Đạo Trần Công đã lui vào sống đời ẩn dật. 
 
Tuy thế, hầu như ngày nào ông cũng có khách. Đó là những người vì mến mộ ông mà cố gắng tìm đến để thỉnh giáo võ công. Đó là những bệnh nhân không may gặp chứng nan y, từ khắp mọi nơi, nghe dân tình mách bảo mà lặn lội tìm về, những mong nhờ thành tâm của mình mà được ông cứu chữa. 
 
Lão võ sư Trần Công bảo, khách võ thì ông có thể chẳng mặn mà nhưng bệnh nhân thì ông vô cùng chu đáo. Cũng giống như Mao sư phụ, ông chữa bệnh là để cứu người chứ không bao giờ tính chuyện nhận thù lao. 
 
Với tuyệt chiêu dùng công lực phát công chữa bệnh, ông đã cứu sống được nhiều người, trong số ấy, có cả những bệnh nhân đã bị các bệnh viện lớn trả về bởi hết đường chữa chạy.  
 


Đào Thanh Tuy
http://giaoduc.net.vn/xa-hoi/40-tin-nong/7809-cao-th-vo-vit-khut-phc-toan-cp-bng-am-khi-c-mon-.html

Thứ Bảy, 15 tháng 3, 2014

CHÓ ĐÁ ...MẢNH HỒN QUÊ


Bùi Hà

Mặc mưa nắng thời gian, chó đá kiên nhẫn đứng canh làng, canh nhà. Sau lưng chó đá là vui buồn của cộng đồng thôn xóm, là bếp lửa hồng êm ấm của các gia đình nối nhiều thế hệ.
Chó Đá,Đình Vĩnh Tường,Vĩnh Phúc
Chó Đá,Đình Vĩnh Tường,Vĩnh Phúc.




























Hình ảnh đôi chó đá lặng lẽ ở cổng làng gắn liền với ký ức về quê hương, về thời thơ ấu lam lũ và trong trẻo cứ đi theo tôi trên mỗi bước trưởng thành. Cho đến một ngày, giữa Hà Nội ồn ào, vô tình trên phố, tôi bắt gặp mẹ con chó đá trước một ngôi nhà đóng cửa im lìm. Hai mẹ con chó đá đứng bên nhau buồn bã. Chó mẹ nhìn ra xa xăm như đang chờ đợi, cô đơn... “Người cảnh vệ tâm linh”
Con chó gần gũi trong cuộc sống thường nhật được người Việt tri ân và “thiêng hóa” trong đời sống tâm linh, trở thành biểu tượng che chở, đền đáp ước mong và niềm tin, mang lại những điều tốt lành cho cuộc sống con người. Chó đá thường được đặt trước cổng đền, cổng chùa, cổng làng, cổng nhà như một sự gửi gắm tin cậy và gắn bó của con người với loài vật trung thành và linh hoạt này. Nhà khá giả ưa thuật phong thủy dùng chó đá để thay đổi dương cơ. Dân gian thì đơn giản và mộc mạc thờ chó đá như một thế lực đứng về phía thiện để xua điều dữ, đuổi cái ác.
Chó là loài vật trung thành gắn bó với con người, “khuyển mã chi tình”. Những chú chó đá cũng trung thành, kiên cường thi gan cùng đất trời và thời gian: Một lòng thờ chúa nghìn cân nặng / Bền vững ai lay cũng chẳng rời (Thạch khuyển - Lê Thánh Tông).
Thế giới chó đá phong phú và sinh động. Sinh động về hình thế: ngồi, đứng, nghiêng, nằm, vểnh tai và cụp tai…; sinh động trong những sắc độ biểu hiện tình cảm: vui, buồn, mãn nguyện, hiền hậu và dữ tợn, thậm chí cả thân phận: giàu, nghèo, cô đơn... Cảm hứng tạo tác trên mỗi con chó đá thường phản ánh tâm trạng, tính cách của chính người tạo ra nó và cả người sở hữu nó.
“Nhân vật” khuyên răn con người
Chuyện xưa kể rằng: Có anh học trò sắp đi thi. Hàng ngày, khi thấy anh đi học qua, chó đá ở cổng làng vẫy đuôi tỏ vẻ mừng rỡ. Anh học trò ngạc nhiên, gặng hỏi thì chó đá bảo rằng: “Khoa này thầy thi đỗ nên tôi mừng”. Biết chuyện, người cha của anh bắt đầu lên mặt hống hách với bà con, xóm giềng. Trước ngày đi thi, anh học trò đi qua chỗ cũ, nhưng không thấy chó đá vẫy đuôi mừng rỡ như trước nữa. Anh học trò thắc mắc, chó đá trả lời rằng: “Tại cha thầy sớm lên mặt với mọi người nên khóa này thầy chẳng đỗ đâu”. Sau đó, mọi việc diễn ra đúng như lời chó đá nói. Anh học trò buồn rầu đem chuyện về kể lại với cha. Người cha hối hận, từ đó lo sửa lỗi lầm. Khóa thi sau, anh học trò đi qua cổng làng, chó đá lại vẫy đuôi mừng rỡ. Quả nhiên anh học trò nọ thi đỗ, vinh quy bái tổ về làng.

http://langvietonline.vn/Uploads/Images/0/3e1/03e1d5defb6ff964e06b33730cecc9a4.JPG
Không chỉ người Việt yêu quý chó và chó đá. Người Nùng cháo ở Lạng Sơn cũng có tục thờ chó đá. Họ chọn ngày tốt để đặt chó đá. Ngày tết, chó đá được tắm bằng nước lá bưởi đun nóng, cổ quàng vải đỏ và giấy hồng điều với ý nghĩa mang lại sự bình an cho gia chủ trong một năm mới...
Cuộc sống hiện đại đã chôn vùi nhiều chú chó đá gần gũi thân quen của làng quê Việt dưới lớp bê tông. Bây giờ trước những ngôi nhà bề thế sang trọng, người ta thích bày những con sư tử quê tận trời tây xa xôi. Có nhà lại đặt đôi kỳ lân đến từ phương Bắc. Chó đá buồn rầu, thưa thớt, vắng bóng… Có người yêu chó đá, đã thu gom và tập hợp chúng về trong các khu vườn của mình, như níu kéo những gì sắp mất đi.


http://langvietonline.vn/Lang-Pho/115191/Cho-Da%E2%80%A6-Manh-hon-que.html

Thứ Hai, 10 tháng 3, 2014

THIẾT BÚT THƯ SINH



 - Bước vào căn nhà nhỏ của nghệ nhân Nguyễn Đăng Hiển ở số 46 Hàng Vải (Hà Nội), người ta dễ dàng nhận ra chủ nhân của nó là một người tinh thông Hán học và giỏi nghề chạm khắc.
" Thiết bút thư sinh"
Ông Hiểu miệt mài khắc những nét chữ như phượng múa rồng bay.
Ông Hiểu miệt mài khắc những nét chữ như phượng múa rồng bay..
Xung quanh phòng khách là những bức hoành phi, câu đối, những chiếc khánh bằng đồng có khắc những bài kệ, bài minh. Trong khoảng 50 năm làm nghề, ông Hiển đặc biệt nổi danh với tài nghệ khắc chữ trên hơn 4000 quả chuông đồng mà chữ nào chữ nấy như phượng múa rồng bay. Nhiều người yêu mến đặt cho nghệ nhân Nguyễn Đăng Hiển những danh hiệu như bậc đại bút, kỳ tài... nhưng ông khiêm tốn coi mình là "thiết bút thư sinh" (anh chàng viết bằng bút sắt).
Ông Hiển sinh ra ở làng Vó (Lương Tài- Bắc Ninh), trong một gia đình nhà Nho. Không chỉ thế, ngay từ nhỏ, ông đã được làm quen với nghề chạm khắc truyền thống của dòng họ. Những tiếng búa, tiếng đục trở nên thân thiết và gần gũi với cậu bé Hiển như thể con nhà nông thì phải biết đi cày, cấy lúa vậy. Cha ông thấy con ham học nên đã dốc tâm sức để truyền dạy. "Tôi sinh ra khi cây bút sắt đã lấn át bút lông nhưng cụ thân sinh vẫn bắt tôi cầm bút lông chép Tam tự kinh, Tam thiện từ bé. Ban ngày cầm dùi đục học nghề đồng nhưng tối tối vẫn phải luyện bút lông. Bởi lẽ, các cụ bảo không thông Kinh thi, tỏ Kinh dịch thì coi như không có học", ông Hiển kể.
Khi cha qua đời, ông Hiển nối nghiệp cha. Nhưng sau nhiều lần theo cha đi đúc chuông khắp các đền chùa, miếu phủ, ông nhận ra rằng những chiếc chuông kia nếu có thêm những dòng chữ thánh hiền, hẳn sẽ đẹp và ý nghĩa hơn nhiều. Vậy là thêm một lần nữa, ông lân la khắp các tỉnh thành tìm thày dạy chữ Hán. Chỉ đơn thuần đúc chuông thôi thì thật đơn giản, viết chữ trên chuông mới khó, và khó hơn là viết trên đồng mà nhẹ nhàng, uyển chuyển như viết trên giấy. Nghĩ thế, ông theo học Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ, chuyên ngành Hán học. Học rồi đâm ra mê mẩn. Vậy là cái nghiệp "thiết bút thư sinh" gắn với ông từ đó.
Chỉ bởi đam mê
"Nghề khắc chuông quả là cực nhọc và cần lắm một chữ Tâm. Bên cạnh đó, người thợ phải am tường Hán học và biết nhẫn nại", ông Hiển cho hay.
Muốn vậy, người học ngay từ đầu phải am hiểu hết những nét sổ, hoành,... đến các nét "biến" và phải biết "chạm" những chữ Hán đó trên bề mặt quả chuông. Phải "chạm" làm sao mà như vẽ trên giấy, chỉ cần hơi quá tay một chút thì nét "trường hoành" sẽ đâm xuyên sang chữ khác, nét "đoản" sẽ thành nét "trường". Chính vì thế, người thợ phải tập trung cao độ, tâm hoà, khí hoà mới có thể xuất bút tràn trề khí thế được.
Thêm nữa, những nét khắc đó phải có độ nông, sâu, rộng, hẹp phù hợp để người nhìn vào thấy được cái đẹp mềm mại, uyển chuyển của cây liễu, cái rắn rỏi của cây tùng, cây bách, cái thâm thuý của chữ thánh hiền. Viết trên đồng không thể viết lại nên việc sử dụng "thiết bút", là những con dao, cái chạm phải thật sự điêu luyện, thành thục. Tâm đắc với câu nói "phi nhẫn bất thành nhân", ông Hiển bảo, chuyển thể bài minh, bài kệ từ mặt giấy lên mặt đồng của chuông là câu chuyện khổ luyện của người thợ. "Với người nóng vội, câu chuyện đó thậm chí không bao giờ kết thúc. Để giữ cho nét bút sắc mà không phô, nhát búa vừa độ, người thợ cần hội tụ khí công tốt và tinh thần vững mới có thể "viết" được chữ lên mặt chuông. Giữ cho tâm đức tốt, vững tinh thần, kiên nhẫn, đó là bí quyết của tôi", ông nói.
Cũng bởi cái nghề "thiết bút thư sinh" cần chữ Tâm nên ông Hiển chẳng ngại ngần dù cho tiền công chỉ vài nghìn đồng một chữ. Với ông Hiển, sống trên đời được làm những điều mình thích, mà cái Tâm thanh thản là đủ thấy hạnh phúc rồi. Ông tâm sự: "Mỗi ngày tôi khắc nhiều lắm là 200 chữ. Chỉ có yêu nghề mới gắn bó được lâu dài chứ để làm giàu thì không thể theo được…".
Tiếng lành đồn xa, ông Hiển đã được nhiều nơi mời đến khắc chuông. Tính đến nay, ông đã khắc được trên 4.000 quả chuông, khánh lớn nhỏ. Bây giờ, ở cái tuổi "thất thập cổ lai hi", ngoài công việc khắc chuông, ông còn dạy chữ Hán. Học trò của ông, tuy nhiều người tinh thông chữ Hán nhưng chưa ai khiến ông thật sự hài lòng vì họ không khắc được chữ trên chuông. Ông sợ rằng, nghề sẽ mai một nếu không ai đủ chữ Nhẫn.
BN (Nguồn: Báo KTNT)
http://langvietonline.vn/Lang-Pho/119953/Gap-thiet-but-thu-sinh-dat-Ha-thanh.html

Thứ Tư, 5 tháng 3, 2014

MAI LAN CÚC TRÚC

http://www.chenbaodi.com/UploadFiles/%E4%B9%A6%E7%94%BB%E5%9B%BE/%E6%A2%85%E5%85%B0%E8%8F%8A%E7%AB%B9%E5%9B%9B%E5%B1%8F.jpg


Tứ quân tử: Mai, Lan, Cúc, Trúc trong tranh TQ
Mai, lan, trúc, cúc là đề tài quen thuộc trong hội họa Trung Quốc. Bốn chủng loại này đều có tính cách cao nhã. Mai nở vào mùa đông và xuân, chịu đựng lạnh lẽo. Lan kiều diễm mảnh mai, hương thơm thâm trầm. Trúc ngay thẳng, vô tâm, đầy tiết tháo. Cúc trải sương giá mà chẳng héo hon, có ý chí thách đố thiên nhiên. Thế nên các văn nhân Trung Quốc ái mộ mà đặt tên cho bốn loại này là Tứ quân tử.
Hơn hai ngàn năm trước, thi nhân Khuất Nguyên đã so sánh hoa lan với mỹ nhân rằng: «Thu lan hề thanh thanh, lục diệp hề tử hanh. Mãn đường hề mỹ nhân, hốt độc dữ dư hề thả thành.» (Thu lan ơi mườn mượt, cọng tía cùng lá xanh. Đầy nhà toàn người đẹp, riêng với ta đưa tình.)
Hoa cúc trác việt siêu phàm. Đào Tiềm, thi nhân đời Tấn, từng thốt rằng: «Thu cúc hữu giai sắc, ấp lộ chuyết kỳ anh, phiếm thử vong ưu vật, viễn ngã di thế tình.» (Hoa cúc mùa thu có sắc đẹp, phơi lộ nét anh tú, khiến ta quên tình buồn, lánh xa tình đời.)
Đời Tống có ẩn sĩ Lâm Bô yêu hoa mai đến độ không cần có vợ con, chỉ chuyên tâm trồng hoa mai và nuôi hạc. Người đời tặng cho ông câu «mai thê hạc tử» (hoa mai là vợ, chim hạc là con).
Yêu trúc có thể kể đến Tô Thức. Ông nói: «Ninh khả thực vô nhục, bất khả cư vô trúc.» (Thà ăn không có thịt chứ không thể ở thiếu trúc). Như vậy đủ biết địa vị của trúc được đề cao như thế nào và các tao nhân mặc khách đều xem trúc là người bạn đường không thể thiếu được.
Trúc mai : «Trúc là quân tử, mai là giai nhân.» – tranh của Thạch Đào đời Thanh
Trúc mai : «Trúc là quân tử, mai là giai nhân.» – tranh của Thạch Đào đời Thanh
Các họa gia cũng có cảm tình sâu đậm với tứ quân tử. Mai, lan, trúc, cúc và hội họa Trung Quốc quả có cái duyên không lìa. Trải bao tháng năm lịch sử, nhiều họa gia hậu bối đã cải tiến họa pháp, thể hiện nhiều nét tân kỳ bất tận.
Chủ đề tứ quân tử có tự bao giờ vẫn là vấn đề còn tranh cãi. Theo quyển Thập Quốc Xuân Thu Ký một vị tướng quân của triều Nam Đường tên là Quách Sùng Thao khi chinh phạt nước Thục đã bắt nhiều người. Trong số ấy có Lý phu nhân bị ông ép làm vợ. Lý phu nhân thường u sầu ủ rũ, thích ngồi một mình dưới trăng, ngắm cành trúc la đà. Do xúc cảm, bà dùng bút và mực đen vẽ nên tranh. Người ta cho rằng mặc trúc (trúc vẽ bằng mực đen) bắt đầu từ dạo ấy. Nhưng vị tất mặc trúc bắt đầu từ Lý phu nhân. Người ta biết chắc chắn tranh hoa điểu bắt nguồn từ đời Đường vậy thì bảo mặc trúc có từ Hậu Đường cũng có thể tin được.
Mai, lan, trúc, cúc bước vào hội họa chẳng qua vì chúng hàm hữu ý vị tượng trưng văn học, tiêu biểu đức hạnh của người quân tử. Đời Tống có Văn Đồng, Tô Thức nổi tiếng về mặc trúc, Thôi Bạch với mặc mai, Trịnh Tư Hữu, Triệu Mạnh Kiên với mặc lan, cho đến Triệu Xương, Hoàng Cư Bảo với mặc cúc. Tất cả nhưng danh họa gia này đã vun xới một mảnh đất, khai phóng một con đường giúp cho hội họa các triều đại kế tiếp được phát triển dễ dàng.
Trúc - tranh của Từ Vị đời Minh
Trúc - tranh của Từ Vị đời Minh
Vào đời Nguyên mặc trúc đã thịnh hành với các danh gia như Cao Phòng Sơn, Lý Tức Trai, Kha Cửu Tư, Nghê Vân Lâm, Ngô Trọng Khuê, Cố Định Chi, Triệu Mạnh Phủ, Quản Trọng Cơ, v.v… Đặc biệt, Lý Tức Trai đã thâm nhập một ngôi làng trúc, nghiên cứu mọi tư thế của cây trúc, viết thành một quyển sách để đời gọi là Trúc Phổ. Kha Cửu Tư biên soạn quyển Họa Trúc Phổ nghiên cứu họa pháp về trúc đời Tống, có thể xem là sách gối đầu giường cho người sơ học.
hoihoa4quantu d
Trúc – tranh của Ngô Trấn đời Nguyên
Đến đời Minh, tranh mai, lan, trúc, cúc cực thịnh, danh họa gia cũng nhiều như Tống Khắc, Vương Phất, Hạ Xưởng, Lỗ Đắc Chi, v.v… Nổi tiếng nhất là Hạ Xưởng. Ông tự Trọng Chiêu, bắt đầu học vẽ trúc và đá nơi Vương Phất. Về sau ông tự cải tiến lối vẽ trúc: thân trúc thẳng tắp ngạo nghễ, có sắc khói sương, chỗ đậm chỗ nhạt chỗ xơ xác cực kỳ ảo diệu. Thuở ấy có câu ca: «Hạ hương nhất cá trúc, Tây lương thập đĩnh kim.» (Một cành trúc nơi quê ông Hạ Xưởng trị giá mười nén vàng ở Tây Lương).
Danh gia tiêu biểu về mặc mai có Vương Miện và Trần Hiến Chương.Vương Miện tự là Nguyên Chương vẽ mai thướt tha tiêu sái nổi tiếng đương thời. Vương Miện và Hạ Xưởng là cặp danh gia lừng lẫy; một người về mai, một người về trúc.
Các họa gia đời Thanh vẫn tuân thủ họa pháp đời Minh. Nổi tiếng là Thạch Đào và Bát Đại Sơn Nhân, hai di thần triều Minh. Khi Mãn Thanh lật đổ nhà Minh, Bát Đại Sơn Nhân giả điên giả câm chạy trốn vào núi lánh nạn, một thời làm hòa thượng, một thời làm đạo sĩ. Bát Đại Sơn Nhân thuộc giòng dõi hoàng tộc, tên là Chu Đáp. Bút hiệu của ông ngụ ý sâu sắc: Sơn Nhân có nghĩa là người ẩn dật nơi sơn dã, còn Bát Đại 八大 khi viết thảo theo hàng dọc, chữ bát 八 thành hai chấm đè lên chữ đại 大, chúng gần giống chữ tiếu 笑 (cười) hay chữ khốc 哭 (khóc), bày tỏ tâm trạng dở khóc dở cười. Ông dùng hội họa để tiêu sầu, họa pháp chủ về tả ý, đơn sơ mạnh bạo nhưng sống động, chất chứa nỗi lòng u ẩn. Họa pháp của Thạch Đào và Bát Đại sơn nhân phóng túng tiêu sái không tuân theo những qui tắc sẵn có, nên có thể đứng riêng thành một tân họa phái. Ngoài ra có thể kể thêm một số danh họa gia đời Thanh như Trịnh Tiếp nổi tiếng về lan trúc, Lý Phương Ưng, Kim Nông, Uông Sĩ Thận nổi tiếng về mặc mai. Các họa gia cận đại như Triệu Huy Thúc, Ngô Xương Thạc, Tề Bạch Thạch sáng tạo nhiều nét tân kỳ có thể gọi là cao thủ về mai, lan, trúc, cúc.
hoihoa4quantu c
Lan – tranh Kim Nông (1687-1764)
Tứ quân tử chiếm một vị trí đặc biệt trong hội họa Trung Quốc. Qua từng thời đại các danh họa gia đã góp phần sáng tạo và thể hiện tứ quân tử thêm tân kỳ. Ngày nay các họa gia Trung Quốc đã mạnh dạn thâu hóa họa pháp Tây phương. Môn họa truyền thống này sẽ phát triển như thế nào vẫn còn là vấn đề thú vị mà người ta chưa tiên đoán được.
Lê Anh Minh – Vietsciences