Translate

Hiển thị các bài đăng có nhãn PHONG THỦY. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn PHONG THỦY. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 15 tháng 5, 2024

NHỊ THẬP TỨ SƠN HỎA KHANH THÂN ĐOÁN


Mậu Tý, Giáp Ngọ khí nan đương (khí ác khó chịu)
Âm dương sai thác, thị (là) không vong
Hốt thính sư nhân chân khẩu quyết (tức là phép truyền khẩu)
Lập trạch (nhà) an phận (mả) kiên Tốn thương
Thân, Tý, Thìn niên, Dần, Ngọ, Tuất (ứng vào 6 năm này)
Tật bịnh quang tai (thưa kiện) tổn nhị phòng (con thứ 2)
Quan tặc khiên liên (kéo dài) phòng phòng chiêm (cả các con)
Nê thủy nhập mộ (mộ) bất phi thường (độc lắm).
                        ******
Kỷ Sửu, Ất Mùi, khí hung bạo (dữ tợn)
Kỳ trung hỏa khanh, tối bất lương
Tị, Dậu, Sửu niên, Hợi, Mão, Mùi (ứng vào 6 năm) 
Tật bịnh quang tai, thoái điền trang
Bạch nghĩ (môi trắng) biện tòng đế hạ (dưới đáy) nhập
Tổn thê, khắc tử, tại tam phòng (con thứ 3)
Thử phân (mộ này) nhược hoàn (nên còn) bất cải dĩ
Tử tôn tháp tự (giống như) ngõa thượng sương (tuyết)
 
             Canh Dần, Bính Thân, khí bất lương
             Lập trạch, an phân, tổn trưởng phòng
             Thân, Tý, Thìn niên, Dần, Ngọ, Tuất
             Tổn thê, khắc tử tối nan đường
             Tật bịnh quang tai, phòng phòng chiếm (lẫn cả cho con)
             Thủy, hỏa, khiên liên tổn ấu phòng (con trẻ nhỏ)
             Bạch nghĩ tiên tòng, để hạ nhập
             Điền trang thoái bại, thủ không phòng
(nghĩa là kiến, mối,… dưới đáy quan mà vào khoét, thì ruộng nương tan hết, giữa buồng rỗng tuếch)
             Tân Mão, Đinh Dậu bãi vi cường (chẳng phải mạnh)
             Lập trạch, an phân, tổn nhị phòng
             Hợi, Mão, Mùi niên, Tị, Dậu, Sửu
             Tật bịnh, quang tai, tổn tam phòng
             Thủy, hỏa Khôn liên, đa hoành sự
             Nhân Thân liên lụy, phòng phòng đương (cả các con)
******
             Nhâm Thìn, Quý Tị khí như thương (mũi nhọn)
             Lập trạch, an phân tổn tam phòng
             Thân. Tý, Thìn niên, Dần, Ngọ, Tuất
             Tật bịnh, quang tai, tổn tiểu phòng (con út)
             Hậu đại nhi tôn, đa tăng đạo
             Tổn thê, khắc tử, bất an khang.
                        ******
             Mậu Tuất, Kỷ Hợi thị không vong
             Lập trạch, an phân tổn trưởng phòng
             Tị, Dậu, Sửu niên, Hợi, Mão, Mùi
             Tật bịnh, quan tai, tổn tiểu phòng
             Thủy, hỏa khiên liên, xuất ngoại tử (chết)
  
             Điền địa, nhân tài, như tuyết sương
             Bạch nghĩ tiên tòng, để hạ nhập
             Nhi tôn ngỗ nghịch, tẩu tha hương.
 
Tiên  Thánh  nói:  ở  dưới  chỗ  huyệt  ngồi  mà  không  được  là  chân  khí  mạch,  thì  dầu  có muôn tầng núi trùng trùng, điệp điệp ở trước mặt cũng coi như là không có gì cả.
Chỗ đặt mộ mà được long mạch tốt đẹp hoàn toàn, thì dù có ít sơn sa, cũng có thể phát
phú quý được, chính là bảo vệ lý khí ở bài trên đây.
Bính Tý, Canh Tý 2 vòng này là châu bảo, đó là “Tầng thừa sinh khí” là được cái linh
khí của núi sông. Vậy lấy là cái tốt hàng đầu của 36 vòng La kinh.
 
THẤU ĐỊA LỤC THẬP LONG THỨC


 
Bên dưới mỗi chữ về thấu địa có ghi rõ chữ số tam (3), thất (7), ngũ (5), và chữ chính,
làm 1 vòng đến chữ thiên chính, đã bày ở tầng thứ 14.
Đặt táng vào hỏa khanh, thì huyệt sẽ có mối, kiến, rễ cây và bùn nước chiếm ngâm nát
hài cốt, đất trên mả khô khan, cây cỏ héo hon như phân trâu, bò, con cháu sinh dâm loạn, yểu vong, cô quả, sinh ra người ngỗ nghịch, điên cuồng, người hết, của hao, tai họa, kiện cáo liên miên v.v…
Đặt táng vào huyệt châu bảo, mở xem hẳn là thấy có sinh khí ôn nhuận, đất có ngũ sắc
vân như hồng hoàng, sáng sủa, lại có tơ hồng, dây tía phủ quấn quan tài, hài cốt. Đất trên mộ thì có khí mát, ẩm dịu, cây cỏ xanh tươi tốt. Vậy sinh ra phú quý không sai.

SƯU TẦM
http://vnthuquan.net/diendan/%28S%284uk55k55cidmaz55fywcpl55%29%29/tm.aspx?m=370828&mpage=2&key=

Thứ Sáu, 15 tháng 9, 2023

BÙA LỖ BAN VÀ THUẬT ẾM NHÀ NGÀY XƯA. BÀI 1.


BÙA LỖ BAN VÀ THUẬT ẾM NHÀ NGÀY XƯA.
Lời giới thiệu : Ngày xưa, trong khi làm nhà , những người thợ và chủ nhà thường phát sinh những mâu thuẫn vì những người thợ lúc đó có địa vị rất thấp , chủ nhà không chỉ tiếp đãi họ qua loa sơ sài mà còn cắt giảm  tiền công , thậm chí còn đánh , chửi họ. Để bảo vệ cho những lợi ích của mình và trừng trị những người chủ nhà bất nhân , trong những người thợ đó có những người học theo phép của Bùa Lỗ Ban,đã sử dụng Bùa Lỗ Ban để ếm căn nhà họ vừa xây dựng , kiến cho chủ nhà suy sụp , thậm chí chết tuyệt nọc cả nhà. Có những truyền thuyết nói rằng , những người thợ biết dùng Bùa Lỗ Ban , cứ 10 nhà họ phải ếm một nhà để nuôi Tổ nghề. Gặp phải nhà thứ 10 đối xử tốt với họ, những vị thày Lỗ Ban đó phải dựng một căn nhà giả và ếm vào đó , sau đó đốt đi mới khỏi bị Tổ hành. Có rất nhiều truyền thuyết trong dân gian nói về việc các người thợ ếm nhà và hậu quả xảy ra vô cùng thảm khốc cho gia chủ. Thực hư sự việc như thế nào , dienbatn cùng các bạn tìm hiểu nhé. dienbatn.
1/ LỊCH SỬ CỦA LỖ BAN.


Lỗ Ban (hoặc) được xem là ông tổ của nghề mộc và nghề xây dựng. Có vài thuyết về lai lịch của ông. Lỗ Ban là thợ mộc giỏi của nước Lỗ (nay là tỉnh Sơn Đông) thời Xuân Thu (770-476 TCN). Tên ông là Ban (hoặc), họ là Công Thâu (cũng đọc Công  Du) . Lỗ Ban nghĩa là “ông Ban người nước Lỗ”.
Tượng thờ Lỗ Ban ở Đài Loan. Chân tượng có khắc chữ
Xảo thánh Tiên sư , tức là Lỗ Ban Công . (
http://taipedia.cca.gov.tw).
E.T.C. Werner (A Dictionary of Chinese Mythology) cho rằng Lỗ Ban sinh năm 506 TCN. Cha là Công Thâu Hiền. Công Thâu Ban thuở trẻ là thợ giỏi về các loại vật liệu như gỗ, đá, kim loại. Năm 40 tuổi ông ở ẩn trên núi Lịch Sơn, tu luyện pháp thuật.
Một thuyết khác cho rằng Lỗ Ban là người Đôn Hoàng , Túc Châu (nay là huyện Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc), thời Chiến Quốc (475-221 TCN). Ông có tài nghệ tinh xảo, chế tạo diều gỗ cho người ngồi trên đó bay đi do thám thành trì nước Tống.
Một thuyết khác lại cho rằng ông tên là Công Thâu Ban, thường gọi là Công Thâu Tử , vốn là con của Lỗ Mục Công (có sách chép là Lỗ Chiêu Công). Tương truyền Công Thâu Tử chế tạo nhiều loại máy móc, có thể dùng trong tác chiến, thí dụ như thang mây (vân thê) bắc lên tường thành để công phá thành. Mặc Tử là người chủ trương phản chiến, từng đánh bại Công Thâu Ban về kỹ thuật công phá thành. Sách Mặc Tử, thiên Công Thâu chép: “Công Thâu Ban làm thang mây cho nước Sở xong, sắp đem đi đánh Tống. Mặc Tử nghe tin, bèn đi suốt mười ngày mười đêm từ nước Lỗ đến kinh đô của nước Sở để yết kiến Công Thâu Ban. [...] Mặc Tử cởi đai lưng giả làm thành, lấy thẻ tre giả làm khí giới. Công Thâu Ban chín lần bày cách đánh thành giả ấy nhưng Mặc Tử chín lần cự lại. Công Thâu Ban dùng hết khí giới đánh thành mà Mặc Tử thì còn cách chống giữ. Công Thâu Ban chịu thua”.
Theo các thuyết trên, từ điển Từ Hải nói nên xem Lỗ Ban và Công Thâu Ban là hai người khác nhau. Trong dân gian thường truyền tụng về sự linh nghiệm của bùa Lỗ Ban, thước Lỗ Ban, v.v... Thợ mộc và thợ xây dựng thờ Lỗ Ban làm tổ sư, ngày vía là 13 tháng 6 Âm lịch.



LỖ BAN TỔ SƯ
Lỗ Ban: Người thầy vĩ đại về kiến trúc và nghề thủ công
* Tác giả: TÂN ĐỊCH



Nền văn minh Trung Quốc không chỉ là một trong những nền văn minh cổ xưa nhất trên thế giới, nó còn là nền văn minh đã trải qua mà không có sự gián đoạn. Từ thời cổ xưa, suốt các thời đại kế tiếp, bằng sự chuyển sinh làm người, các chư thần tiếp tục trao truyền sự kế thừa văn hóa phong phú cho người Trung Quốc. Tục ngữ dân gian Trung Quốc có câu, “Trong 360 nghề, nếu một nghề mà không có người sáng lập, thì nghề đó không thể đứng [tồn tại] với thời gian”. Người sáng lập của mỗi một nghề thật sự là sự chuyển sinh của chư thần, người mà đến xã hội [con người], trực tiếp hoặc gián tiếp, sáng tạo ra nghề đó. Ở Trung Quốc, văn hóa dân gian dần dần phát triển khái niệm mà mỗi một nghề đều suy tôn người sáng lập và xem ông ta như “thần bảo hộ”.
Môi trường sống của người Trung Quốc, bao gồm nội thất, nhà cửa, thành phố và tất cả, có thể được nhận thức qua một phản ánh trực tiếp nền văn minh của họ. Văn hóa của kiến trúc truyền thống ở Trung Quốc phong phú và đa màu, rộng mở và uy nghi. Lịch sử Trung Quốc về văn minh được giảng dạy bởi nhiều chư thần trong thời cổ xưa, ví dụ như Hữu Sào và Đại Vũ, và vì thế có thể nói rằng kiến trúc cũng là phần của một văn hóa bán thần Trung Quốc. Trong số những bậc thầy kiến trúc, người nổi tiếng nhất là Lỗ Ban thời Xuân Thu. Nghề thủ công của ông đã lưu truyền hàng nghìn năm, giành được sự kính trọng. Thợ mộc, thợ xây, thợ nề, các nhà chế tạo công nghệ xây dựng và nội thất tất cả đều suy tôn Lỗ Ban như là người sáng lập của nghề này. Theo một sách từ triều nhà Đường tên là “Nghiên cứu của Lỗ Ban”, các công nhân xây dựng đã khấu đầu lạy tạ Lỗ Ban trước khi họ bắt đầu thiết kế xà trên của nhà. Trong đời nhà Tần, bất cứ khi nào khi chính phủ bắt đầu một dự án xây dựng to lớn, họ dâng quà và cúng [bái] Lỗ Ban, cầu nguyện chư thần sẽ ban phước lành cho dự án của họ. Điều này vẫn còn là một phong tục ở Đài Loan ngày nay.
“Bậc thầy về thủ công”
Lỗ Ban sinh ra ở nước Lỗ. Tên thật là Công Du (cũng đọc Thâu) Ban, cũng còn gọi là Công Du Tử. Tên cách điệu [đồng âm] là Ban Ban, nhưng ông được nhắc thường nhất [như] là Lỗ Ban. Ông là một kỹ sư xây dựng nổi tiếng và thợ thủ công trong lịch sử Trung Quốc và từng một lần làm quan trong bộ xây dựng.
Lỗ Ban sinh vào buổi chiều ngày 7 tháng 5 năm 507 trước Công nguyên. Lúc ông được sinh ra, những con sếu tụ tập cùng nhau và mùi thơm kỳ lạ lan tỏa khắp ngôi nhà. Người dân tất cả đều ngạc nhiên bởi điều đó. Đó là [dấu hiệu] điềm lành mà một chư thần sắp chuyển sinh vào thân người. Khi ông còn trẻ, ông không thích đọc và viết. Thay vào đó, ông rất quan tâm đến thủ công như là điêu khắc. Vào khoảng 15 tuổi, ông đột nhiên tỉnh ngộ về mục đích cuộc sống của ông và đi học với Đoan Mộc. Sau nhiều tháng học hỏi thông suốt, ông đã tinh thông nghề này. Lỗ Ban lui tới nhiều nước khác nhau, muốn trông nhờ [hay chú ý đến] nước Chu (một nước lúc bấy giờ), nhưng những nước này không nghe lời ông. Vì thế ông từ giã [cuộc sống] xã hội và sống ẩn dật ở phía Nam Đái Sơn, cũng được biết như “Tiểu Dương Sơn”. Mười ba năm trôi qua. Một ngày nọ, ông ra ngoài và chạy đến chổ Cựu Bao. Họ hàn huyên với nhau khá lâu. Cuối cùng, Lỗ Ban nhận Cựu Bao làm thầy và học điêu khắc và vẽ. Lỗ Ban muốn mang đến một viễn cảnh hoàn toàn mới cho văn hóa Trung Quốc. Lỗ Ban học với sự tập trung mạnh mẽ, học làm mộc, chạm đá, và những kỹ năng khác. Ông sáng tạo nhiều công cụ kỳ diệu và dạy nhiều học trò.
Những sách của Hàn Phi Tử, Hoài Nam Tử, Luận Hành, Mặc Tử tất cả đều ghi chép rằng Lỗ Ban đã làm một con chim gỗ. Sau khi Lỗ Ban thiết kế cho nó bay, con chim đã [bay] lên không trung trong vòng 3 ngày. Trong sách Hồng Thự, nói rằng chim gỗ đã mang một người lên không trung làm gián điệp bên quân địch. Thiết kể đơn giản này là bước mở đầu cho máy bay trinh thám ngày nay.
Có ai biết rằng con chim gỗ này cũng sẽ dẫn đường cho Lỗ Ban làm những người gỗ bất tử?
Theo sách “Nghiên cứu của Lỗ Ban”, Lỗ Ban làm ra chim gỗ bay đến nước Chu để tìm người chị của mình. Người cha của Lỗ Ban rất lo lắng đi tìm con gái của mình nên ông quyết định đi cùng chim gỗ mà không nói với Lỗ Ban. Vì cha Lỗ Ban không biết cách lái nó, con chim gỗ đã rơi vào nước Vũ. Người dân nước Vũ muốn giữ cha Lỗ Ban làm con tin để buộc Lỗ Ban làm cho họ một con chim gỗ. Cha Lỗ Ban từ chối đề nghị của chúng và đã bị giết. Lỗ Ban sau đó đã làm một người gỗ bất tử để trả thù cho cái chết của cha. Ngón tay của người gỗ bất tử chỉ đến nước Vũ. Điều đó tạo cho nước Vũ chịu một nạn hạn hán kéo dài 3 năm. Khi người dân nước Vũ hiểu ra điều này, họ ban tặng rất nhiều quà cho Lỗ Ban và xin lỗi về việc làm sai trái của họ. Lỗ Ban nhân từ đã tha thứ cho họ. Sau đó ông ta cắt cái ngón của người gỗ bất tử và làm những phép thần thông. Mưa lập tức rơi trên nước Vũ.
Lỗ Ban cũng đã làm ngựa gỗ mà có thể đi bộ trên đất một cách tự động. Đây là một dạng thức sớm nhất của “xe máy” được ghi chép. Trong thời Tam Quốc, Gia Cát Lượng đã sử dụng những con ngựa của Lỗ Ban để vận chuyển lương thực. Tuy nhiên, kỹ thuật này sau đó đã mất.
Lỗ Ban chăm lo cho gia đình của mình rất nhiều, và điều này cũng tạo cảm hứng cho ông phát minh ra nhiều công cụ đáng quý. Ví dụ, khi Lỗ Ban lần đầu tiên vẽ một đường sử dụng modou (một vật đánh dấu bằng mực của thợ mộc), ông đã nhờ mẹ ông giữ đoạn cuối của sợi dây. Sau đó họ hoàn thành công việc cùng nhau. Sau này, ông không muốn mẹ ông mệt vì phải luôn giúp ông, vì thế ông làm một cái móc cuối sợi dây để mẹ ông không phải giữ nó thêm nữa. Để tưởng nhớ đến lòng hiếu thảo của Lỗ Ban, những người nối nghiệp đã đặt tên cái móc đó là Ban Mẫu (Ban Mu) hay là Mẫu Câu (Mu Gou) (Mu nghĩa là mẹ trong tiếng Hoa). Một ví dụ khác là khi Lỗ Ban lần đầu tiên bào gỗ, ông nhờ vợ ông giữ đoạn cuối của miếng gỗ để nó không bị trượt ra ngoài cái ghế dài. Để tạo điều kiện vợ ông lo sóc những việc nhà, ông đã đóng một miếng gỗ nhỏ trên ghế dài để ngăn thanh gỗ không trượt về phía trước. Vì thế những người nối nghiệp sau đó đặt tên thiết bị này là Ban Thê (Ban Qi) (Qi nghĩa là vợ trong tiếng Hoa)
Lỗ Ban cũng làm ra nhiều công cụ mộc khác cho người Trung Quốc, ví dụ như móc khoan (drilling hook), máy xay đá, xẻng, dụng cụ đo góc, mudou và thước. Người ta nói rằng Lỗ Ban đã phát minh ra cái cưa sau khi tay của ông bị cắt bởi mảnh lá cỏ. Lỗ Ban cũng tạo ra thang [phá thành trong chiến tranh] và 9 dụng cụ sử dụng trong chiến tranh. Ông cũng làm ra bản đồ đo vẽ địa hình 3 chiều từ sớm - Cửu Châu Đồ - được đánh giá cao bởi các hoàng đế Trung Quốc trong lịch sử. Thông qua những phát minh của mình, Lỗ Ban đã mang những lợi ích to lớn cho người dân.
Tuy nhiên, những đóng góp to lớn của Lỗ Ban không phải là những thứ mà ông đã xuất sắc trong việc tạo ra những công cụ này, kỹ năng và thiết bị cơ khí. Quan trọng hơn, Lỗ Ban đã đi theo Đạo. Lỗ Ban nói, “Trời và Đất không cần compa hay bảng đo góc để làm nên vòng tròn hay hình vuông. Nhưng khi đến thế gian, con người cần có compa để vẽ vòng tròn và cần bảng đo góc để vẽ hình vuông. Vũ trụ và những việc của nó đã ở trong Đạo rồi, nhưng loài người thì đi xa Đạo. Vì thế loài người cần compa và bảng đo góc để vẽ vòng tròn và hình vuông.” Vì chúng ta có thể nhìn thấy điều mà Lỗ Ban đã trải qua cùng với kỹ năng của ông, ông cũng cảm thấy mình đã không có lựa chọn. Con người cần công cụ vì họ xa Đạo. Dĩ nhiên, thông qua việc học những công cụ này, những gì Lỗ Ban dạy đã giúp con người quay về với tiêu chuẩn của con người.
Nếu Lỗ Ban đã không tạo nên những công cụ này, và nếu những người nối nghiệp của ông cũng không có cũng những tư tưởng sáng tỏ như Lỗ Ban, thì những kỹ năng của Lỗ Ban có lẽ đã mất đi. Vì thế, Lỗ Ban phải phát minh những công cụ thủ công để họ có thể đi qua cùng với các thế hệ.
Khoảng 40 tuổi, Lỗ Ban quay về sống ở núi, ở đó ông đã gặp một vị thần. Vị thần này đã dạy ông một vài điều huyền bí. Sau đó, Lỗ Ban đã đi khắp nơi trên thế giới. Cuối cùng, khi ông 70 tuổi, ông đã bay lên giữa bạch nhật. Cái rìu và cưa của ông để lại trên Bạch Dương Nham. Các bạn vẫn có thể thấy những di tích cổ xưa này. Sách “Nghiên cứu của Lỗ Ban” là cuốn sách truyền tay duy nhất qua các đời đến hôm nay đã ghi chép về nhà cửa, nội thất, nông nghiệp và nghề thủ công vào thời của Lỗ Ban. Khởi đầu, sách được lưu truyền bằng miệng giữa những thợ thủ công trong hình thức những công thức súc tích. Suốt đời nhà Minh, cuốn sách cuối cùng đã được viết xuống. Vì khung nhà cổ xưa được làm bằng gỗ, cuốn sách đã ghi chép rất nhiều kỹ thuật về nghề mộc. Nó cũng bao hàm nhiều thứ liên quan đến Phong Thủy và thuật tử vi của Đạo gia, mà thể hiện tư tưởng Trung Quốc nơi mà tự nhiên và con người nên hài hòa với nhau.
Theo suốt thời gian, những thợ thủ công đã kế thừa những lời dạy của Lỗ Ban. Vào lúc sơ khai của việc đào tạo những người tập sự, ông chủ trương rằng việc quan trọng nhất không phải là làm sao học cách để sử dụng công cụ, thay vào đó, học những tiêu chuẩn đạo đức để cư xử đúng đắn, học trở nên tốt với người khác và nghiêm khắc với bản thân. Hơn nữa, một người nên học cách tập trung, học cách tu luyện lý trí của mình, để hài hòa trí của người đó với tâm của họ. Những yêu cầu cho tâm và trí sẽ giúp một người đạt được tư tưởng trong sạch và tinh khiết. Với một tư tưởng như thế, khi một người làm một dự án, anh ta có thể quên chính mình và tập trung vào công việc, hợp nhất công việc với Đạo. Dưới những nguyên lý chỉ đạo này, theo suốt thời gian đã xuất hiện nhiều thợ thủ công nổi tiếng.
Ví dụ, một thợ thủ công sống trong thế kỷ thứ 2 trước công nguyên là học trò của Lỗ Ban. Ông ta đã sáng lập nên công nghệ lát gạch và phát minh công cụ cho việc lát gạch và dạy chúng cho người dân. Ông được gọi một cách kính trọng là “Bậc Thánh Liên Hoa”, hay là “Bậc Thánh [về] Đường Kẻ”. Theo một thần thoại, Bậc Thánh Liên Hoa [là một sự] chuyển sinh từ một vị thần. Lúc đầu, ông dạy người ta làm cách nào để làm ngói lợp nhà. Sau đó, càng nhiều người đến học ông. Hơn trên nữa về những kỹ năng vượt qua khỏi mức bình thường, họ đề nghị ông nhận họ làm những người học trò một cách chính thức. Bậc Thánh Liên Hoa nói “Nếu các chư vị muốn tôi làm thầy, hãy theo tôi”. Sau đó ông nhảy vào lò nung gạch và bay đi như một vị thần bất tử. Sau đó, người ta mới nhận ra rằng ông là một vị thần. Vì những lời dạy của Bậc Thánh Liên Hoa, trong lịch sử Trung Quốc, triều đại Tần và triều đại Hán đã rất nổi tiếng về gạch và ngói của họ.
Các hoàng đế suốt các triều đại văn minh Trung Quốc đã ban tặng nhiều danh hiệu về Lỗ Ban. Ví dụ, trong triều đại Minh, hơn 10 nghìn người đã xây Long Phủ Bắc Kinh, một dự án khổng lồ mà chỉ có thể được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của những chỉ dẫn của Lỗ Ban. Người dân thời kỳ ấy đã xây một đền tưởng nhớ đến Lỗ Ban. Những ghi khắc trên bia trong đền đọc là “Lỗ Ban Quan”. Hoàng đế thời đó đề tặng câu “quý nhân phò [trợ] quốc.” Người dân dùng Thái Lao để tổ chức kỷ niệm Lỗ Ban 2 lần trong năm. Thái Lao nghĩa là họ sử dụng bò cái, dê, lợn cho buổi lễ. Nó giống như một lễ lớn như được tổ chức cho Khổng Tử. Có 2 mục đích xây dựng đền Lỗ Ban. Một là cảm ơn Lỗ Ban, còn lại là để khi các thợ thủ công khi có vấn đề trong công việc của họ, họ có thể đến đền để nhờ [hỏi] Lỗ Ban cho họ một chỉ dẫn.
Lỗ Ban đã ảnh hưởng đến cuộc sống của mỗi người, và công cụ của ông vẫn còn được sử dụng ngay cả đến ngày hôm nay. Trong các triều đại sau thời của Lỗ Ban, các thành phố, nhà, cửa chính, cửa sổ tất cả đều “đúng trật tự”. Lỗ Ban giúp chúng ta sống an toàn và thoải mái. Hơn nữa ông dùng môi trường sống này để truyền đạt lại tiêu chuẩn và cách cư xử đến người dân Trung Quốc. Điều này giúp giữ được chuẩn mực đạo đức cho dân tộc Trung Hoa hơn 5 nghìn năm.
Ngày nay, các quan chức Trung Quốc đang theo đuổi những thiết kế nhà cửa kỳ quái và quy hoạch hóa đô thị. Nó phản ảnh sự xáo trộn xã hội của Trung Hoa hiện đại ngày nay. Sự đổi mới không có nghĩa là từ bỏ những nguyên lý của một nghề. Chỉ có sự quay về với những nguyên lý được để lại bởi các chư thần, xã hội chúng ta [mới] có thể sống trong hòa bình, hài hòa và phồn vinh.
Nguồn:http://www.zhengjian...9/22/54955.html
2/ BÙA CHÚ CỦA NGƯỜI THỢ.
 Người thợ thường dùng bùa chú ở những nơi không có người để người khác không nhìn thấy được. Khi giở Bùa chú phải nhìn chăm chú vào lá bùa sau đó mới được thực hiện.

3/PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÙA CỦA CHỦ NHÀ.
Khi làm nhà, thợ đá , thợ xi măng và thợ mộc thường làm các loại bùa để đầu độc , yểm ma hoặc làm hại chủ nhà. Để hóa giải , vào ngày bắc xà( gác đòn dông -dienbatn), phải dùng 3 thứ súc vật trâu, dê , lợn để làm đồ lễ tế, ngoài ra phải chuẩn bị một bức hoành phi, báo cáo lên các vị Tướng, Thần và vị Sư Tổ Lỗ Ban rồi bí mật viết nội dung một lá Bùa với câu niệm chú : " Ác tương vô tri, cổ độc yểm ma, tự tác tự đương, chủ nhân vô thương " Sau khi niệm thầm xong 7 lần, người thợ làm lá bùa hại người đó sẽ gặp tai họa. Ngoài ra còn phải niệm :" Ngã phụng Thái Thượng lão quân sắc lệnh, tha đích chế tác đối ngã một hữu phòng ngại, nguyện bách vật hóa vi cát tường, cấp cấp luật lệnh ". Sau đó đem lá bùa đốt ở chỗ không có người, không được để cho người khác nhìn thấy, giấu màu đen vàng và máu chó vào trong rượu, khi bắc xà , đem rượu này rắc lên đầu người thợ , rắc liên tiếp 3 chén, rượu còn lại chia cho thợ thuyền cùng uống. Như vậy người thợ yểm bùa, yểm ma sẽ phải chịu hậu quả từ chính hành động của mình, trong khi mọi việc của chủ nhà vẫn có thể gặp may mắn và thuận lợi.
( GIẢI THÍCH ) .
Phép thuật do những người thợ thực hiện thường có thể khiến cho chủ nhà nảy sinh áp lực về tâm lý , vì vậy thời xưa khi xây nhà , sau khi chủ nhà và thợ phát sinh ra mâu thuẫn , chủ nhà sợ thợ cố ý dở trò ma mãnh trong quá trình xây dựng nên đã áp dụng biện pháp giải bùa như trên. Có một cách giải bùa khác nữa là : Chủ nhà vừa cầm một chiếc rìu gõ vào một thanh gỗ đặt giữa nhà và niệm chú : " Đảo hảo, đảo hảo , trụ thử trạch nội, thế thế ôn bão ".
Sau khi xây xong toàn bộ ngôi nhà , chủ đặt một chậu nước ở trong phòng, tất cả mọi người ở trong nhà đều cầm một cành liễu, nhúng vào nước rồi vẩy quanh phòng, vừa đi vừa niệm thần chú : " Mộc lang mộc lang, viễn khứ địa phương, tác giả tự thụ, vi giả tự thường, sở hữu yểm ma, vu ngã vô can, Cấp cấp như Thái Thượng Lão Quân lệnh sắc ".
Vào thời xa xưa, bùa chú bị cho là có sức cảm ứng, hoặc lệnh cấm đối với quỷ thần hoặc giới tự nhiên, Khi thực hiện bùa thuật, Đạo sĩ thường dựa vào một số vật môi giới nào đó, chẳng hạn như nước bùa. Người xưa cho rằng, những thứ đã qua làm phép thuật này, cũng có ma lực của bùa thuật.
Bùa chú được vận dụng rông rãi trong Đạo giáo. Bùa chú của Đạo giáo thường dùng những từ ra lệnh như " như luật lệnh", "cấp cấp như luật lệnh". Thái Thượng Lão Quân cấp cấp như luật lệnh ",...
Nguyên nhân là do Đạo giáo được thành lập từ đời nhà Hán,  các chiếu thư và bài hịch đời nhà Hán thường có các từ :"như luật lệnh". "như luật lệnh" có ý chỉ việc chấp hành pháp lệnh, về mặt ngữ khí , cụm từ này mang ý nghĩa " kẻ phạm luật phải bị truy cứu đến cùng ". Những cụm từ chính thức mô tả quyền uy của pháp luật và chính lệnh trước hết được tiếp nhận bởi các thày cúng dân gian, sau đó được truyền lại cho dân gian.
Trong nghi thức thực hiện pháp lệnh của Đạo giáo, người ta thường đọc các câu bùa chú, bấm ngón tay niệm thần chú hoặc Bộ Cương....chúng cùng với thư phù trở thành một thủ đoạn cơ bản của Đạo pháp. Bản thân những phép thuật này , có tác dụng giúp đỡ con người duy trì được sự cân bằng về tâm lý và niềm tin vào cuộc sống, trước sức mạnh phi thường không thể khống chế.
Trong " Đẩu pháp" giữa những người thợ và chủ nhà , ta có thể thấy rất nhiều yếu tố mê tín.

 Loại bùa này được viết bằng nguyên liệu màu hồng, sau đó được đem dán lên xà chính.
Phương pháp vẽ bùa bằng chu sa: Trước tiên viết tên người trong nhà vào trong phần vòng tòn màu đen, sau khi viết xong lại dùng mực xóa sạch, dùng tay trái dán bùa , trèo thang lên dán vào xà chính, khi dán không được nói chuyện phiếm với người khác . Dán xong xuống thang , bày Thanh Long Thần vị và trà , gạo, thức ăn, tiếp đến là hoá vàng( đốt tiền giấy ), sau đó làm yên lòng các bậc Tiên , Thánh trong gia môn, đón Thổ địa, Táo quân về an vị, niệm :'An gia đường chân ngôn ".

XÁC ĐỊNH KẾT CẤU VA PHƯƠNG VỊ TINH BÀN.
Xác định kết cấu và phương vị là cơ sở của Phong thủy trong kiến trúc, cũng là một bước quan trọng để đóan định cát hung của nhà cửa. Nếu xác định sai phương vị thì toàn bộ tinh bàn sẽ sai. Trong Phong thủy có 24 phương, mỗi hướng chỉ có 15 độ. Phong thủy học chia hướng nhà và hướng cửa ra vào làm hai khái niệm và hai khái niệm này đều được coi trọng.
[ Giải thích ] : Tư mệnh Lục Thần bao gồm 6 vị Thần là : Thanh Long , Thiên Đức , Ngọc Đường, Tư Mệnh, Minh Đường và Kim Quỹ. Ngày có Lục Thần chiếm đóng được gọi là ngày tốt, ngày Hoàng đạo. Vào ngày này , làm việc gì cũng có thể được may mắn , thuận lợi , vạn sự như ý, không cần phải tránh hung kị.
PHƯƠNG PHÁP GIẢI TRỪ TAI ƯƠNG CHO GIA TRẠCH CÓ NHIỀU QUỶ THẦN VÀ TAI HỌA.
 Khi trong nhà có nhiều quỷ thần , tai họa hoặc có tà thần dã quỷ do người ngoài từ nơi khác đem tới, người trong nhà có thể sẽ bị quỷ thần làm cho mê muội hoặc gây tai họa, tà quỷ ẩn dấu hình dáng , tác oai tác quái , thoắt ẩn thoắt hiện từ nơi này sang nơi khác , giả làm miệng người bệnh, đòi ăn , đòi uống. Nếu thấy xuất hiện tình trạng này có thể dán 12 lá bùa, tính theo phương của tinh bàn . Dán bùa theo phương pháp này , tai họa do ma tà gây ra sẽ nhanh chóng tự rời bỏ và bị loại trừ vĩnh viễn, từ đó, vật bị ma quỷ làm cho điên loạn sẽ không thể gây ra tai họa cho chủ nhà .
 Phương pháp xác định kết cấu và phương tinh bàn trên đều là phương pháp dán bùa. Giả dụ như trong một năm trước Lập xuân, chia thành tiết khí của 12 tháng, khi Lập xuân đi qua, tức là vào tháng Giêng, thì lá bùa đầu tiên sẽ được dán ở phương chính Đông.Nếu không gặp được Lập xuân thì bắt đầu dán ở phương Đông Bắc. Dán ở các phương chính Đông, chính Tây , chính Nam , chính Bắc mỗi phương 2 lá bùa, các phương Đông Nam , Đông Bắc, Tây Nam,Tây Bắc, mỗi hướng dán một lá , không được dán sai. Ner61u dán sai thì lá bùa dán không còn tác dụng.
Ngũ lôi Địa chi linh phù được thu thập và biên soạn trong sách gốc sau : Vạn linh bảo phù - loại phù dùng để hóa giải những vật bị quỷ thần mê hoặc.

Câu niệm chú : Hống hống ni am kha( ha) hạ ma ca mu khiếu thạch diệp cấp cấp như tát công chân nhân luật lệnh "
Trong đó có thêm 5 bùa Ngũ lôi , với câu thần chú : Xuất ".
NGŨ LÔI ĐỊA CHI LINH PHÙ:


Thứ Năm, 15 tháng 12, 2022

LỤC THẬP LONG THẤU ĐỊA TỨC NGŨ TÝ KHÍ – CÁT HUNG BÍ QUYẾT

1-Khí Giáp Tý 7 phân Nhâm 3 phân Hợi là tiểu thác; là Giáp Tý xung quan mà sanh ra
các bệnh: hoàng sũng, điên dại, phong, lao, tê liệt, cùi hủi, gái câm, trai ngọng v.v… Nếu thấy thủy ở phương Bính lại, thì trong quan tài có bùn nước đọng sinh ra thưa kiện v.v… sẽ ứng vào những năm Tị, Dậu, Sửu.
2-Khí Bính Tý ở chính Nhâm long thì rất tốt thêm người, gia của phú quý song toàn, mọi
việc đều tốt. Nếu thấy thủy ở phương Mùi lại và phương Khôn thì chung quanh quan quách là cái lọ chứa nước, rất xấu, ứng vào các năm Thân, Tý, Thìn, Tị, Dậu, Sửu.
luân, không những  quan tài bị rễ cây xuyên vào  mà còn  kiến,  mối đục nữa. Nếu thấy
thủy ở phương Tốn lại thì trong quan tài có 2,3 phần nước, bùn thì hỏng, sẽ ứng vào những năm: Dần, Ngọ, Tuất, Thân, Tý, Thìn.
4-Khi Canh Tý ở chính Tý long được phú quý song toàn, phúc lộc thịnh vượng lâu bền.
Nếu thấy thủy ở Tốn lại là trong quan tài có bùn thì xấu hay dở sẽ ứng vào các năm Thân, Tý, Thìn.
5-Khí Nhâm Tý, 7 phân Tý, 3 phân Quý là dương nhận, sinh ra người hay chết non và bị
trộm cướp, tổn thê, hại tử, gặp nhiều tai nạn. Nếu thấy thủy ở Canh Tân lại thì trong quan tài có đầy bùn nước, ứng vào các năm Thân, Tý, Thìn.
6-Khi Ất  Sửu 7 phân Quý, 3 phân Tý thì người của đều được thịnh vượng, sang  giàu.
Nếu thấy thủy ở phương Ngọ, Đinh thì quan tài có đầy bùn nước; tốt hay xấu đều ứng  vào những năm Tị, Dậu, Sửu
7-Khí Đinh Sửu ở ngay Quý long, sinh ra người thông minh, lanh lợi, phú quý lâu bền;
mọi sự vui vẻ. Nếu thấy thủy ở phương Mùi đến, thì trong quan tài có nước như ao thì hỏng; tốt hay xấu đều ứng vào những năm Thân, Tý, Thìn
8-Khi Kỷ Sửu có 5 phân Sửu, 5 phân Quý là hắc phong, thì con gái bị chết non, con trai
bệnh tật; mọi sự đều xấu, thường sinh ra bệnh điên khùng và thất bại đau đớn. Nếu thấy thủy ở phương Hợi lại thì trong huyệt có nước và sâu bọ, là vì thủy ở trong hỏa khanh sinh xuất, sẽ ứng vào các năm Dần, Ngọ, Tuất
9-Khí Tân Sửu ở chính Sửu long, thì 30 năm sau mới giàu sang Đinh tài, đại vượng; mọi
sự cát tường, sinh ra người nhân từ hiếu thảo, khác thường. Nếu thấy thủy ở phương Dần lại, trong quan tài có bùn nước là xấu.
10-Khí Quý Sửu, 7 phân Sửu, 3 phân Càn là phạm cô hư, sau khi tọa táng xong có nhiều
tai họa xảy ra; mọi sự không vừa ý, cả gia đình đều lủng củng, khẩu thiệt sẽ ứng vào những năm Hợi, Mão, Mùi. Nếu thấy thủy ở phương Kiền thì có rễ cây xuyên vào quan tài
11-Khí  Bính  Dần,  7  phân  Cấn,  3  phân  Sửu  thì  huyệt  bình  thường,  phát  phúc,  nhưng không  bền  sẽ  ứng  vào  các  năm  Dần,  Ngọ,  Tuất;  mọi  sự  đều  cát  tường.  Nếu  thấy  thủy  ở phương Hợi lại thì quan tài bị bùn vào nát hư
12-Khí Mậu Dần chính Cấn long thì phú quý vinh hoa đời đời thịnh vượng, ứng vào các
năm Thân, Tý, Thìn đậu đạt; chỉ sợ thủy ở phương Mão lại xung quan thì hung.
13-Khí Canh Dần, 5 phân Càn, 5 phân Cấn là cô hư, hỏa khanh, hắc phong, không vong.
Sau khi táng 3, 6, 9 năm thấy sinh ra bệnh tật, gia tộc bại tuyệt, rất đau buồn. Lại thấy Thân thủy lại xung thì trong huyệt có bùn vào
14-Nhâm Dần khí ở chính long Dần, thì phú quý, phúc trạch dồi dào, lắm ruộng nhiều
vườn, sẽ ứng vào các năm Tị, Dậu, Sửu. Nếu thấy thủy ở phương Ngọ xung thì quan tài có bùn là hỏng.
15-Giáp Dần khí có 7 phân Dần, 3 phân Giáp thì được bình an, một đời phát phúc, qua
đời sau bị mắc bệnh đau mắt. Nếu thấy thủy ở Khôn xung vào thì quan tài bị mối, kiến đục thì xấu.
16-Đinh Mão khí có 7 phân Giáp, 3 phân Dần là bình thường, sinh ra người hay tửu sắc,
phiêu lưu, lười biếng, ứng vào các năm Dần, Ngọ, Tuất. Nếu thấy thủy ở Hợi xung vào thì huyệt có nhiều bùn nước là họa bại
17-Kỷ Mão khí ở chính Giáp long, Đinh tài đều phát đạt, ăn mặc phong lưu. Nếu thấy
thủy ở Tốn xung vào thì có chuột bọ đục khoét hài cốt, con cháu đau buồn, không nghi hoặc gì nữa.
18-Tân Mão khí có 5 phân Tân, 5 phân Mão là hắc phong, hỏa khanh sanh ra trộm cướp,
ngành thứ 3 bị bại tuyệt trước, rồi đến cả các ngành khác; sau bị thưa kiện, xảy ra nhiều sự hung dữ. Nếu thấy thủy ở Canh Thân lại thì quan tài có đầy bùn ngập. Mộ này chậm không chịu di cải thì bị bại tuyệt không tránh khỏi.
19-Quý  Mão  khí  ở  chính  Mão  long  thì  phú  quý  song  toàn,  sinh  ra  người  thông  minh, khỏe  mạnh, mọi  sự tăng tiến. Nếu thấy thủy  ở  Tị phương xung  vào thì có rễ cây  đâm  vào quan tài, lành dữ đều ứng vào các năm Tị, Dậu, Sửu
20-Ất Mão khí, 3 phân ất, 7 phân Mão, hay sinh ra người cô quả, yểu tử, đời sau sinh ra
người khòng lưng, khèo chân, tuy có người cũng khó giữ thân thế an toàn. Nếu thấy thủy ở phương Tuất xung vào thì trong huyệt có nhiều bùn nước nuôi cá tốt.
21-Mậu Thìn khí, 7 phân ất, 3 phân Mão, thì được người trường thọ, giàu sang, danh giá
nêu cao. Nếu thấy thủy ở phương Thân, Dậu xung vào thì trong quan tài có kiến, bọ, ứng vào những năm Tị, Dậu, Sửu
22-Canh Thìn  khí ở ngay ất long, thì an nhàn phát phúc  vĩnh cửu  vô cùng; 7 đời giàu
sang,  sanh  ra  người  tuấn  tú,  anh  hùng,  siêu  quần  quán  thế,  ứng  vào  những  năm  Hợi,  Mão, Mùi; chỉ sợ Đinh thủy xung vào thì sinh hỏa tai.
23-Nhâm Thìn khí, 5 phân Thìn, 5 phân ất là hắc phong, hỏa khanh, bại tuyệt, hay què
chân, sinh khẩu thiệt, thưa kiện, ly hương, tu đạo, biệt tông. Nếu thấy thủy ở phương Tuất lại thì quan tài có bùn, bọ, kiến ở trong.
24-Giáp Thìn  khí ở chính Thìn long thì 75 năm phát  giàu sang thịnh  vượng. Nếu thấy
Tý, Quý thủy đến thì trong huyệt có bùn ngâm
25-Bính Thìn khí, 7 phân Thìn, 3 phân Tốn, thì người ngoài được phát phúc no ấm, yên
ổn, rước con rể vào phòng (rước họa vào nhà) đời sau bại tuyệt vô tử, ứng vào những năm Thân, Tý, Thìn. Nếu thấy Dần, Thân thủy xung vào, thì bị rễ cây đâm vào quan, vong nhân bất an.
26-Kỷ  Tị  khí,  7  phân  Tốn,  3  phân  Thìn  thì  phú  quý  ngang  nhau,  ứng  vào  những  năm Hợi, Mão, Mùi. Nếu thấy phương Kiền thủy xung, thì thây cốt chôn bùn
27-Quý  Tị  khí,  5  phân  Tị,  5  phân  Tốn  là  hắc  phong,  hỏa  khanh  thì  bại  tuyệt,  bách  sự hung  dữ,  sau  khi  táng  5  hoặc  7  năm  thì  già  trẻ,  lục  súc  tan  như  gió  bay.  Nếu  thấy  thủy  ở phương Sửu đến xung thì có chột làm tổ ở trong huyệt.
28-Ất  Tị  khí  ở  chính  Tị  long,  được  vinh  hoa,  phú  quý,  phúc  lộc  hưng  long,  ứng  vào những năm Dần, Ngọ, Tuất có nghiệm. Nếu Quý thủy xung vào thì quan tài có bùn đầy.
29-Đinh Tị  khí, 7 phân Tị, 3 phân Bính, thì sau 3 hoặc 7 năm thì  khẩu thiệt đều. Nếu
thấy Mão thủy đến thì trong quan tài có bùn và nước ở ngoài xâm nhập
30-Tân Tị khí ở chính Tốn long thì quá nguyệt là phát vinh hoa phú quý cho con cháu
dòng họ, ứng vào những năm Tị, Dậu, Sửu; chỉ sợ là Ngọ Đinh thủy lại xung thôi
31-Canh Ngọ khí, 7 phân Bính, 3 phân Tị thì nhân hưng tài vượng sẽ hẹn được đời đời
tăng tiến hạnh phúc, ứng  vào các năm Thân, Tý, Thìn, Dần, Ngọ, Tuất; chỉ kỵ thủy ở Giáp Dần lại thì tổn Đinh.
32-Nhâm Ngọ khí ở chính Bính long thì sinh xuất anh hung, phú quý song toàn, được 3
đời,  sau  cháu  chắt  vẫn  còn  thịnh  vượng,  ân  hưởng  bằng  sắc  huy  chương.  Kỵ  thấy  thủy  ở phương Thân lại thì hỏng.
33-Giáp Ngọ khí, 5 phân Bính, 5 phân Ngọ là hỏa khanh, năm Tị, Dậu, Sửu gia trung bị
bại khuynh. Lại thấy Đinh, Ngọ thủy lại thì đáy quan tài nát như bùn.
34-Bính Ngọ khí ở chính Ngọ long thì gia nghiệp bình bình, sinh ra người thông minh,
mọi mưu sự đều thành tốt lành; gặp vào các năm Thân, Tý, Thìn, Tị, Dậu, Sửu. Nếu thấy Sửu, Cấn thủy lại xung thì trong quan tài bùn nước vào thì hỏng.
35-Khí Mậu Ngọ, 7 phân Ngọ, 3 phân Đinh thì quan tụng, khẩu thiệt rắc rối, người của
bình thường, hằng năm hay sanh ra hoành sự bất ngờ. Nếu thấy thủy ở Quý, Tý xung thì ứng vào những năm Dần, Ngọ, Tuất không sai
36-Tân Mùi khí, 7 phân Đinh, 3 phân Ngọ thì sinh người tuấn kiệt, phát phúc mạnh như
sấm động, tiền nát, thóc mục đầy kho. Nếu thấy Ngọ phương thủy xung, thì quan tài bị rễ cây xuyên vào thì rất xấu.
37-Quý Mùi khí ở chính Đinh long, thì sinh ra người phú quý, thọ khảo mộc đầu. Nếu
thấy phương Canh thủy xung vào thì người chết về tai ách, ứng vào các năm Hợi, Mão, Mùi
38-Ất Mùi khí, 5 phân Đinh, 5 phân Mùi là phạm cô hư, hỏa khanh thì bại tuyệt rất đau
đớn. Lại thấy Tị phương thủy xung, thì thây xương nát rã thành đất bùn, ứng vào các năm Tị, Dậu Sửu.
39-Đinh Mùi khí ở chính Mùi long thì gặp được phú quý song toàn, lâu dài, ứng vào các
năm Thân, Tý, Thìn. Còn gặp hung sự vào những năm Dần, Ngọ, Tuất. Nếu thấy Sửu, Cấn phương thủy xung vào thì bùn nước đầy trong quan tài là hỏng.
40-Kỷ Mùi khí, 7 phân Mùi, 3 phân Khôn là phạm cô hư thì bị tai họa phá bại không sai.
Đến hạn những năm Dần, Ngọ, Tuất thì sinh ra bệnh phong mê cuồng độc. Nếu thấy thủy ở phương Hợi, Nhâm xung vào thì nhi tôn có sự tai họa bất ngờ.
41-Nhâm Thân khí, 7 phân Khôn, 3 phân Mùi thì phá gia tài, bại sản, bệnh tật, đau đớn
liên miên đáng buồn khổ, ứng vào những năm Tị, Dậu, Sửu, thuốc thang khó điều trị. Nếu gặp thủy ở phương Ngọ xung thì quan tài có đầy nước.
42-Giáp Thân khí ở chính Khôn long, được sinh ra người thông minh, tuấn tú, phú quý
thanh nhàn, điềm ứng  vào các năm Thân, Tý, Thìn; đời đời vui  vẻ  vô cùng. Nếu thấy thủy phương Càn lưu xung thì quan tài bể nát làm hư thì hỏng bại
43-Bính Thân khí, 5 phân Thân, 5 phân Khôn là hắc phong, hỏa khanh bị bại tuyệt bần
cùng. Nếu thấy Tý, Quý thủy xung thì huyệt có bùn nước, thực không sai.
44-Mậu Thân khí ở chính Thân long thì sinh ra người thông minh trường thọ, phú quý
song toàn. Nếu thấy Giáp thủy xông vào thì quan tài đầy bùn nước, là tối hung.
45-Canh Thân khí, 7 phân Thân, 3 phân Canh thì phạm cô hư, có nhiều tai nạn xảy ra.
Lại thấy Kiền thủy lai xung, thì người bị về tai nạn áp bức chết.
46-Quý Dậu khí, 7 phân Canh, 3 phân Thân được phát phú quý, người của vẹn toàn cả
hai và sống lâu. Nếu thấy thủy phương Đinh xung vào thì huyệt trở thành ao ngâm nước quan tài, hài cốt hư nát.
47-Đinh Dậu khí, 5 phân Canh, 5 phân Dậu là phạm hỏa khanh, thì bách sự bất như ý, bị
tuyệt tự nhân Đinh. Nếu thấy Quý thủy xung vào thì quan tài đầy bùn nước mãi.
48-Ất Dậu khí ở chính Khôn long sinh ra người rất thông minh và giàu sang. Nếu thấy
thủy Thìn phương xung vào thì quan tài chôn chỗ nước bùn.
49-Kỷ Dậu khí ở chính Dậu long, thì phát văn võ gần tới tước tam công (quan to) đời đời
giàu sang, điềm ứng vào những năm Thân, Tý, Thìn. Nếu thấy thủy phương Mão xung, thì áo quan cũng bị bùn vào, không kết phát đâu.
50-Tân Dậu khí, 7 phân Dậu, 3 phân Tân thì giàu sang bền mãi, người của hưng vượng,
mọi sự đều tốt lành, sẽ ứng vào các năm Hợi, Mão, Mùi. Nếu thấy Kiền thủy phương xung vào quan tài thì lại ưu sầu.
51-Giáp Tuất khí, 7 phân Tân, 3 phân Dậu, được phát phú quý 1 đời không vẹn, qua đời
sau sinh ra người đi làm tăng ni tu đạo; ứng vào các năm Dần, Ngọ, Tuất, bị cô quả mà bại tuyệt, mọi sự buồn chán, lo âu. Nếu thấy thủy phương Nhâm xung vào thì sinh ra kỳ quái, ma quỷ trêu quậy.
52-Bính Tuất khí ở chính Tân long thì sinh ra nhân Đinh phát đạt vui vẻ, đăng khoa cập
đệ sớm, vào những năm Thân, Tý, Thìn. Nếu thấy Giáp Mão thủy xung, có rễ cây đâm xuyên vào quan tài.
53-Mậu Tuất khí 5 phân Tuất, 5 phân Thân, phạm  vào cô hư, hỏa khanh, bị bại tuyệt,
người  sinh  nhiều  bệnh  tật,  chết  non,  cô  quả,  vào  chùa  tu  đạo,  tổn  vợ  khắc  con,  quyết  định không nghi hoặc, ứng vào các năm Ngọ, Mùi đã biết trước rồi, lại chịu nhiều tai họa kỳ dị. Nếu thấy thủy phương ở Thân xung thì quan tài hư nát không còn.
54-Canh Tuất khí ở chính Tuất long, thì được giàu sang, sung sướng,ăn mặc phong lưu,
những năm Tị, Dậu, Sửu thấy tin vui mừng, 36 năm sẽ sanh ra người thông minh xuất chúng. Nếu thấy Ngọ, Đinh thủy xung vào thì hung bại.
55-Nhâm Tuất khí, 7 phân Tuất, 3 phân Kiền, sinh ra người chết non, không có của cải,
Ly hương vào chùa tu đạo, tổn khê, khắc tử, bại phòng 2 (con thứ 2 bại), thoái bại không thể lo  tính  thoát  khỏi.  Điềm  ứng  vào  những  năm  Thân,  Tý,  Thìn.  Nếu  thấy  thủy  Thìn,  Tuất phương xung thì trong quan tài có đầy bùn nước ngập.
56- Ất Hợi khí, 7 phân Kiền, 3 phân Tuất sinh ra con dâu quả phụ, chết non, bệnh tật
phong tàn đủ cảnh thảm thương, con mồ côi. Năm Dần, Ngọ, Tuất thì phát khốc đau buồn. Nếu thấy thủy ở cung Khôn xung thì trong quan tài đầy mối kiến đục gặm.
57-Đinh Hợi khí ở chính Kiền long thì đại phát phú quý, được nhiều sự cát khánh, ứng
vào các năm Thân, Tý, Thìn; chỉ sợ Tốn thủy phương xung thì quan tài đầy bùn nước mục nát, tối hung.
58-Tân Hợi khí ở chính Hợi long, thì Đinh tài đều phát, lâu bền thịnh vượng. Nếu thấy
Ngọ, Đinh thủy xung thì bùn vào quan tài mục nát, đại hung, tối kỵ.
59-Kỷ Hợi khí, 5 phân Kiền, 5 phân Hợi là phạm hắc long hỏa khanh, sinh ra hung bại,
đến  những  năm  Thân,  Tý,  Thìn,  Dần,  Ngọ,  Tuất  người  ly  tán  tha  phương,  đa  sinh  kỳ  quái. Nếu thấy Canh, Dậu thủy xung, thì rễ cây xuyên đâm vào quan tài thì hung bại.
60-Quý Hợi khí, 7 phân Hợi, 3 phân Nhâm, được làm quan, phát mọi sự, phong hanh,
người của được thịnh vượng, sẽ ứng vào các năm Thân, Tý, Thìn có nhiều cảnh vui đẹp. Nếu thấy Thìn thủy xung thì trong quan tài không sạch sẽ.

SƯU TẦM
http://vnthuquan.net/diendan/%28S%284uk55k55cidmaz55fywcpl55%29%29/tm.aspx?m=370828&mpage=2&key=

Thứ Sáu, 15 tháng 7, 2022

NHỮNG CUỘC HÀNH HÓA KHAI THÔNG HUYỆT ĐẠO THỜI NAY


Cả Đoàn nghỉ ăn cơm trưa tại KỲ VÂN ĐIỆN. Khoảng đầu giờ Mùi,cả Đoàn lại cất bước đổi hướng sang phía KỲ VÂN ĐỘNG.Khoảng cách giữa hai điểm khoảng 2 Km đường rừng và đi lên cao hơn nữa.KỲ VÂN ĐỘNG là một loạt hang động rất lớn và có những động có hình thù thật là kỳ lạ. Trong một hang động có hình thù kỳ lạ nhất,bao gồm rất nhiều cấp, người ta đã tu tạo lại và lập thành những bàn thờ bằng đá Thiên nhiên vô cùng đẹp đẽ.Một phiến đá cực lớn nằm nghiêng nghiêng tạo thành một chiếc mái che cho toàn bộ hang động này.Tại hang này người ta thờ các bà Chúa Ngũ hành,các bà chúa Tiên,Chúa Ngàn...Những người trông coi khu vực này là những người thuộc hàng Cư sĩ và thường là có tới vài ba Đời trông coi hang động.Vào trong những hang như thế này người ta cảm nhận được hơi lạnh của đá,độ ẩm của núi và không khí hư ảo của Thiên nhiên kỳ vĩ.

Tuy nhiên theo nhận xét của dienbatn,cả KỲ VÂN ĐIỆN và KỲ VÂN ĐỘNG đều nằm cùng phía nhìn ra biển và như đã phân tích ở trên, phía này không thể có Huyệt kết được.

Trong dặng núi này,nếu có Huyệt kết phải nằm ở phía bên kia của dãy núi.Khi đứng từ đỉnh của KỲ VÂN ĐIỆN nhìn kỹ hình thể của toàn bộ dẫy núi chạy dài theo trục Tây Bắc - Đông Nam, nhìn qua phía bên kia của sườn núi,người ta thông thấy rõ rệt hình dáng của tay Long Tay hổ,và trước mặt là một Minh đường vô cùng rộng rãi trải dài hết cả một vùng đồng bằng xa tít ngoài kia. Một thung lũng đẹp đẽ nằm lặng lẽ giữa hai triền núi, thấp thoáng những căn nhà ẩn hiện sau những tàn cây xanh um.Tại vùng trung tâm của Thung lũng, tự nhiên nổi lên một gò đất cao hơn xung quanh chừng hơn một thước,cây cối mọc xanh um.Bốn xung quanh cuộc đất đó có nhiều đường gân nổi cao lên và chạy uốn lượn xung quanh. Một con suối nhỏ, nước trong vắt lặng lẽ chẩy như muốm lưu luyến ôm lấy cuộc đất đó.Đây chính là một kiểu đất LA THÀNH VIÊN CỤC kiểu mẫu theo thuật PHONG THỦY.
Táng kinh viết: " Cát Địa thường là nơi bằng phẳng ,rộng rãi,cát Địa thường là nơi có chi Long bắt đầu duỗi thân,cát Địa cũng tùy theo Linh khí của chi Long mà dàn trải,nơi Chi Long đến,cũng là chỗ cát Địa kết tụ nhiều Tinh khí. Phép quan sát Chi Long là xem Long mạch có nhấp nhô uyển chuyển,lộ rõ sự huyền diệu hay không. Nếu có cát khí, thì cát Địa sẽ nổi lên theo nó. Chi Long chứa đựng Tinh khí sung mãn, sông nước cũng đi theo bên cạnh nó. Khí thế của nó rất thuận đạt, Sơn thế rất linh động."
Dương công viết: "Địa thế xung quanh Chi Long giống như một vùng nước mênh mông cuồn cuộn, nối liền Trời với Đất, chi Long uốn mình ngoằn ngoèo, có lúc chỉ nổi lên như một sợi chỉ mảnh có lúc chìm đi đứt đoạn, rồi lại nổi lên.Ở phía trước sẽ gặp sự hội lưu của Thủy thành, nhất định phải có cách định địa Huyệt phân minh.Chi Long từ chỗ cao hội tụ đến chỗ bằng phẳng ,phân chi của Sa và Thủy cũng tưưng nghênh ở hai bên, từ phía trước mà tới.".
Trạng Trình NGUYỄN BỈNH KHIÊM đã nói về KỲ VÂN huyệt như sau
:
"Bắc hữu Kim Thành tráng
Nam tọa Ngọc Bích thành".

Ngọc bích Thành chính là dãy núi Kỳ vân tại Bà rịa .Đây là một cực Dương Huyệt.
Đoàn chúng tôi di chuyển xuống Thung lũng ở phía bên kia dẫy núi, nơi có sự kết Huyệt của dãy núi KỲ VÂN. Đây là một thung lũng có diện tích khoảng vài chục Km2. Tay long tay hổ rất cân phân và chụm đầu vào nhau rất đẹp.Sau một hồi thảo luận về tính chất Ngũ hành của KỲ VÂN HUYỆT, vị Trưởng Đoàn quyết định thời gian và phương thức lập trận tại Địa Huyệt này.Bởi đây là một cực Dương Huyệt nên thời gian lập trận phải là giờ âm ,do vậy vị Trưởng Đoàn quyết định tới giờ Tý mới thực hiện trận pháp.Mặt khác , cũng vì là Dương Huyệt nên thế trận trong trường hợp này không sử dụng BÁT QUÁI THIÊN ĐỒ TRẬN như bên đỉnh Thái hư nữa mà thực hiện BẠCH KỲ BÁT MÔN TRẬN.
Cũng theo Điển chữ Thiên dạy,trận pháp này phần Vô vi tá trợ cho Trận đồ có phần Hồng ân Linh điển của ĐỨC HỒNG QUÂN THƯỢNG TỔ,ĐỨC LẠC LONG QUÂN PHỤ,ĐỨC HỒNG BÀNG TIÊN MẪU,ĐỨC QUAN ÂM NHƯ LAI,chư vị BÁT BỘ THIÊN LONG, đức cha LINH QUANG VÀ CHƯ VỊ thổ địa- thành hoàng BỔN CẢNH ân chuyển.
BÁT BẠCH KỲ TRẬN sử dụng nơi đây hầu thông sanh KỲ VÂN HUYỆT ,sử dụng năng lượng được giải phóng của Địa Huyệt để giải khai các chướng ngại đã tạo nên Thiên tai - Địa họa đang hoành hành khắp nơi trên Địa cầu này.
Trận đồ này chỉ sử dụng tám vị nguyên căn có công lực cao nhất, chia ra trấn giữ tám cung CÀN,KHẢM,CẤN, CHẤN, TỐN, LY, KHÔN ,ĐOÀI. Tất cả những người còn lại,đứng ở vòng ngoài của Trận phát công trợ giúp cho những người bên trong trận. Trận đồ này được xây dựng trên nguyên lý BẠCH KỲ CHÁNH VỊ,biến khắc thành sanh, biến sanh thành thuần. BẠCH KỲ BÁT MÔN THIÊN TIÊN CHÁNH VỊ điều chuyển hoà khí anh lành ,đượm nhuần khắp nhân gian,còn có tác dụng khai tâm ,điểm ngộ cho các Âm binh,hồn oan,phách lạc đều được hồng ân mà chuyển kiếp.
Tý thời :BẠCH KỲ BÁT MÔN TIÊN THIÊN CHÁNH VỊ được lập tại vùng có Địa Huyệt của Kỳ vân.Vì đây là cực Dương Huyệt nên giờ khai mở trận là giờ âm. Ta cũng cần chú ý đến một điều khác lạ so với cách mở Huyệt của phép Tý- Ngọ lưu trú hay Linh quy Bát pháp.Theo cách khai mở Huyệt của những phương pháp này thi Huyệt Dương phải mở vào giờ Dương,Huyệt âm mở vào giờ âm.Như vậy tại đây có sự đảo ngược giữa thời gian mở Địa Huyệt và Nhân Huyệt.
BẠCH KỲ BÁT MÔN THIÊN TIÊN CHÁNH VỊ được thành lập trên cơ sở đồ hình Thiên tiên bát quái cùng các trực phù,trực sử ứng với các phương .Tại mỗi vị trí ứng với các cung có cắm những Bạch kỳ trên có vẽ những Linh phù theo sự ban truyền của Điển đã tiếp nhận được.Người Trưởng Đoàn tay cầm đăng quang và Kỳ ân triển khai lệnh chỉ định thế trận, trong tức khắc trận đồ được định hình và mở cửa trận theo hướng Đông Nam. Linh kỳ bay phấp phới theo nguồn Phong cấu từ hướng Đông Nam thổi về Tây Bắc.Bấy giờ phần chơn giác của tám nguyên căn đồng tụ phàm họa Phù,thỉnh Ấn đồng lập trận.
Sau đó BÁT BỘ THIÊN LONG giáng hạ.Sau khi chư vị BÁT BỘ THIÊN LONG hành lễ Thánh ca Quốc Đạo được ứng nơi Liên hoàn thì ĐỨC LẠC LONG QUÂN điển ân cho khắp nơi được thọ phần Hồng ân Thiên phúc.
Khi BẠCH KỲ BÁT MÔN THIÊN TIÊN CHÁNH VỊ bắt đầu được khởi động ,các nguyên căn thấy ánh Hồng quang chiếu sáng rực cả một vùng Trời,các Đấng Thiêng liêng ngự và các Chư BÁT BỘ THIÊN LONG đang chuyển vận,xoay vần Khí Điển phóng các xung Khí vào trung cung Huyệt vị.ĐỨC MẸ HỒNG BÀNG hiện về tán thán công đức cuộc hoằng hóa độ Sinh của Đoàn.ĐỨC LẠC LONG QUÂN PHỤ đang hiện ra trên không.Tất cả các nguyên căn đều thấy rất rõ ràng ĐỨC LẠC LONG QUÂN PHỤ đang hiện ra trên không,Y phục ,Triều nghi rất phi phong trong vầng hồng quang và điểm mật chỉ cho riêng mình.ĐỨC LẠC LONG QUÂN PHỤ đang ngự trên Kim Long, mặc áo Hoàng bào mầu vàng, đầu đội Mão Triều nghi,sắc diện phương phi,râu trắng dài quá rốn,Kim quang tỏa chiếu sáng ngời.Vầng Kim quang hiện trên đầu Kim Long,các vẩy Rồng lấp lánh.Kim Long đang cất đầu trên biển,mặt quay về phía Đông Bắc.Cùng lúc đó các Nguyên căn lại thấy có ánh hào quang chiếu lấp lánh trên cao.ĐỨC QUAN ÂM NAM HẢI ngự trên mây.Cả Đoàn nhất tâm đảnh lễ các Đấng.
5 giờ BẠCH KỲ BÁT MÔN THIÊN TIÊN CHÁNH VỊ đã thực hiện xong.Huyền môn khai mở,chơn Điển toà ngời,Huyệt đạo đều thông,Khí Điển chuyển cùng khắp Trời.
Có thơ rằng :

"Từ việc lý siêu điểm khắp nơi,
Cơ Thiên vận ứng hiệp kỳ thời,
Vồ hư - Tông ẩn do Cơ cuộc,
Đảo khỉ đồ sinh mặc sự đời.
Nhược Thủy - Môn quan bình giải thoát,
Nhành dương Thiên lộ chuyển hành khơi.
Mở đường, thông hướng nhiều Duyên mới,
Ánh Pháp huyền vi chiếu rạng ngời. "

Qua đàn Siêu Thiên trên, ĐỨC MẸ còn điển hồng ân cho tất cả các Nhiệm hành đã được hoàn thành trong chuyến Hành hóa Khai thông Đồ trận, và báo tin sẽ lập nhiều Cơ mật nhiệm cho các Liên chi Hòa phái để kịp vận chuyển Đại đồng.
Đoàn Hành hóa Khai thông Đồ trận do sự điều chuyển của Cơ Thiên được ứng trong các nguồn Điển của nhiều Đồng tử ở nhiều nơi,nhiều cơ Đạo khác nhau đang cùng trên bước đường vận hành.Điều đó cũng nói lên các Lý Điển được đồng thông với nhau qua ý thức tình thương Đại đồng Nguyên Lý đang thời khai triển rạng rỡ khắp muôn nơi.
Kết quả cuộc vận hành khai thông Trận đồ là mở cửa sự Liên giao rộng cùng Ngũ chi Tam giáo toàn khắp Ngũ châu Thế giới.Lấy HOA- SEN- THÀNH làm Huyệt mở từ Nam ra Bắc đã được khai thông từ những cuộc Hành hóa trước để kết hợp chuyến đi Hành hóa này khai thông những Huyệt mạch từ Đông sang Tây mà Trung điểm là KIM THÀNH HUYỆT càng thêm sáng rực hào quang Địa linh- Nhân kiệt.
Vậy có thơ rằng :

"Đại đồng khai triển hội quần Tiên,
Chơn lý bừng soi ánh diệu huyền.
Hòa Phái trong cơ thông trí Pháp,
Liên chi các Giáo ứng Tâm nguyền.
Căn Duyên điểm hóa gương lưu để,
Sứ mạng Hoằng dương Sử chép biên.
Hiệp thể Linh quy đồng tiến hóa,
HOA- SEN- THÀNH rạng Pháp tâm truyền"

THAY LỜI KẾT :
Bốn chữ “kiến bất năng cập”nằm trong một đoạn kinh văn trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển thứ 2 trong bộ 10 quyển. Nguyên văn chữ Hán như sau:

“Thị cố A Nan! nhữ kim đương tri: kiến minh chi thời, kiến phi thị minh; kiến ám chi thời, kiến phi thị ám; kiến không chi thời, kiến phi thị không; kiến tắc chi thời, kiến phi thị tắc; tứ nghĩa thành tựu, nhữ phục ưng tri, kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến; kiến do ly kiến, kiến bất năng cập...”

Dịch Nghĩa: Cư sĩ Tăng Phụng Nghi; Dịch giả: Thiền sư Nhẫn Tế:

"Cho nên, Anan, bây giờ ông nên biết rằng :
Khi thấy sáng, cái thấy chẳng phải là sáng.
Khi thấy tối, cái thấy chẳng phải là tốị
Khi thấy không, cái Thấy chẳng phải là không.
Khi thấy ngăn bít, cái thấy chẳng phải là ngăn bít.

Bốn nghĩa đó đã thành rồi, ông lại nên biết: khi Thấy mà có tướng Thấy, cái Thấy đó chẳng phải là Tánh Thấỵ

Cái Thấy mà do lìa tướng Thấy, đó là Tánh Thấy Siêu Việt (Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến. Kiến do ly kiến, kiến bất năng cập).

"Vậy thì làm sao lại nói các tướng Nhân Duyên, Tự Nhiên hay Hòa Hợp ?"

Tông Thông rằng :

"Chỗ này Đức Thế Tôn hiển bày Đệ Nhất Nghĩa Đế, cái gọi là Con Đường Bồ Đề Nhiệm Mầụ Kiến và Kiến Duyên đủ năm thứ nghĩa : Sáng, Tối, Hư Không, Ngăn Bít là bốn thứ; Kiến Duyên và Kiến Tinh (cái Thấy) là một thứ Vọng Kiến.

Thế Tôn ở chỗ này mà lựa ra cái Kiến Tinh chẳng phải là bốn thứ Sáng, Tối, Không, Bít. Lấy bốn nghĩa này suy ra để rõ được cái Thấy lìa duyên trần mà vẫn tự có.

Ngay ở đây lại lựa ra cái Chơn Kiến (Tánh Thấy) soi rõ Kiến Tinh, là cái mà cái Thấy không thể bì kịp. Đây chính là mặt trăng thứ nhất, cho nên cái Thấy vẫn còn là vọng.

A ha ! Cái Chơn Kiến còn lìa cả mọi tướng thấy thì chỗ nào có hơi thở, bóng dáng gì để theo đó mà mô phỏng ra nó ? Nói Nhân Duyên, nói Tự Nhiên, nói Hòa Hiệp, há chẳng là hư vọng ư ?

Tổ Bá Trượng hỏi vị tăng :
--"Thấy không ?"

Đáp :
-- "Dạ, thấy".

Tổ Trượng rằng :
-- "Sau khi thấy thì như thế nàỏ"

Đáp :
-- "Thấy chẳng có hai".

Tổ Trượng nói :
-- " Đã nói là thấy thì không hai, tức là không lấy cái Thấy mà thấy nơi Cái Vốn Thấỵ Nếu Cái Vốn Thấy mà trở lại thấy, thì cái Thấy trước là đúng hay cái Thấy sau là đúng ? Như nói, "Khi Thấy mà còn có tướng Thấy, đó chẳng phải là Chơn Kiến. Thấy mà do lìa tất cả tướng Thấy, cái Thấy ấy là Siêu Việt [ Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến. Kiến do ly kiến, kiến bất năng cập). ]". Bởi thế, chẳng hành cái Pháp Thấy, chẳng hành cái Pháp Nghe, chẳng hành cái Pháp Giác Ngộ, thì Chư Phật liền thọ ký".
Sắc - Sắc -Không- không- Thực hư - Hư thực cảnh Trần tuỳ Duyên."PHÚC CHO AI KHÔNG THẤY MÀ TIN ".dienbatn xin kết thúc bài viết tại nơi đây. Xin tặng các bạn những câu tụng sau thay cho lời chào :

"Xin gọi thức người mê muội khổ,
Nhớ cội nguồn Thủy Tổ Ông Cha.
Trùng trùng ,điệp điệp bao la,
Trời Nam cẩm tú nguy nga tạo thành.
Trải nhiều đoạn tương tranh thống khổ
Bốn ngàn năm Quốc Tổ lưu truyền,
Thạnh suy bĩ thái,loạn yên,
Cũng còn giữ vẹn mối giềng Lạc Long.
Nòi giống của Ông Cha tuấn kiệt,
Nhân nghĩa cao Khí tiết đại hùng.
Nhiệt thành hiền hiếu bao dung,
Nên chi Sắc điệp Kim cung đứng đầu.
Ngày quả Đất thọ câu hủy Thế.
Luật tự nhiên Thượng Đế định rồi,
Tuy là nhược tiểu con tôi,
Ngày sau Vạn Quốc vị ngôi Chủ quyền.
Trước Long Án hương nguyền,khói tỏa,
Quyện nên hình cao cả Thần thông.
Tử sanh cũng lớp bụi hồng
Xa vòng ác trược giữ lòng thanh cao.
Xin các đấng Kiệt hào Thần Thánh,
Thức tỉnh Đời nẻo chánh lần qua.
Chẳng còn Nam - Bắc cách xa,
Đồng bào chủng tộc hiệp hòa thương nhau.
Dứt khổ nghiệp binh đao chia rẽ.
Cùng nhìn nhau một MẸ HỒNG BÀNG..."
Chúc các bạn Bình an- Hạnh phúc.Thân ái.
dienbatn.
(HẾT).

Thứ Tư, 15 tháng 6, 2022

NHỮNG CUỘC HÀNH HÓA KHAI THÔNG HUYỆT ĐẠO THỜI NAY


Bài nay dienbatn đã đăng trên TUVILYSO.COM. Chép lại tặng các bạn. Thân ái.dienbatn.Bài viết này ,dienbatn xin gửi tặng Hà nội và TTPLTY -HÀ NỘI.


THƯA CÁC BẠN TRÊN DIỄN ĐÀN.
Chắc các bạn đã một lần từng nghe những câu chuyện Huyền thoại,hay những câu chuyện về các Thày Địa lý trên đường đi tìm LONG MẠCH -HUYỆT VỊ.Những câu chuyện rất thú vị của cô ANN NGUYEN trong Diễn đàn Thần bí.Ngoài ra ,các bạn nếu đi nhiều nơi cũng thấy nhiều sự kỳ lạ của môn Phong thủy,nhất là Âm trạch.Trong Lịch sử cũng còn ghi lại rất nhiều câu chuyện như sự tích CỘT TRỤ ĐỒNG của PHỤC BA TƯỚNG QUÂN với câu chú :TRỤ ĐỒNG CHIẾT -GIAO CHỈ DIỆT.Hoặc như những cái ẾM ở BÀI BÀI,mà một đệ tử của Phật Thầy TÂY AN là PHẠM THÁI CHUNG tục gọi là ông Đạo Lập,đã phát hiện ra được một hòn đá dùng làm Bùa ếm ở BÀI BÀI.Tấm đá đó bằng đá xanh,trên mặt có khắc dòng chữ Hán :HOÀNG THANH CÀN LONG NGŨ THẤT NIÊN,TRUNG THU ,CỐC ĐÁN.Câu trên tạm dịch nghĩa là :Triều Thanh -Càn long -Năm thứ 57 -Chôn vào tháng 8 âm lịch.Theo cuốn BÍ ẨN PHONG THỦY của ĐOÀN VĂN THÔNG -Từ thẻ đá ,người ta truy nguyên trong quá khứ Lịch sử,cho biết rằng :MẠC CỬU,và về sau là MẠC THIÊN TÍCH (dienbatn đã có dịp đi khảo sát Lăng mộ của dòng họ này và hiện nay con cháu đời thứ 8,9, đang sống tại TP.HỒ CHÍ MINH ),là những người Trung quốc rất rành về khoa Địa lý Phong thủy.Dòng họ này trấn nhậm tại vùng HÀ TIÊN .Hiện còn đền thờ rất đồ sộ gọi là Đền MẠC CỬU.Theo ĐOÀN VĂN THÔNG viết trong cuốn sách đã dẩn :"Người ta cho rằng Mạc Cửu sang miền Nam nước Việt,có mục đích để ếm trù Long mạch tại vùng núi Cấm,mà tấm đá phát hiện vừa nêu là bằng chứng ".Thực hư còn chưa biết nên dienbatn chưa dám khẳng định điều đó,nhưng tấm đá Ếm đó là có thực.Gần đây nhất,khi nạo vét sông TÔ LỊCH,người ta phát hiện ra được một đạo Bùa trấn yểm dưới dòng sông.Về việc này ,dienbatn có viết trong bài :PHONG THỦY,với tên :HIỆN TƯỢNG TRẤN YỂM TRÊN SÔNG TÔ LỊCH -PHÍA CỬA TÂY LA THÀNH.Ngoài ra còn rất nhiều ví dụ khác mà còn đang loan truyền trong dân gian.
Những hiện tượng đó thực chất như thế nào trong khoa Phong Thủy ?Hiện nay,thông thường người ta gán cho những hiện tượng đó là mê tín,dị đoan,là phản Khoa học.
Gần đây dienbatn có diễm phúc được tham dự một cuộc HÀNH HÓA GIẢI KHAI HUYỆT ĐẠO như vậy.dienbatn xin viết lại để các bạn có một cái nhìn khác hơn những gì các bạn đã nghĩ về hiện tượng này.Trong bài viết này,xin thông cảm cho dienbatn được không đề cập đến những vấn đề Chính trị,hay bất cứ một cá nhân nào như nguyên tắc của Diễn đàn chúng ta là Phi Chính trị.Những gì mà dienbatn mắt thấy tai nghe là sự thực,các bạn có quyền tin hay không tin.Những công việc Hành hoá đó,có tác dụng thực tế hay không,xin để thời gian trả lời.dienbatn xin thay đổi tên của những người tham gia,xin các bạn thông cảm,những tên dùng trong bài chỉ là những tên trong Đạo.LINH TẠI NGÃ -BẤT LINH TẠI NGÃ.dienbatn không có trách nhiệm của việc tin hay không tin của các bạn và xin cũng được xếp vào những câu chuyện Huyền thoại.

"Trăm năm trong cõi người ta,
Mua vui cũng được một và trống canh "

PHẦN THỨ NHẤT :CẢO THƠM LẦN GIỞ TRƯỚC ĐÈN :

Ngày 16 tháng Giêng năm Ất hợi (Tức ngày 19/02/1935 ),trong lễ TAM NHẬT ĐÀN tại Tòa Thánh Cao đài -Tây ninh,có xuất hiện một cơ bút còn giữ được cho đến ngày hôm nay.dienbatn xin phép được trích đăng như sau :

"Cơ Trời thay đổi máy CÀN -KHÔN.
Đất dậy,đất tung xác thay hồn,
Tam Giáo giáng Trần quy Ngũ phái.
BÁT MÔN -ĐỒ TRẬN cõi thần hồn ".

Ngày kia tại xứ Việt nam,Trời lập BÁT ĐỒ TRẬN,có tám hướng :CÀN -KHẢM-CẤN -CHẤN -TỐN -LY -KHÔN -ĐOÀI.Hào quang chói giữa lừng Trời,thì Bá đạo hoàn cầu thấy hào quang kéo đến phá trận,cho tiêu tan,giành làm Bá chủ.Trận BÁT MÔN của Thầy lập chính là :THIÊN MÔN TRẬN,Bá đạo vào bảng.Phong Thánh kỳ Ba đó con,thì Bá đạo hoàn cầu thấy hào quang kéo vào phá trận đều bị tiêu diệt,hồn lên bảng Phong Thần tất cả.Như vậy thì Bá đạo không phá nổi trận của Thầy,thì mới tùng lịnh Thầy.
Ngày 17 tháng 1 năm Bính Ngọ -1966,các chưởng Giáo,chức sắc lại nhận được Cơ bút (Từ nay chúng ta gọi là Điển ),về BÁT QUÁI THIÊN ĐỒ TRẬN như sau :
"SƠ DẪN :Bát quái là gì ?Là bộ máy CÀN -KHÔN gồm có Ngũ hành ,phân ra tám hướng ,tạo thành tám cung :CÀN-KHẢM -CẤN-CHẤN-TỐN-LY-KHÔN-ĐOÀI,phối hợp với nhau,chế hóa lẫn nhau để vận chuyển CÀN -KHÔN,hóa sinh muôn loài vạn vật.Tất cả trong Vũ trụ,từ vô vi đến hữu hình,từ Tam Thiên Đại Thiên Thế giới,đến những vật nhỏ bé nhất Trần gian như một Nguyên tử,một lân hư,đều ở trong vòm Bát quái và chịu luật của Bát quái.Cho nên biết được Bát quái,dụng được Ngũ hành là điều động được Thiên cơ,thoát khỏi Luân hồi sanh tử.
Bộ máy ấy năng lực vô biên,mấu nhiệm vô tận,gọi trọn chữ là BÁT QUÁI THIÊN ĐỒ.
Mạt hạ,tàn ngươn,Long hoa Khai điển,cuộc Thế điêu tàn,nên Thượng Đế truyền lập BÁT QUÁI THIÊN ĐỒ tại Trần để cứu cánh những Nguyên căn,những kẻ hiền lành Phước đức.BÁT QUÁI THIÊN ĐỒ tại Thế ,tuy hữu hình,nhưng vận chuyển theo pháp Vô vi,dùng Đạo pháp Siêu nhiên:"QUY TAM BỬU -THỐNG TAM TÀI ",tụ Ngũ Khí để chế biến,sử dụng.Ngũ hành tuân theo luật tương sinh,tương khắc,không chỉ vận chuyển với sức phàm mà đủ,mà còn có các vị Thiên Tiên hỗ trợ,nên rất chi là diệu diệu,huyền huyền,Tam Ngươn mới có một lần vậy.
Chính nhờ đó mới nhiếp thọ được Điển Tiên Thiên,chế ngự được Ngũ hành trược giả,để trước bảo vệ mình,sau cứu chúng sinh trong buổi Long hoa tận diệt.
Sau đó các vị Thánh ,Tiên,lần lượt từng vị giáng Cơ bút (Điển ),xuống cho biết như sau :
"

BÁT bộ Kim cang ứng nhập đàn,
TIÊN ,Thần,Thánh,Phật hiện hào quang,
ỨNG từ Pháp giới hòa Siêu điện,
TRIỆU thỉnh Tiên Thiên hội Đạo vàng.
VẠN chỉ như truyền phong sắc thượng,
THÁNH đề điệp hội tại Nam bang.
LÂM cơ phò trận THIÊN ĐỒ TRẬN,
NGỰ tứ siêu linh chuyển chánh tràng ".

(Các bạn chú ý mấy chữ đầu các câu thơ ).
Bát Tiên phó triệu,Vạn Thánh lâm đàn.Mừng chưởng Giáo cùng Trung tôn Huỳnh Đạo.Thừa Điệp sắc Kim cung,phóng tỏa Hào quang vạn trùng Xá lợi Kim thân,Siêu Thiên Đài truyền điệp chỉ.Thánh -Thần -Tiên Phật đại hỉ lâm cơ,truyền THIÊN ĐỒ THƠ trong thời Long hoa mạt hạ.Vậy trong hàng Trung tôn định tọa tâm hầu ngheThiên Thư chánh giáo của THƯỢNG TỔ ban truyền.Tiên Thiên đồng tá trợ,có VÂN TRUNG TỬ lâm đàn điều động Thiên Đồ.
(Phần này là Điển giáng của BÁT TIÊN,VẠN THÁNH lâm đàn chủ tọa THIÊN ĐỒ TRẬN giải khai Huyệt đạo ).Vị thứ hai lâm đàn giáng Điển là VÂN TRUNG TỬ.


VÂN tựu hào quang chiếu sắc hồng,
TRUNG đài võ lộ định Kim long.
TỬ linh Vương đế khai môn lập.
NHẬP diệu huyền linh trước bệ rồng.
Bệ rồng thừa lệnh Thượng Quân lai ,
Triệu thỉnh Thần tiên ngự Bửu đài,
Cấp cấp thời hư linh vô lộ,
Kim triều điệp sắc nhập Thiên khai.

Bần đạo thừa điệp sắc Thượng tổ lâm đàn,cùng Tiên Thiên khán ngự nhập dự THIÊN ĐỒ.Vậy toàn tất Trung tôn định tịnh,hầu nghe phát lạc Thiên thơ.Trên có Thượng huyền chiếu diệu,Thượng Tổ ban ân,dưới có toàn tất Kim cang đồng lại hộ giá.
Truyền sắc lệnh :Như lai triệu thỉnh Thần Tiên,bên ngoài 50 dặm chẵn.Thừa điệp sắc Thượng quân,Kim cang chi vị,Yết Đế Thần minh tám muôn đồng thọ Điệp sắc.Địa võng,Thiên la Thần minh ứng triệu,thượng ngũ chuyển đại quang,hạ Lục huyền thông dẫn địa,cấp cấp như luật lệnh.
Vị thứ 3 giáng Đàn ban Điển như sau :


QUẢNG pháp truyền khai Chánh Đạo Thiên,
THÀNH tâm đắc lệnh hội nhân hiền,
TỬ thứa điệp chỉ lâm lai khán,
GIÁNG hộ ĐỒ THƠ ý Đạo truyền.

Bần đạo QUẢNG THÀNH TỬ mừng chung.Được câu Tiên bàisắc điệp,thứa lệnh Thượng Tổ LIỄU NHẤT CHƠN NHÂN truyền ,triệu hồi khai đàn lâm thế.

LÂM thế Thiên đồ chuyển Đạo minh,
TRUNG tôn thọ pháp đại huyền linh.
THỜI lai cứu thế Trung ương nhập,
CHUYỂN tứ thông quang hộ Đạo Huỳnh.
Vậy Bần đạo vâng truyền THIÊN ĐỒ định lập,trấn vị CÀN Bát quái Tiên Thiên,triều phong hộ vệ.
Một vị khác lâm đàn,giáng Điển :
NGỌC điệp Thiên ân chiếu triệu hồi,
ĐẢNH lòa pháp giới thượng cao ngôi,
CHƠN như hiện lập Phong Thần mạng,
NHƠN đức triều thăng Đế vị hồi.

Bần đạo NGỌC ĐẢNH CHƠN NHƠN chào mừng chung hàng Trung Tôn Huỳnh đạo.Vui thay,cuộc thế vần xoay,Cơ Trời hiển lộ.Từ độ Tiểu phong Thần đến nay cũng gần Lục vạn niên dư.Thiên thư truyền tái lập.Bần Đạo còn phải khai đàn chuyển tứ huyền thông,vì nhận điệp sắc Kim Long câu Tiên Liễu nhất triệu đàn minh.Giờ linh ,cho nên bần đạo chuyển tứ nơi đây trấn KHẢM cung chi vị.

CÙ dậy Nam phương đúng hạn kỳ.
LƯU truyền pháp định sắc Kim Quy,
TÔN hành Trung Đạo phong đài thọ,
GIÁNG triệu Câu Tiên chí huấn thùy.

Bần đạo CÙ LƯU TÔN chào mừng chung Trung Tôn Huỳnh đạo.Thừa Điệp sắc ân phong Thượng Tổ truyền ban cho,nên hiện hào quang tái nhập Trần gian.Từ khi Tiểu Phong Thần định vị,ngày nay đă qua cuộc Tuần hườn xây chuyển Bách tuế vi kỳ,nhưng cũng chẳng tránh được luật Huyền vi của Thiên công hoạch định.Vậy Bần đạo trấn CẤN cung chi vị .

THÁI bình định lập hội Minh châu,
ẤT giáp thảm thương họa Địa cầu,
CHƠN Đạo Tam Thiên bình tục lụy,
NHƠN thừa lập vị hội chư hầu.


THÁI ẤT CHƠN NHƠN,Bần Đạo mừng chung.Thừa Điệp sắc Câu Tiên Liễu Nhất Chơn nhơn.Bần đạo lâm đàn giờ này có đôi lời chung trong hàng Trung Tôn Huỳnh đạo,ráng rèn công lập quả,tạo lấy THIÊN ĐỒ cứu vớt Kỳ ba,trong thời Long hoa mạt hạ.Vậy Bần đạo trấn CHẤN cung chi vị.

HUỲNH sắc Nam bang chiếu ánh hồng,
LONG môn khởi lập hiện Hoa Long,
CHƠN đài Thánh Chúa qui Tam Ngũ,
NHƠN đức hiền lương hội thọ phong.


CHƠN NHƠN mừng chung hàng Trung Tôn Huỳnh đạo.Vừa thọ sắc Câu Tiễn Liễu Nhứt,cho nên Bần đạo lâm đàn hôm nay để có đôi lời chung cho hàng Trung Tôn Huỳnh đạo.
Bần đạo hiện giờ ngán ngẩm thay cuộc Trần ai trong cơn sóng gió,thương Nhân loại,không nỡ nhìn ngó cảnh tàn hại của Ma Vương,nên Bần đạo chuyển tứ đường Trần trấn TỐN cung chi vị.

LỤC Giáp,Lục Đinh Đạo khởi truyền,
YỂM hòa mạt Trụ chỉ ân Thiên,
CHƠN thường Tam Ngũ phong lai triệu,
NHƠN hiện hào quang điểm vi cương.

LỤC YỂM CHƠN NHƠN ,Bần đạo mừng chung hàng Trung Tôn Huỳnh đạo.Hiện nay cơ Trời đã báo hiệu,Vạn Quốc,Ngũ Châu sắp lâm vào cơn đại Khảo của Tiên Thiên.Lửa Trời sắp thiêu rụi,cảnh đất nọ chuyển lay,quay cuồng vì dục vọng của Nhân Tâm nên Nhân loài phải chịu họa tai điên đảo.Thiên đồ Thơ sắp truyền trong cơ Đạo,một ngày,một bữa,một khắc,một giây,nếu trọn lòng tinh tấn thường hành,sẽ là cơ cứu nguy cho Nhân loại.Vậy Bần đạo trấn LY cung chi vị.

TỪ bi đạo đức hội Nam phương,
HÀNG phục yêu ma sắc chỉ thường,
ĐẠO thị huyền thâm vô chỉ giới,
NHƠN hành điểm hóa hội phong Vương.


Bần đạo thừa sắc điệp Thượng Quân lai ngự.Giờ lành chuyển tứ huyền thông cỡi Rồng hạ giới.Này các Nguyên căn Huỳnh đạo trong hàng Trung Tôn chi vị,phải suy nghĩ tận tường,đây là một con đường cứu an cho sanh chúng trong thời loạn lạc điêu nguy,chớ màng chi vì cảnh tục.Trên Tiên Thiên đã chỉ điều trong đục,mượn xác Thế của hiền nhân hầu chuyển tứ Đại Phong Thần định lập đời Long Hoa Thượng Thánh.Vậy tất cả Nguyên căn nên nghĩ,hầu đại lãnh lấy Lịnh văn,thọ kỳ Pháp gíới.Thiên Thơ định tới buổi Long Hoa phải kiềm Tâm,kiên chí mới đắc được Đạo pháp siêu thâm.THIÊN ĐỒ THƠ chẳng phải tầm thường mà là siêu mầu tuyệt giới.Vậy cố gắng trì Tâm,đừng mong đợi,dầu cho năm tháng cũng ráng luện rèn,cho đến ngày thành Đạo pháp.Bần đạo trấn KHÔN cung chi vị.
Cung cuối ĐOÀI giang rất nhiệm mầu,
VÂN TRUNG TỬ sắc lệnh tay thâu,
Bình Linh Đại yến tuân Thiên mạng,
Trấn vị ĐOÀI cung ý nhiệm mầu.
LIỄU NHẤT CHƠN NHƠN chào mừng chung Trung Tôn Huỳnh đạo.
LIỄU hiện kim quang hội sắc truyền,
HÒA thông pháp giới định Tâm yên,
BỔN như giác thệ quang như thọ,
ĐỊNH lập ĐỒ THƠ lý hóa huyền .
Huyền diệu LIỄU khai Đạo đức kinh,
Thọ đài NHỨT bổn thị huyền linh,
Bất như CHƠN thể vô tâm định,
Hữu đáo NHƠN hành bổn vị minh.
Hiện Thế KHAI quang hòa hội Thánh,
Lâm đàn PHÁP định ý Thiên sinh.
Chuyển như THIÊN Địa Phong Thần ký,
Bổn vị ĐỒ THƠ hội Đạo Huỳnh.


Bần đạo giờ lành thọ Điệp sắc ân ban của Thượng Tổ lâm đàn truyền cho Thần Tiên Thánh Phật hai hàng đồng triều nghinh nghe Điệp sắc:
BÁT QUÁI THIÊN ĐỒ đã định đặt kỳ Đại biến nhân gian.....
....Hễ là người,phải lấy trí nuôi mầm yên tĩnh,chớ đừng yên tĩnh mà nuôi trí tục phàm nhân,đó là sai lầm vào Luân hồi ác trược.Còn thế Thiên đồ đại lược,lấy Đạo pháp siêu thâm cũng vậy.Lấy tĩnh chế động,lấy nên chế hư,lấy chơn chế huyển.Hể người được lựa tuyển vào Đại lược Thiên Đồ,phải hết sức điểm tô,đừng quên con đường mật Pháp vậy>Luôn Tâm cho tịnh,đừng xao xuyến điều chi,dầu phải gặp cảnh biến nguy cần kề bên thể xác,cũng đừng để cho Tâm linh rời rạc mà Thần Thánh khó hộ trì,Ma Vương ,ác quỷ cụng Pháp lực vô biên,Thần thông quảng đại,nhưng trí chẳng hiền,tâm chẳng tịnh,cho nên không nhập vào Chánh Đạo siêu quang.....
............

PHẦN HAI :MỘT VỊ SƯ TRÊN 40 NĂM GIỮ GÌN HUYỆT ĐẠO.

Vào khoảng giữa mùa khô năm 1960,nghĩa là cách đây 44 năm,có một nhà sư ,lúc đó mới có 36 tuổi,đang tu hành tại quê nhà An giang của mình,trong lúc đang Thiền định thì nhận được Ân Điển của Thượng Tổ giáng truyền,cử đi trông coi ,bảo vệ một Đại Huyệt của miền nam.Nhà sư vội vàng từ giã Sư cụ và các Tăng ni trong Chùa,khăn gói quả mướp lên đường.Lúc đó hành trang của nhà sư chỉ có vài bộ đồ với một con rựa sắc như nước.Trực chỉ Đông phương thẳng tới,chỉ ít ngày sau,vị Sư này đã đến chân một quả núi cao chất ngất,thuộc tỉnh Bà rịa -Vũng tầu ngày nay.Ngày ấy,khu vực này còn hoang sơ lắm,trên đỉnh núi mờ mịt mây bay,cây cối xanh rờn thành vệt,chim kêu,vượn hú,vẻ hoang sơ buồn đến nẫu lòng người.Nhà Sư lần mò từ sáng sớm đến tối mới tạm mở được con đường xuyên qua lau lách tới được lưng chừng núi.Ngồi trên phiến đá,nhà sư lần mở tay nải ra lấy nắm cơm muối mè đã khô cứng ra trệu trạo nhai và thỉnh thoảng đưa cơm bằng ngụm nước lấy dưới chân núi hồi sáng.Đốt một đống lửa,nhà sư giăng võng nằm và suy nghĩ mông lung.Vậy là kết thúc những ngày đi đường vất vả và giờ đây khởi đầu một cuộc sống mới đầy gian khổ ,khắc nghiệt.Là một con người,nhà Sư cũng rất ngán ngẩm trước khung cảnh Thiên nhiên quá hoang dã và khắc nghiệt nơi đây,chỉ có đức tin vào sứ mệnh thiêng liêng ,cao cả của mình trước Thượng Tổ,mới gạt bỏ ý định của mình là trèo ngay xuống núi,trở lại Chùa quê nhà.
Sáng hôm sau và những ngày tiếp theo,nhà Sư băng rừng,trèo khắp dẫy núi đó để xác định vị trí mình cần tìm.Gần một tháng trời dòng rã,đói ăn cây ,củ rừng,khát xuống tận chân núi lấy nước,nhà Sư đã tìm được vị trí mình cần tìm ở lưng chừng dẫy núi.Và cũng từ ngày đó ,nhà Sư dựng tạm một túp lều đơn sơ gần đó và thực sự bắt đầu cuộc sống của mình.Hàng ngày ngoài tứ thời Tý-Ngọ-Mão -Dậu phải ở trong lều tụng Kinh,niệm Phật,Trì,chú,nhà Sư vác dao vào rừng đốn củi ,đem xuống chợ chân núi đổi lấy Gạo,muối và những thứ cần dùng khác.Mỗi khi xuống núi,nhà sư lại đem theo cái can mủ loại 20 lít để thồ nước từ dưới chân núi lên để tắm giặt ăn uống.Chúng tôi được nghe đích thân Sư kể lại rằng :Lúc đó đang mùa khô,nước khan hiếm lắm,mang dược can nước lên,ngoài nấu cơm và uống,phải hạn chế sử dụng hết mức.Nước sau khi tắm,phải hứng lại để giặt quần áo.Rồi dần dần tháng năm cứ trôi đi,từ một chàng trai khỏe mạnh,đầy nhiệt huyết,nhà sư giờ đây đã trở thành một vị sư già trên 80 tuổi.Trong hơn bốn mươi năm qua,nhà sư có thể tự hào là không nhận tiền của cúng dường của các Phật tử hay khách hành hương mang tới cúng.dienbatn cũng được dân địa phương gần đó kể cho biết rằng :Mấy năm trước ,Sư còn cho dựng một cái bảng ngay đường đi lên Chùa và ghi trên đo câu :KHÔNG TIẾP KHÁCH VÀ NHẬN ĐỒ CÚNG LỄ.Trong hơn bốn mươi năm đó,bằng những gánh củi,những thứ trái cây hoa lợi thu được nhà Sư đã tự cất cho mình được một ngôi Chùa tuy rất đơn sơ,nhưng sạch sẽ,khang trang.Những năm gần đây Sư còn lập được hai đàn thờ có tượng của Bác Hồ ,quanh năm hương khói .Con đường ngày xưa chông gai hiểm hóc,đến nay xe 4 chỗ đã có thể đi được gần tới (Chỉ cách khoảng 1 Km ).Cách đây 9 năm,một vị Trưởng lão cũng theo Điển giáng ,tới gặp Sư.Sau một ngày trò chuyện,căn dặn,nhà Sư trao cho vị Trưởng lão đó một Sắc lệnh của THÁI THƯỢNG LÃO QUÂN,và một lần nữa,vị Trưởng lão đó lại lên đường thực hiện nhiệm vụ của Thiên lệnh.
Đến đây chắc các bạn sẽ muốn hỏi dienbatn :Vị sư đó là ai và lên núi ở đâu -Làm gì.
Giờ này Sư đã ngoài 80 tuổi và nhiệm vụ thiêng liêng đã hoàn tất,người chuẩn bị về với Tổ tiên ,ông bà.Gần đây khi gặp dienbatn,sư đã già và yếu lắm rồi,nhưng sư rất vui và mãn nguyện vì đã hoàn tất nhiệm vụ.Sư nói :Thầy sắp đi xa rồi.Sư trao tặng cho dienbatn cuốn KINH NHẬT TỤNG với nhan đề :THIÊN ĐIỀU ĐẠI PHÁP -THIÊN ĐẠO ĐẠI PHÁP QUY TÔNG.Nhìn dienbatn sư nói :Các con cố Tâm thực hiện Thánh Điển-Thầy sắp đi rồi.Nhìn nhà sư già dáng Hạc xương mai,nhưng hào khí tinh anh ngất Trời,trong lòng dienbatn tự như thấy hổ thẹn với bản thân mình. Những gì cần làm Sư đã làm xong,dienbatn xin phép tiết lộ cơ Thiên cho bạn đọc trả lời câu hỏi của mình từ đầu tới nay.NHÀ SƯ ĐÓ CÓ TÊN ĐẠO LÀ SƯ TÔNG -TRONG 44 NĂM QUA CÓ CÔNG GÌN GIỮ,BẢO VỆ ĐỈNH NÚI THÁI NHẤT HƯ VÔ TRÊN ĐÓ CÓ MỘT ĐẠI HUYỆT CỦA MIỀN NAM VIỆT NAM TÊN LÀ KỲ PHONG HUYỆT HAY THÁI HƯ HUYỆT.
dienbatn xin mạo muội giải thích thêm để các bạn hiểu về Cơ bút hay thường gọi là ĐIỂN.Đó là những mệnh lệnh ,bài Kinh hay những việc cần truyền đạt của các đấng Chư Thiên truyền xuống ,những người có Thiên căn hoặc do tập luyện đều có thể tiếp nhận dễ dàng.Trong một số Chi Đạo,người ta có chỉ cách tập luyện để có thể tiếp Điển.Những người tiếp được Điển thường gọi là Đổng tử.Cách tập luyện để có thể tiếp Điển là thường tự ngồi Thiền và điều khiển cho vòng Nhị Thiên,Tam Thiên di chuyển.Cụ thể,ví như vòng Nhị Thiên,đầu tiên quán tưởng cho hơi thở (gọi là Minh châu )nơi Huyệt Huê quang.Bắt đầu hít vô chuyển cho Minh châu lên Thượng đài,chạy vòng xuống Huyệt Ngọc chẩm rồi xuống Huyệt Giáp tích.Ngưng lại nơi đây,nuốt tân dịch từ từ cho rơi xuống Hạ điền (Rốn ),nằm nơi đó,rồi bắt đầu chuyển từ Huyệt Giáp tích xuống Huyệt Vĩ lư,tới Huyệt Trường cường,sau đó tách ra làm hai bên và đi vòng xuống hai chân,ngưng nơi hai ngón chân cái rồi thở nhẹ ra(Quán tưởng đưa tất cả trược trần xuất ra ngoài 2 ngón chân cái.).Tiếp tục hít hơi vô,cảm thấy 2 làn Điển quang từ ngoài chạy vào 2 ngón chân cái(Cảm thấy mát lạnh ),chạy trở lên Huyệt Trường cường rồi đến Vĩ lư,lên nữa cho đến Giáp tích và ngưng lại đó,nuốt Tân dịch lần nữa đưa về Hạ điền,nằm lại đó.Bắt đầu chuyển tiếp từ Giáp tích ra hai tay ,chạy đến 2 ngón tay cái thì ngưng lại và thở nhẹ ra (Ý tưởng đưa tất cả trần trược xuất ra ngoài ngón tay cái ).Sau đó lại bắt đầu hít vô,cảm thấy có hai lằn Điển chạy vào từ 2 ngón tay đến Giáp tích rồi lên Huyệt Ngọc chẩm,đến Thượng đài rồi trở lại Huê quang.Như vậy là đã đi hết một vòng Châu thiên -Hành như vậy mỗi lần 36 vòng.
Việc tiếp Điển ngoài sự tập luyện chuyên cần ra còn phải có cơ Duyên vì có nhiều người tu luyện cả đời cũng không tiếp Điển được vì trong người còn nhiều trần trược.Khi đã tiếp được Điển rồi,thường khi ngồi Thiền sẽ tiếp được Điển của chư Thiên ban truyền.Có điều lạ là có những người chỉ tiếp Điển được bằng lời văn,lại có những người tiếp được Điển toàn bằng thơ hay những điệu Tân cổ...Mặc dù có người cả đời chưa làm được một câu Lục bát cho đúng Niêm luật,nhưng khi tiếp điển,có khi viết ra một lúc hàng trăm câu thơ rất đúng vần điệu (Như các bạn đã có dịp đọc ở phần trên ).Giáo sư NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG cũng đã lý giải vấn đề này trong cuốn "TÍCH HỢP ĐA VĂN HÓA ĐÔNG TÂY -CHO MỘT CHIẾN LƯỢC GIÁO DỤC )-Các bạn có thể tham khảo thêm để hiểu rõ điều này.
PHẦN THỨ BA :NHỮNG ĐẠI HUYỆT CỦA MIỀN NAM VIỆT NAM TRONG MẮT NHỮNG NHÀ PHONG THỦY.
Tài liệu này theo ĐOÀN VĂN THÔNG chép lại theo cuốn HUYỀN DIỆU THIÊN THƯ của một dị nhân ẩn danh vùng Thất sơn.
"Khoa Địa lý dạy rằng :Hễ một dòng sông bắt nguồn từ nơi đất địa hiển linh,núi cao ngàn năm không người tới ở,rừng rậm ngàn năm không ai tới lui,phóng lượn sóng nghêng ngang ngàn thu không cạn,thì con sông ấy sẽ kết tụ nơi Huyệt "Long đảnh ",một địa linh rất Linh hiển,phì nhiêu về vật chất,cao siêu bội phần về tinh thần.Ngọn CỬU LONG giang là một dòng Bảo giang oanh liệt,oai nghiêm,vừa tạo thành nên vóc vạc hoàn toàn lối 100 năm nay.Liên kết với các núi,Cửu long giang xuất hiện ra 12 HUYỆT huyền diệu,chấm đậm néthùng vĩ trên quả Địa cầu này.
"Bắt đầu khởi kết tụ ngươn khí âm dương xây nên Địa Huyệt thứ nhất tại THẤT SƠN (Châu đốc ).Chỗ ấy ba Huyệt Tiên thiên hiệp lại làm Nê hườn cung ,xuất hiện đúng ngày linh hiển TAM HUÊ TỤ ĐẢNH mùi hương lạ kỳ- bí mật bay ra từ núi Sam đến núi Tượng.Chỗ ấy là cân não,cốt tủy của Cửu long.Tên nó được hưởng ứng theo luồng điện Thiên nhiên,oai nghiêm,từ bi,hùng vĩ,đời sau gọi là KIM THÀNH HUYỆT.Đó là Huyệt dương đã xuất hiện ,Cửu long kết lần với hai dãy núi âm phong cô độc ,liên hiệp thành cặp mắt HÀ TIÊN và PHÚ QUỐC là THỦY TRUNG HUYỆT.TÂY NINH ,núi ĐIỆN BÀ là HUỲNH MÔN HUYỆT,hai đảnh núi ấy thuộc về Âm kết tụ ngươn khí tại Trung ương tạo nên ẤN ĐƯỜNG HUYỆT (Dương )để khai mở luồng điển quang cho các Huyệt kia vừa ngưng tại lối miệt Long xuyên,Bình mỹ (Một dãy cù lao lớn chạy dài từ Bình mỹ xuống gần đến Cần thơ ).
Từ Kim thành Huyệt phóng thẳng xuống mũi Cà mau và núi KỲ VÂN ,hai Huyệt dương nữa ,một bên thì thành sống mũi Cửu long chấm đến Cà mau (Tức là LÂM HUYỀN HUYỆT ),một bên thì Hàm Rồng tại KỲ VÂN (Tức BÍCH NGỌC HUYỆT ).Đồng cân với hai Huyệt âm(THỦY TRUNG HUYỆT VÀ HUỲNH MÔN HUYỆT ),hiện ra một Huyệt thứ sáu (BÌNH NAM HUYỆT ),tại núi Côn nôn là chót lưỡi của Cửu long.
Sáu Huyệt âm dương vừa kết tụ ,thì tại Trung ương Huyệt,yết hầu Cửu long ,vừa khai mở gần Cần thơ bây giờ ,gọi là TRUNG ƯƠNG CỬU LONG HUYỆT.Lần lần ba cửa mở ra :cửa Đại,Tiểu...v v vừa thành tựu(Năm Nhâm Thìn 1892 ),khiến cho ba nguồn Thủy dựng tại Bình Nam châu chuyển động (Lưỡi Cửu long ),làm cho các miền ở chánh cửa khẩu phải bị nạn lụt(Vàm cỏ,Gò công,Bến tre và các cù lao nhỏ...) ba ngày ba đêm.Đó là bảy Huyệt LINH THIÊNG ,CHÁNH GỐC của xứ VIỆT NAM mới ngưng kết được lối 100 năm nay.Đứng giữa Hoàn cầu,sự Linh thiêng tân tạo là đầu Cửu long giang,một nguồn Bảo giang Thiên cơ đã định phải chói rạng sự Huyền diệu,nhứt hạng khắp bốn bể,năm Châu.Vì Địa linh ấy mới sanh Nhơn kiệt,các vị Thánh tổ kim thời hễ thuộc mạng âm thì phải xuất hiện (Chứ không phải Giáng sanh ),dạy đời trong ba Huyệt âm (THỦY TRUNG HUYỆT,HUỲNH MÔN HUYỆT và BÌNH NAM HUYỆT ).,còn thuộc Dương thì phải xuất hiện ở Thất sơn,KỲ VÂN và CÀ MAU (KIM THÀNH HUYỆT,BÍCH NGỌC HUYỆT và LÂM HUYỀN HUYỆT ).
(Dật sĩ và NGUYỄN VĂN HẦU -THẤT SƠN MẦU MHIỆM ).
Cũng theo cuốn Thất sơn mầu nhiệm của Nguyễn Văn Hầu thì :"Thất sơn nằm trên địa phận tỉnh Châu đốc và sông Cửu long cũng chảy qua tỉnh này.
Mà Thất sơn tức là Bửu sơn hay Bảo sơn,thì quý báu vô ngần,hiển linh tột bậc :Nơi đây đã có nhiều vị tu hành chứng quả PHẬT ,TIÊN,THẦN,THÁNH.Chính phái BỬU SƠN KỲ HƯƠNG đã phát hiện tại vùng này.
Còn Cửu long còn gọi là Bửu giang hay Bảo giang.Con sông này được coi là con sông quý báu,vì đó là con sông lớn nhất và dài nhất trên toàn cầu (hơn 4.500 cây số ngàn ).Phát nguyên từ bên Tây tạng ,nơi mọc lên dãy núi Hy Mã Lạp sơn cao nhất toàn cầu (8.840 th );Và là nơi đức Phật Thích ca đã đắc quả chánh đẳng - chánh giác.Con sông này chảy qua Việt nam,qua Nam Việt (Nhất là tỉnh Châu đốc ),rồi tuôn ra biển Đại thanh với chín cửa biển (Cửa Tiểu,cửa Đại,cửa Bà Lai,cửa Hàm luông,cửa Cổ chiên,cửa Cung hầu,cửa Định an,cửa Bách Xắc,cửa Tranh đề ),vừa kết tụ ngươn khí,vừa phát hiện đủ thứ Địa hình.
Dòm kỹ bản đồ Việt nam,thì ta thấy cù lao Kết (Từ Vàm nao đến Nam vang),giống hình một con Quy,mỏ day về Vàm nao.Mà con Quy đó đã nằm giữa Tiền giang và Hậu giang ,lại ở vào khoảng giữa (Tức Trung ương )Thất sơn và Cửu long.Theo nguyên lý NAM THẤT NỮ CỬU thì Thất sơn thuộc dương,cửu long thuộc âm.Địa cuộc có âm dương tương hội thế ấy tất nhiên là Địa linh.Mà Địa linh tất sinh Nhơn kiệt.Sông thế ấy,núi thế kia phải đào tạo được những trang hào kiệt phi thường.
...Cụ Trạng Trình ( Nguyễn Bỉnh Khiêm ) lại nói rõ về nơi xuất hiện vị anh hùng dân tộc trong tương lai -Một vị Thánh nhơn trong câu sấm :
"Bảo giang Thiên tử xuất,
Bất chiến tự nhiên thành."

Dường như muốn cho người đời sau có thể tìm hiểu đâu là :"Thánh nhơn hương " (quê hương của vị Thánh nhơn ),nên cụ Trạng lại nói thêm
:
"Bắc hữu KIM THÀNH TRÁNG.
Nam tọa NGỌC BÍCH THÀNH
Hòa thôn đa khuyển phệ,
Mục giả,giục nhơn canh ".

Theo các tín đồ của đạo Hòa hảo,thì cho rằng người ứng vào câu nói đó là Đức Huỳnh giáo chủ,nhưng theo thiển ý của dienbatn thì không phải ,mặc dù địa điểm đúng ở khu vực đó ,lại thêm chữ HUỲNH là màu vàng.Xin được miễn bàn thêm về vấn đề này.
Như vậy chúng ta đã biết được 12 Huyệt vị lớn của miền Nam -Việt nam như sau :
* Các Huyệt 1,2,3nằm ở Thất sơn có tên là KIM THÀNH HUYỆT.
*Huyệt vị số 4 tại ĐIỆN BÀ TÂY NINH gọi là HUỲNH MÔN HUYỆT (Là Huyệt vị Trung ương của miền Nam .Vị trí cụ thể dienbatn sẽ nói rõ ở phần sau .
*Huyệt vị số 5 tại HÀ TIÊN -PHÚ QUỐC có tên là THỦY CHUNG HUYỆT.Huyệt vị này còn có tên khác là THỦY MÔN HUYỆT.
*Huyệt vị số 6 năm tại khu vực LONG XUYÊN -BÌNH MỸ (Một dãy Cù lao lớn chạy dài từ BÌNH MỸ xuống gần đến CẦN THƠ ).
*Huyệt vị số 7 nằm tại CÀ MAU tên là LÂM HUYỀN HUYỆT.
*Huyệt vị số 8 nằm tại dãy núi KỲ VÂN (gần lONG HẢI -Thuộc tỉnh BÀ RỊA ).Huyệt vị này có tên là BÍCH NGỌC HUYỆT hay KỲ VÂN HUYỆT.
*Huyệt vị thứ 9 nằm tại CÔN LÔN có tên là BÌNH NAM HUYỆT.
*Huyệt vị số 10,11,12 là TRUNG ƯƠNG CỬU LONG HUYỆT nằm gần CẦN THƠ.
Ngoài những Huyệt vị lớn đã nêu trên thì theo hiểu biết của dienbatn miền Nam còn mới hình thành rất nhiều Địa Huyệt trẻ có sức mạnh rất lớn.Xin điểm sơ qua những Huyệt vị quan trọng như sau :
*THÁI HƯ HUYỆT là cực âm Huyệt nằm tại núi gần THÍCH CA PHẬT ĐÀI -Tỉnh VŨNG TẦU.
*Một Huyệt vị lớn nữa được kết lại ở Đồng nai do Long mạch Bửu long kết tụ.Xin được phác thảo đôi nét như sau :
Bửu long là một trong những danh lam thắng cảnh ở Đồng nai.Một khu sơn thủy thơ mộng,hữu tình ,nằm trên Quốc lộ 24.Cách đây trên 400 năm,một nhà Sư đến nơi hoang vu ,thanh vắng này,đã phát hiện ra một Long mạch rất lớn,chạy dọc theo sông Đồng nai.Nhà Sư dựng lên ở khu vực này một ngôi Chùa nhỏ và đặt tên cho địa danh này là BỬU LONG (Bửu là quý -Long là Rồng -Ở đây ý muốn chỉ :Đây là một trái Châu quý của Rồng ).dienbatn đã đi khảo sát khu vực này thấy quả thật rất đẹp,sinh khí bốc lên ngùn ngụt ,khí thế ngất Trời.Trong khu vực này có một cái hồ gọi là hồ LONG ẨN (Rồng nằm ẩn ),là một hồ rộng đến 18.500 m2,mặt nước luôn trong vắt ,xanh thảm.Trên mặt hồ có những hòn đảo,vách đá thẳng đứng,nếu ngắm kỹ ta tưởng như có con Rồng ẩn hiện trong làn nước biếc.Tại núi BÌNH ĐIỆN và núi LONG ẨN gần đó,người ta xác định rằng những ngọn núi đá này đã có cách đây 100 -150 Triệu năm.Bước lên 99 bậc đá,chúng ta bắt gặp một ngôi Chùa cổ :BỬU PHONG CỔ TỰ.Đây là một ngôi Chùa cổ kính nằm dưới tán cây Bồ đề lớn.Từ trên tảng đá rất lớn nằm dựng đứng cạnh Chùa (Khi lên phải có thang ),ta phóng tầm mắt ra xa ,thấy sông Đồng nai uốn lượn như Rồng,ôm lấy những xóm làng trù phú.
Sau núi LONG ẨN còn có LONG SƠN THẠCH ĐỘNG ,một hang động có nhiều nhữ đá lung linh mầu sắc.Tại đây còn có CHÙA HANG ,có rất nhiều tượng Phật lớn nhỏ đủ loại.
Theo đánh giá của dienbatn thì đây là một Long mạch khá trẻ (Tuy đã có tuổi hàng trăm triệu năm ).Đuôi của Long mạch này kéo dài ra tới vùng BẾN GỖ,trên đường đi VŨNG TÀU.dienbatn tin tưởng khu vực này về sau khí đến vận sẽ phát triển rất mạnh mẽ.
*Một khu vực nữa của miền Nam Việt nam cũng rất đáng để ý cho các nhà nghiên cứu Phong thủy ,đó là CÙ LAO GIENG tại AN GIANG.Nếu nhìn vào bản đồ ta có cảm tưởng như CÙ LAO GIENG như một con tầu đang thả neo trên sông Tiền.Nếu tính theo địa giới hành chính thì Chợ Mới trải dài trên 3 Cù lao :CÙ LAO GIENG,CÙ LAO ÔNG CHƯỞNG,CÙ LAO SÔNG TIỀN.Cù Lao Gieng được gọi là ĐỆ NHẤT CÙ LAO,có ba xã TÂN MỸ,TÂN HIỆP,BÌNH PHƯỚC XUÂN.Chiều dài của Cù lao khoảng 15 Km,bế ngang chỗ rộng nhất khoảng 8 Km,có diện tích khoảng 70 Km2.Dân số theo thống kê gần đây trên 60.000 người.Tại vùng này hoàn toàn không có núi non hùng vĩ,mà bao quanh là sông ,rạch chằng chịt.Tại vùng này,dienbatn thường được nghe kể về sự tích ÔNG CÙ,là một con giống như Giao Long khổng lồ.Ông Cù nằm ngủ dưới đáy sông Tiền,lâu ngày đất cát,phù sa bồi đắp lên lưng tạo nên một dãy Cù lao.Cũng theo Truyền thuyết,khi mà ÔNG CÙ thức dậy sẽ có những trận động đất kinh hồn,nước dâng cao vút,tràn ngập cả một vùng rộng lớn.Theo khảo sát của dienbatn thì vùng này có kết Huyệt ở dạng THỦY HUYỆT (Tức là được sinh ra bởi THỦY LONG ).Tại vùng này còn có rất nhiều điều đáng nghiên cứu cho những nhà Phong thủy thích tìm tòi.
*Một số vùng khác nữa cũng có những Long mạch lớn và đã kết Huyệt trong vài trăm năm gần đây như ĐÀ LẠT,gần hồ TUYỀN LÂM (Người Đài loan cũng đã có những hiện tượng Trấn yểm đáng ngờ tại khu vực này ).Báo LAO ĐỘNG ngày 3/3/1994 cũng có đăng tải.
*Ngoài ra còn có rất nhiều Long mạch có Huyệt kết rất lớn và trẻ như tại HÒN CHỒNG (ĐỊNH QUÁN -ĐỒNG NAI );Tại núi BÀ NÀ,ĐÈO HẢI VÂN,ĐẦM Ô LOAN (PHÚ YÊN )....
Bây giờ dienbatn xin đi vào phần chính của bài viết,khi có điều kiện lại xin kể cho các bạn nghe về những Long mạch lớn đang kết Huyệt tại miền Nam -Việt nam.


PHẦN THỨ TƯ :PHONG THỦY -QUẦN LONG HỘI.


Trong những ngày sau Tết năm Giáp Thân,một mật điển được truyền đi trong các bậc Trưởng lăo của các Đạo,cho các Phong thủy sư riêng rẽ không thuộc vào Môn phái nào cả,cùng tụ lại tại ĐIỆN ĐÀI THÁI BẠCH.Trên 50 vị Trưởng lăo cao thủ của các chi phái Đạo Phật,Cao đài:Tân Chiếu Minh,Thiên Khai Huỳnh đạo,Tổ Tiên Chính Giáo,Vô Vi pháp,Ayasanta,Bửu Sơn Kỳ Hương,Tứ Ân Hiếu Nghĩa,các Thánh Thất,Chùa chiền,các Đại Phong thủy sư riêng rẽ....tất cả cùng tụ lại theo Mật Điển để tham dự khóa huấn luyện đặc biệt về Giải khai Huyệt đạo theo BÁT MÔN THIÊN ĐỒ TRẬN đă được chuẩn bị gần 70 năm trước.Đây thực sự là một sự quy tụ các Đạo sĩ,các nhà Phong thủy lớn chưa từng có tại Việt nam.Đa phần các vị Trưởng lăo có tuổi từ 70 trở lên,mày râu tóc bạc,Tiên phong Đạo cốt.Những vị này đều có trong ḿnh vài chục năm tu luyện theo nhiều Trường phái,nhiều nhất là Mật tông và tu Thiền.
Đây là một sự tập hợp lớn nhất trong Lịch sử môn Phong thủy nhằm Khai thông một số Huyệt mạch quan trọng,dùng năng lượng của Huyệt mạch hóa giải những xung Huyệt,an bang,tế Thế,hóa giải những Thiên tai,Địa kiếp đang hoành hành.Khẩu hiệu cho Trận đồ là :CẦU CHO THIÊN HẠ THÁI B̀NH -QUỐC THÁI DÂN AN -CHÚNG SINH THOÁT KHỎI THIÊN TAI ĐỊA HỌA.
Sự vận chuyển kỳ diệu,siêu thường được được lập thành như một guồng máy tinh tuyệt do các đấng Chư Thiên điều chuyển.Các Nguyên căn Duyên giác trong sứ mệnh Đại đồng,thừa hành Thiên lệnh đang tập trung vào một khóa học đặc biệt để chuẩn trang cho cuộc HÀNH HÓA KHAI THÔNG HUYỆT MẠCH.Ở mỗi ĐỒ TRẬN ,nhằm tương quan ,ứng nhiệm nơi tự nhiên Địa linh,kịp tạo nguồn Linh trọng đại cho tất cả muôn nơi.
Cũng từ sự vận chuyển này chư Thiên đã báo tin trước tại ĐIỆN CHUẨN MẪU do một đồng tử tiếp Điển.Đức HỒNG QUÂN THƯỢNG TỔ ban truyền Thánh sắc mở khóa học chuẩn bị các Trận đồ giải khai Huyệt mạch THÁI HƯ và KỲ VÂN.Danh sách những người được chọn cũng được ban truyền.Đây là một cơ tuyển nên trong hơn 50 người đến dự học TRẬN ĐỒ ,sau khi dùng công lực của mình truyền giúp cho những người dự trận (Thực ra trận đồ chỉ sử dụng 20 người ),những người còn lại đã hoàn tất công việc của mình và trở về nhà.
Cùng lúc với sự truyền ban Thánh lệnh trên,một đồng tử cũng tiếp được Điển của đức HỒNG QUÂN LÃO TỔ ,giáng bút pháp ,vẽ các ĐỒ TRẬN.Một đồng tử khác tại ĐIỆN THÁI BẠCH cũng tiếp được chữ THIÊN và được biết đức LINH QUANG giảng LÝ ĐỒ TRẬN,cũng như dậy lập Trận và phá Trận.Cũng tại ĐIỆN ĐÀI THÁI BẠCH hai đồng tử khác tiếp Điển giảng giải LÝ ĐỒ HÌNH THẾ TRẬN.Như vậy,ngoài 17 vị Linh căn trấn giữ 17 vị trí của Tiên Thiên và Hậu Thiên Bát quái,một vị Trưởng lão có nội lực cao thâm nhất trấn giữ Trung cung.Vòng ngoài có thêm hai vị có nội công cực kỳ thâm hậu phụ trợ,tiếp sức bên ngoài.Tổng cộng có tất cả 20 vị Nguyên căn được chư Thiên tuyển chọn.
Trong những ngày tiếp theo vào tứ thời TÝ -NGỌ -MÃO -DẬU.các nguyên căn triển khai học các trận đồ :BẠCH KỲ BÁT MÔN,THIÊN CẤU TRẬN,HỒNG CẤU TRẬN,CHÂU TIỄN HỎA TRẬN,NGŨ HÀNH TRẬN,BÁT ĐỒ TRẬN,CỜ TAM TRẬN...và cuối cùng học thế trận Kỳ vĩ nhất là THIÊN ĐỒ TRẬN PHÁP.
Sự hiển hóa trên tinh thần Đại đồng càng rạng ngời trong tâm thức của mỗi Nguyên căn,ai nấy đều hăng say nghiên cứu ĐỒ TRẬN ,mà sự hội ngộ Nhân hiền lúc nào cũng ứng hợp trong cơ duyên và hiển lộ những phương diệu tinh tường do Cơ Thiên điểm chuyển.Mỗi Nguyên căn tuy ở những nơi khác nhau của Đất nước,nhiệm hành cũng khác nhau,nhưng chung sứ mệnh Đại đồng,nên trong sự vận hành lúc nào cũng mang đậm tình thương Nguyên lý.Ai cũng được tầm nhìn sâu sắc,cũng đạt Phẩm,đạt Duyên,đạt phần lý pháp có tầm cỡ đáng phục.Trên ý thức nhiệm hành,ai cũng tự quán thông và luôn luôn hòa chan Điển lực,thông cảm,thông tâm,không ngừng cho nhau như một gạch nối liền và luôn chuyển vận tạo thành từng vòng Linh Điển tinh thuần sáng diệu.
Cũng tại ĐIỆN ĐÀI THÁI BẠCH ,một đồng tử chấp bút đức cha LINH QUANG hướng dẫn và điều chỉnh Trận đồ.Một đồng tử khác tiếp cơ bút đức KIM MẪU dạy kiểm điểm hành trang trên đường giác ngộ.ĐỨC THÁI THƯỢNG kiểm tra ĐỒ TRẬN theo lý đối thuận và nghịch của bản tứ CHÁNH VỊ VÀ TỨ PHỤ GIAI NGẪU.
Mỗi thế trận được các Linh căn tập dượt rất kỹ,từ hình thức đến phần lý pháp,ĐỒ TRẬN biến hóa khôn cùng của nguyên lý vận hành TIÊN THIÊN CHÁNH VỊ;Cũng như sự cực kỳ hiển hách ứng cảm trong mỗi nhân Duyên do vòng Hâu Thiên chiếu tỏa.
Càng về những ngày cuối kỳ luyện tập,mức độ áp lực càng tăng lên đối với từng người cụ thể.Có một số người do không chịu nổi sự tăng cường áp lực của Điển do chư Thiên vận hành tới phải hộc ra máu miệng.Tới những ngày cuối,khi thực hiện bày BÁT QUÁI THIÊN ĐỒ có nhiều sự việc đáng ngạc nhiên xảy.dienbatn xin tường thuật chi tiết Trận pháp này để các bạn cung tham khảo.
Chắc các bạn chưa quên vị Trưởng lão mà 9 năm trước nhận lệnh của Cơ Thiên từ tay sư Tông,đi làm nhiệm vụ tối mật.Nay người đó đã về làm chủ Trận BÁT QUÁI THIÊN ĐỒ này.Người đó đã trải qua không biết bao nhiêu chặng đường cực kỳ khó khăn,vượt HY MÃ LẠP SƠN,sang TÂY TẠNG (TRUNG QUÔC),Lào,đặt chân đến những vùng đất của biển Hồ TÔNG LÊ SÁP,vịnh Hạ long...Cùng về theo người đó có thêm một nhà sư rất trẻ nhưng thật dầy dạn Phong trần.
Tại ĐIỆN ĐÀI THÁI BẠCH ,20 con người từ khắp nơi tụ lại,cùng thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng ,cao cả của chư Thiên giao phó.BÁT QUÁI THIÊN ĐỒ TRẬN bao gồm hai vòng trận Bát môn (Tiên Thiên và Hậu Thiên ).Mỗi một người ,tuỳ theo cung Mạng của mình mà Trấn giữ những cung nhất định.Vòng Bát quái ngoài cùng là Bát quái Tiên Thiên,chuyển vận thuận,vòng trong là Bát quái Hậu thiên chuyển vận nghịch chiều.Người đứng trấn Trung cung là một cụ già râu tóc bạc phơ,nhưng vô cùng tinh anh quắc thước.Ông cụ này vốn là chi phái TÂN CHIẾU MINH (Một chi phái có nguồn gốc từ Nhật bản ).Các Nguyên căn sau khi hành lễ ,bái Bàn thờ chư Thiên,bắt đầu về trấn giữ những cung mà mình đã nhận lãnh.Sau đó tất cả ngồi xuống tọa Thiền và cho vòng Châu Thiên luân chuyển.Mặc dù mỗi người có một Trường phái tu luyện khác nhau ,nhưng trong BÁT QUÁI THIÊN ĐỒ TRẬN yêu cầu tất cả phải vận công theo vòng ĐẠI ,TIỂU CHU THIÊN.Ngồi trong trận,bốn phía nhang đèn,trầm hương nghi ngút,ánh sáng rực rỡ người ta mới cảm thấy sự hào hùng của BÁT QUÁI THIÊN ĐỒ TRẬN.
Theo Điển chữ THIÊN dạy rằng

:lol:
hần Vô vi tá trợ cho Trận đồ ,có hồng ân Linh điển của Đức HỒNG QUÂN THƯỢNG TỔ,đức LẠC LONG QUÂN PHỤ,đức HỒNG BÀNG TIÊN MẪU,đức QUAN ÂM NHƯ LAI,Chư vị BÁT BỘ THIÊN LONG,đức CHA LINH QUANG và CHƯ THỔ ĐỊA,THÀNH HOÀNG ÂN chuyển.Những vị này đứng ở ngoài Trận để tiếp sức và điều chuyển phần HỮU VI của trận pháp.
Khi bắt đầu ba hồi chuông ngân lên,một sự im lặng thật khó tả.Các nguyên căn cùng ngồi quay mặt vào trong Trung cung vận công và đồng loạt phát khí.Những ánh sáng lóe lên rực rỡ muôn sắc,cùng phóng vào Trung tâm BÁT QUÁI THIÊN ĐỒ TRẬN.Phản lực từ trung tâm của Trận pháp dội lại như những cơn cuồng phong,muốn xô bắn các nguyên căn văng đi.Nhưng chỉ một giây sau,BÁT QUÁI THIÊN ĐỒ TRẬN bắt đầu vận chuyển.Một chiếc bánh xe có vô vàn nan hoa ánh sáng từ tâm chuyển động quay tít.Khói của Trầm,nhang bị cuốn theo thành một cơn lốc xoáy ,bốc lên cao vút,tốc lên tận đỉnh của Điện thờ.Bên ngoài,những nguyên căn còn lại và người Chủ Trận vẫn tận lực phát công tiếp sức cho vòng trong.Lúc Trận đồ chưa chuyển động,người ta có cảm giác như toàn bộ khí bị dồn hết lên Huyệt Bách hội,cực kỳ ngột ngạt,máu như muốn trào ra họng,ra mũi.Nhưng khi BÁT QUÁI THIÊN ĐỒ TRẬN bắt đầu vận hành,một cảm giác lâng lâng,nhẹ bỗng ,xuất hiện,cả cơ thể như được nhẹ nhàng bốc lên và xoay tít theo Trận đồ.Trong vòng cuồng phong của Trận pháp đang vận chuyển,tất cả các Luân xa đều được Khai mở thông suốt,Thiên khí,Địa khí,Nhân khí ào ạt chẩy qua,trục tất cả những ô trọc của từng con người,như một dòng sông lớn rửa trôi tất cả những rác rưởi,cuốn đi.Một mùi hương thơm thật kỳ lạ,bỗng tỏa ra thơm phức từ Trung cung BÁT QUÁI THIÊN ĐỒ TRẬN.Từng đoàn các chư Phật,đem theo những tấm biển sơn son ,thếp vàng có hình thù và những dòng chữ rất lạ,những mâm ngũ quả đầy ắp đón chào.Tiếng nhạc lạ tai rất du dương thánh thót vang lên.BÁT QUÁI THIÊN ĐỒ TRẬN bắt đầu vận hành thông suốt.

XUẤT TRẬN.

1:30 ngày ../2/Giáp Thân,Thánh lệnh được ban truyền.Thánh lệnh được ban xuống theo Điển là khoảng 20 Linh phù có ký hiệu rất lạ mắt.Có một vài ký hiệu tương tự như Linh phù trong cuốn VẠN PHÁP QUY TÔNG (Mặc dù không hoàn tòan giống hẳn ).Tất cả các nguyên căn lục tục đem đồ đạc ra ba chiếc LAND CRURSER đã chờ sẵn trước ĐIỆN ĐÀI THÁI BẠCH.Đêm Thành phố hơi se se lạnh,đường phố vẫn lác đác có những chiếc xe sớm chở hàng vào Thành phố.Ba chiếc xe lướt êm ru chực chỉ Thành phố Vũng tầu.Khoảng 4 giờ sáng ,những chiếc xe bắt đầu leo núi.Con đường mà Sư Tông làm bao nhiêu năm nay,tuy lớn nhưng là với khách bộ hành,còn với những chiếc xe Việt dã này,tuy máy rất khỏe,nhưng vẫn cứ nhẩy lên như ngựa phi.Đi khoảng hơn 2Km đường núi thì hết đường,xuống xe bộ hành.Nơi này còn cách Chùa của Sư Tông gần 1 Km nữa.
Tới một hòn đá lớn ven đường,mọi người sắp xếp vào đội hình quanh tảng đá và bắt đầu làm lễ bái Sơn thần -Thổ địa.Mọi người lúc này đều đã đọc CHÚ HỘ THÂN tự bảo vệ mình.Sau đó cả Đoàn tiến lên,theo chân của vị Trưởng Trận,vừa đi vừa vẽ Linh phù trên mặt đất.Một người trong Đoàn cũng vừa đi vừa rải TRO LINH PHÙ và BẠCH THỦY LINH PHÙ xuống đất dọc theo đường đi.Lên tới chùa,Sư Tông đang mệt nặng vẫn cố ra tiếp Đoàn của chúng tôi.Đoàn theo sự chỉ dẫn của Sư Tông,bước vào chính Điện làm lễ và sau đó nghỉ ngơi chờ đến giờ G.
GIỜ G ĐÃ ĐIỂM.
Đúng 5 giờ,cả Đoàn lại tiếp tục lên núi.Từ chùa của Sư Tông lên tới vị trí Huyệt còn khoảng 500 m.Khi cả đoàn lên tới nơi ,không khí xung quanh vị trí Huyệt tỏa ra thật ấm và như xua đi tất cả những mệt mỏi của cuộc hành trình.Khu vực Huyệt là khoảng lưng chừng trái núi,ngày xưa sư Tông đã khảo sát và đánh dấu.Và như dienbatn đã viết một lần trên Diễn đàn ,tại đây cũng có cột Mốc của bên Địa chính xây kiên cố bằng Xi măng, chỉ cách vị trí Huyệt chừng hơn chục mét.Cả đoàn lập tức bày BÁT QUÁI THIÊN ĐỒ TRẬN như đã được tập dượt.Mọi người lần lượt cắm cờ Thất tinh tại những vị trí đã xác định.Trầm,nhang,đèn đã được đốt lên,mùi Trầm bốc lên ngào ngạt như xua đi cái u tĩnh của ngọn núi lúc vừa sáng.
Khi BÁT QUÁI THIÊN ĐỒ TRẬN vừa được bày xong ,mọi người vừa ngồi xuống Thiền tịnh ,thì một việc lạ xẩy ra.Một Nguyên căn,đang tập trung Thiền tịnh bỗng dứng bật dậy,ngửa người ra sau,mắt trợn ngược lên.Nếu không có sự cứu giúp kịp thời của những người bên cạnh thì người này sẽ lăn khoảng vài trăm mét xuống dưới biển ngay sau chỗ ngồi.Đầu tiên chúng tôi tưởng người này bị trúng gió, nhưng không phải.Chỉ khoảng ít phút sau,người đó bỗng mở miệng nói một tràng thứ tiếng nói lạ tai.Mọi người giật mình và biết rằng đó là một Vị nào đó tá xác để truyền lệnh.Người này nói khoảng 20 phút bằng một thứ tiếng rất dịu dàng,có cách phát âm hao hao giống người Chàm,nhưng từ thì lại có vẻ giống như tiếng Pháp.Trong khi nói,hai tay người đó liên tục bắt Quyết (Ấn) và chuyển qua loại Quyết khác thật nhanh.Là một người đã từng học qua nhiều môn phái cần sử dụng Quyết,dienbatn không khỏi ngạc nhiên khâm phục vì cách ra Quyết nhanh và đẹp như vậy.Sau khi chuyển qua khoảng trên 30 loại Quyết, người đó bất thần nói tiếng Việt bằng chất giọng như người ngoại Quốc nói tiếng Việt và dùng danh từ của miền Bắc.Đại ý người đó nói rằng :Muốn giải khai Huyệt đạo này ,phải có Thánh chỉ của Ngọc Hoàng Thượng Đế,và Huyệt này là Huyệt cực âm nên cần phải tiến hành vào giờ cực Dương,giờ này chưa đúng.
Vị Chủ Trận lập tức mang Sắc lệnh đã nhận được qua tiếp Điển ra (Xem phần trên),người đó lập tức cầm lấy,dò xem từng nét Linh phù trong Sắc lệnh,mãi rồi mới thấy vị đó từ từ gật đầu và mỉm cười.Sau đó người đó thăng,vị Nguyên căn lại trở về trạng thái bình thường ,nhưng cái mặt ngơ ngơ ,hỏi có biết gì vừa xẩy ra không,người đó nói là không biết gì cả.dienbatn có lẽ suốt đời không quên được giọng nói dịu dàng và cách nói hấp dẫn đến như vậy.Cứ tưởng tượng lại cách bắt Ấn của người đó thì kể cả những người Thầy rất giỏi của dienbatn cũng không thể làm được.
BÁT QUÁI THIÊN ĐỒ TRẬN tạm thời dừng lại đợi cho đúng Ngọ mới lại tiếp tục.Trong thời gian nghỉ chờ đợi này,một nguyên căn lại tiếp được Điển.Theo như Điển cho biết,vị vừa hạ Phàm đó chính là BÀ CHÚA XỨ.Vâng,người đó chính là BÀ CHÚA XỨ có nhiệm vụ kiểm tra và nhắc nhở những Thiên tinh Nguyên căn làm cho đúng với pháp của THIÊN ĐỒ TRẬN.
NGỌ THỜI :Đúng giờ Ngọ,tất cả chúng tôi lại sẵn sàng xung quanh vị trí Huyệt.Nhờ có sự chuẩn bị từ trước nên lần này mọi việc được tiến hành khá suông sẻ.Những lá cờ Thất tinh bay phần phật trong gió,đèn,nhang,trầm hương được đốt lên thơm ngào ngạt.Lần này,vị Trưởng đoàn cho đốt thêm một số loại Linh phù và cả Sắc lệnh của Ngọc Hoàng Thượng đế đã tiếp nhận được qua Điển.
Sau một hồi chuông,Vị tưởng Đoàn, tay cầm bó nhang,chắp tay theo Hiệp Chưởng Ấn, khấn lậy các chư thiên như sau :
"NAM MÔ PHẬT- NAM MÔ PHÁP- NAM MÔ TĂNG.
NAM MÔ HUYỀN KHUNG CAO THƯỢNG ĐẾ- NGỌC HOÀNG TỨ PHƯỚC HỰU TỘI ĐẠI THIÊN TÔN.
NAM MÔ DIÊU TRÌ KIM MẪU VÔ CỰC ĐẠI TỪ TÔN.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.
NAM MÔ CAO HUYỀN THẤT TỔ CẢM ỨNG CHỨNG MINH.
NAM MÔ DI LẶC THIÊN TÔN KHAI MÔN CHUYỂN PHÁP.
NAM MÔ LẠC LONG QUÂN PHỤ- HỒNG BÀNG TIÊN MẪU- QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG- TRĂM QUAN THƯỢNG ĐẲNG ĐẠI THẦN CẢM ỨNG CHỨNG MINH....".
Tất cả đều quỳ xuống lạy tạ và theo thứ tự của từng người về các vị trí đã được phân công trong quá trình luyện tập.
Một hồi chuông nữa lại dóng giả vang lên,tất cả đều bước vào Thiền định và khởi động vòng Đại Châu Thiên. Lúc này không gian như ngừng chuyển động, mọi âm thanh như tắt hẳn, chỉ có khói của nhang cuồn cuộn bốc lên.Một hồi chuông nữa vang lên,tất cả các Thiên tinh đồng loạt phát công vào Trung cung,các trận cuồng phong lập tức nổi lên.Áp lực như những quả núi đè xuống muốn ngạt thở, máu huyết như ngừng chảy trong thân thể.Khi vòng Đại Châu Thiên bắt đầu chuyển động nhịp nhàng, các Thiên tinh đã liên kết trong một vùng hào quang rực rỡ hình bánh xe ánh sáng. Tất cả chìm vào hư vô,tất cả chỉ còn thấy sự quay cuồng lúc thuận,lúc nghịch theo sự điều khiển của các đấng Chư Thiên.
Thời gian cứ chầm chậm trôi đi, trong vòng Trận pháp hầu như chúng tôi không biết mình đã làm những gì,chỉ biết qua những cảm giác khi đưa tay kiết ấn một cách vô thức, như có sự điều khiển từ xa một cách huyền huyền,ảo ảo.Dòng năng lượng trong người lúc này không chuyển động theo vòng Đại Châu Thiên của từng người nữa mà liên kết tất cả mọi người và năng lương do vòng quay của bánh xe ánh sáng phát ra.Mơ ảo, mơ ảo....Tất cả như chìm sâu vào một chiều không gian thứ tư, không có quá khứ,hiện tại,tương lại...Tất cả chỉ còn lại một điểm duy nhất đang xoay theo BÁT QUÁI THIÊN ĐỒ TRẬN....
Tỉnh dậy,chúng tôi cùng nhau xả Thiền bằng cách chà sát hai bàn tay vào nhau cho nóng lên rồi chà vào các vùng có Huyệt trên đầu,tay,chân và khắp thân thể.Theo sự hướng dẫn của Trưởng đoàn, từng người dùng mu bàn tay dập tắt lò lửa Tam muội ở sau lưng, ngang vùng thắt lưng.
Ngước nhìn lên bầu Trời xanh thăm thẳm ở phía trên đầu, chúng tôi chỉ thấy một cụm mây màu xám đang tụ lại ở phía trên không trung của Huyệt vị.Một mùi thơm rất lạ đang lan tỏa dần dần khắp nơi,thân thể cảm thấy như nhẹ bỗng, tưởng có thể bay lên được.
Hoàng hôn đã dần dần đổ xuống đỉnh núi,xa xa những dãy núi đã tím dần.Đoàn chúng tôi lục tục thu dọn đồ đạc xuống núi.
Ngồi trong xe xuống núi,dienbatn chợt nhớ một câu thơ,xin cùng chia xẻ với các bạn.


"Hữu hình lai hạ chủng,
Nhân Địa Hỏa hoàng sanh,
Vô tình diệt vô chủng,
Vô tình diệt vô sanh ".

PHẦN THỨ HAI : TRÊN NGỌN KỲ VÂN.

" Việt nam xuất hiện hạ Ngươn kỳ,
Thánh Tổ lâm phàm hiệp ngũ chi.
Ba tiếng sấm vang khai Địa Huyệt,
Bảy nguồn Thủy vận tạo sơn kỳ.
Rồng- Mây- Phật hội phong Thần mạng,
Sen nở Long hoa Thánh thể quy .
Ơi hỡi Lạc Hồng nền bích ngọc,
Vững lòng Chúa ẩn hạnh duyên kỳ."


(Đây là bài Điển nhận được khi xây CAO ĐÀI TỰ trên Cấm sơn cách đây trên 70 năm ).
Chắc các bạn còn nhớ núi Kỳ vân đã nêu ở phần trên.Đây là một dải núi cao vút nằm ngay sát bờ biển Long hải.Khi đoàn xe chúng tôi đi qua,hai bên đường hoa anh đào đang mùa nở rộ.Những nhánh anh đào trắng,tím như những bàn tay vẫy chào kéo dài tới hơn 5 Km.Mùa xuân nên những dẫy núi xanh ngắt,cây cối vô cùng xanh tốt.Đường lên núi quanh quanh uốn lượn,phong cảnh thực là đẹp đến say lòng.
Đoàn xe chạy theo những triền núi ngoằn nghèo với độ dốc tương đối lớn.Xung quanh, những rừng cây xanh rì trải dài tít tắp.Tới chân của ngọn núi KY VÂN, chúng tôi gửi xe và bắt đầu chặng leo núi khá vất vả.Từ con đường dưới chân núi, sau khi đi được một chặng dài ,con đường được chia ra làm hai phía: Một đường dẫn lên KỲ VÂN ĐỘNG, một đường đi lên KỲ VÂN ĐIỆN. Chúng tôi rẽ vào ngả đường lên KỲ VÂN ĐIỆN trước. Một con đường mòn xuyên qua những rừng cây um tùm,rậm rạp,chạy quanh co đi lên phía đỉnh núi. Khí hậu ở bên này có vẻ tốt hơn bên đỉnh Thái hư. Tại khu vực núi này có nước chảy róc rách theo các con suối nhỏ.Rừng cây như có vẻ ẩm ướt và xanh tốt hơn. Không khí bên này xem chừng có vẻ mát mẻ hơn. Chúng tôi đi bộ khoảng chừng 3 Km theo lối đường mòn thì tới khu vực của KỲ VÂN ĐỘNG. Trước khi tới Động, có một khu vực bao gồm nhiều khối đá cực lớn, nằm theo những hình dáng rất kỳ lạ,tạo thành một cái mái che khổng lồ,ở phía dưới thấy có bàn thờ những vị Thần Tà (đá). Đoàn chúng tôi dừng lại nghỉ chân và làm lễ thỉnh Long thần -Thổ Địa. Chúng tôi đốt nhang,cẩn cáo với Long thần -Thổ Địa nhiệm vụ của Đoàn.Sau đó vị Trưởng Đoàn dùng Bạch thủy Linh phù rửa chân trái cho nam và chân phải cho nữ. dienbatn cũng chẳng hiểu điều đó có nghĩa gì,nhưng không tiện hỏi.
Sau đó chúng tôi lại leo tiếp tục lên tới Điện.Nói là Điện cho có vẻ quy mô,thực ra KỲ VÂN ĐIỆN chỉ là vài căn nhà lá do Đạo Cao đài lập nên. Cơ sở vật chất còn khá đơn sơ nhưng thái độ của vị Sư Trụ trì khi thấy Đoàn chúng tôi vô cùng niềm nở.Tại nơi đây cũng có Đoàn hành hương của một Thánh thất dưới miền Tây mới lên.
Nét nổi bật nhất của KỲ VÂN ĐIỆN là một Kỳ đài được xây dựng khá công phu,nằm trên một hòn đá khổng lồ,từ xa trông có dáng như một con tầu đang lướt sóng trên Đại dương xanh.Đứng từ đỉnh Kỳ đài, ta có thể quan sát cả một vùng rộng lớn.Phía xa tít ngoài kia là biển Long hải đang tung bọt trắng xóa.Trên Kỳ đài,gió lồng lộng thổi, như xua đi bao sự mệt mỏi của cả buổi leo núi.Đó đây thấp thoáng những bày Khỉ vô cùng bạo dạn,chạy ra khỏi chỗ núp,giật bánh mì của khách rồi ù té chạy.
Cũng đứng ở Kỳ đài,dienbatn phát hiện ra một điều hết sức lý thú :Tất cả các hòn đá đều có dáng như những cây bút chĩa thẳng lên trời xanh. Phía bên này ngọn núi,theo đánh giá của dienbatn thì chắc không có sự kết Huyệt,bởi nơi kết Huyệt phải là nơi tàng phong -Thủy tụ .Phía bên này ngọn núi trông ra biển nhưng Minh đường rất chật hẹp,mặt khác lại khộng đủ tay Long,tay Hổ,gió lại lồng lộng thổi.Tính hỏi vị Trưởng Đoàn, nhưng thấy ảnh đang đăm chiêu nên đành thôi.
Cả Đoàn nghỉ ăn cơm trưa tại KỲ VÂN ĐIỆN. Khoảng đầu giờ Mùi,cả Đoàn lại cất bước đổi hướng sang phía KỲ VÂN ĐỘNG.Khoảng cách giữa hai điểm khoảng 2 Km .
( Còn tiếp