Translate

Chủ Nhật, 10 tháng 2, 2013

HOA ĐIỂU



Tranh của Triệu Cát (tức vua Tống Huy Tông)
 













Tranh hoa điểu ngư trùng (hoa cỏ, chim chóc, cá, côn trùng) của Trung Quốc có nguồn gốc lâu đời. Kể từ đời Đường và đời Tống trở về sau, loại tranh này kết hợp giữa hội họa và văn học. Ở Âu Châu, từ thời Phục Hưng cho tới nay loại tranh đề tài bướm, thảo trùng, hoa cỏ không phải là hiếm. Nhưng những đề tài này trong lối họa sơn dầu Tây phương không hàm ý nghĩa tượng trưng văn học. Đó là nét đặc trưng của hội họa truyền thống Trung Quốc, khác biệt với lối họa sơn dầu Tây phương. Đã bao triều đại qua, các họa gia cũng rất thường là thi nhân, văn sĩ, dùng hội họa để tải đi những thi tứ của mình. Khuynh hướng này đặc biệt hiện rõ trong loại tranh hoa điểu.
Văn nhân Trung Quốc thường gán cho từng loại hoa một đức tính, một ý nghĩa tượng trưng văn học nào đó, và các họa gia đã tiếp thu toàn bộ những quan niệm này. Chẳng hạn Chu Đôn Di 周惇頤, một đại nho đời Tống, từng nói: «Trong các loài hoa, cúc là kẻ ẩn dật, mẫu đơn là kẻ phú quý và sen là bậc quân tử vậy.» (Cúc, hoa chi ẩn dật giả dã; mẫu đơn, hoa chi phú quý giả dã; liên, hoa chi quân tử giả dã. 菊花之隱逸者也牡丹花之富貴者也蓮花之君子者也).
Tranh Tề Bạch Thạch (1863-1957)
Quan niệm cúc là kẻ ẩn dật có lẽ phát xuất từ Đào Tiềm 陶潛 tức Đào Uyên Minh 陶淵明 đời Tấn, một thi sĩ vĩ đại, chán cảnh làm quan luồn cúi, treo áo từ quan, hưởng thú điền viên, vui cảnh nghèo, thích uống rượu chơi cúc và nhàn du. Người đời khen ông là bậc ẩn dật cao khiết. Trong bài Ẩm Tửu 飲酒 của ông có nhắc đến hoa cúc: «Hái cúc dưới giậu đông, thơ thới nhìn núi Nam.» (Thái cúc đông ly hạ, du nhiên kiến Nam Sơn. 採菊東籬下悠然見南山.) Người ẩn sĩ này uống rượu ngắm cúc để quên cảnh náo nhiệt, trầm luân trong đời, cho nên hoa cúc cũng là biểu tượng của kẻ ẩn dật lánh đời vậy.
Người giàu có ưa chuộng màu sắc lộng lẫy rực rỡ của mẫu đơn. Mẫu đơn là loài hoa quý hiếm, chỉ có bậc quyền quý đài các mới chơi hoa này. Cho nên mẫu đơn là biểu tượng của sự giàu sang phú quý. Hoa sen là cốt cách của bậc quân tử. Đẹp và ngát hương, gần bùn mà chẳng tanh bùn. Dù cuộc đời ô trọc, nhân tình ấm lạnh, bậc quân tử vẫn giữ được tiết tháo của mình, thơm tho và tinh khiết như đóa sen kia.
Hoa kết hợp với điểu, thảo trùng, cá, đá và các khí vật khác cũng tăng thêm thi ý cho tranh, tạo cho tranh có chủ đề mới. Thường đó là lời chúc nguyện cát tường. Chẳng hạn: «Tùng hạc diên niên» 松鶴延年 (tùng và hạc sống lâu) là chủ đề tranh dùng chúc thọ, bởi vì theo truyền thuyết, người Trung Quốc tin rằng hạc sống đến ngàn năm (Hạc thọ thiên tuế 鶴壽千歲). Người Trung Quốc có thói quen tặng tranh tùng hạc mừng lễ thượng thọ của các bậc trưởng thượng.
Thi nhân cho rằng chim én là loài chim nhỏ có cảm tình, mùa thu và mùa đông bay đi tìm cái ấm áp của miền nhiệt đới và mùa xuân quay về tổ cũ. «Xuân phong yến hỉ» 春風燕喜 (chim yến vui trong gió xuân) mô tả một đôi én về tổ trong cành liễu xanh phất phơ hay cành đào hồng thắm. Một bức tranh với đôi én hoặc một bức tranh với cặp hồng nhạn 鴻雁 hay đôi uyên ương bơi lội trong ao sen chính là biểu tượng tình nghĩa vợ chồng, gia đình khang lạc. Dưới cội mai vàng (biểu tượng của Phúc) là đôi chim cun cút hoặc một đàn gà con cùng gà trống gà mái cũng là biểu tượng của ân nghĩa tao khang, quan hệ nhân luân. Tranh phụ đề «ân nghĩa tại sinh tiền» 恩義在生前 (ân nghĩa đối với nhau lúc còn sống) thật là cảm động và thâm trầm biết bao!
Tranh «Thập toàn báo hỉ» 十全報喜 vẽ mười con chim khách đậu trên phiến đá và trên cây tùng hót líu lo báo tin mừng (chim khách được tin tưởng là báo điềm lành nên tục gọi nó là «hỉ thước» 喜鵲), tranh để chúc sự nghiệp thành công.
Mẫu đơn phối hợp với cá lội là biểu tượng: «Phú quý hữu dư» 富貴有餘 (phú quý dư dật) là lời chúc nguyện tốt đẹp vào ngày đầu năm. Mẫu đơn vẽ chung với khổng tước (chim se sẻ) mang tên «Khổng tước khai bình» 孔雀開屏 là tranh chúc mừng khai trương cửa tiệm. Hoa xuân điểm thêm vài cánh bướm, tạo sinh động cho tranh. Bướm là điệp 蝴 (hay hồ điệp 蝴蝶) đồng âm /dié/ với điệp (trùng điệp 重疊). Tranh mẫu đơn điểm thêm cánh bướm ngụ ý phú quý trùng điệp 富貴重疊. Hoặc trên cánh hoa vẽ con dế, cho ta hình dung tiếng thu đang về rồi với tiếng nhạc để râm ran đâu đây.


Từ đời Đường (618-907) trở về trước, hoa điểu được vẽ chỉ để trang sức cho khí cụ đồ vật, hoặc để điểm xuyết thêm cho nhân vật. Bắt đầu từ đời Đường là thời kỳ phồn thịnh phú cường trong lịch sử Trung Quốc. Giao thông phát triển, giao lưu văn hóa với các dân tộc, kinh tế xã hội phồn vinh, văn học nghệ thuật được đề cao. Đến nỗi mãi đến những thế kỷ gần đây mà người Trung Quốc vẫn quen xưng là «Đường nhân» 唐人 một cách tự hào. Cho nên trong bối cảnh học thuật văn nghệ rực rỡ như vậy, không riêng gì tranh hoa điểu mà tranh nhân vật, tranh sơn thủy cũng phát dương, tài bồi có qui củ và hệ thống hơn. Quyển Đường Triều Danh Họa Lục 唐朝名畫錄 có kể ra trên hai mươi họa gia chuyên về hoa điểu. Trong đó nổi bật nhất là Biên Loan 邊鸞, Điêu Quang Dẫn 刁光引, và Đằng Xương Hựu 滕昌祐. Điêu Quang Dẫn là thầy của Hoàng Thuyên 黃筌 và Từ Hi 徐熙. Điêu Quang Dẫn được mệnh danh là tổ sư về tranh hoa điểu cho đời sau. Thời Ngũ Đại (907-960) trong cục diện thập quốc phân loạn, tranh hoa điểu vẫn phồn thịnh; đương thời có «Từ Hoàng nhị thể» 徐黃二体 nghĩa là hai lối vẽ, một của Từ Hi và một của Hoàng Thuyên. Họa pháp Từ và Hoàng bất đồng. Hoàng là họa gia chốn cung đình, chủ trương tả chân. Từ là dân áo vải đất Giang Nam, bút pháp khoáng đạt nghiêng về tả ý. Hoàng thiện nghệ về chim tước, Từ sở trường về ve sầu, bướm và thảo trùng khác. Quách Nhược Hư 郭若虛 trong quyển Đồ Họa Kiến Văn Chí 圖畫見聞志 đã nói: «Hoàng gia phú quý, Từ Hi dã dật.» 黃家富貴徐熙野逸 (Họ Hoàng mô tả cảnh phú quý, Từ Hi mô tả cảnh điền dã an nhàn.) Điều đó thật dễ hiểu. Hoàng là họa sĩ nơi đế đô chuyên vẽ những trân cầm thụy điểu trong cung đình, còn Từ là Giang Nam xử sĩ quen vẽ dã trúc uyên ngư chốn giang hồ. Như vậy thời Ngũ Đại họa pháp hoa điểu đã thể hiện rõ hai phái: tả thực 寫實 (realistic style) và tả ý 寫意 (impressionistic style). Hai phong cách này càng được phát dương vào đời Tống (960-1276).
Tranh hoa điểu đời Tống phát triển trên cơ sở «Từ Hoàng nhị thể» của thời Ngũ Đại. Con trai của Hoàng Thuyên là Hoàng Cư Thái 居寀 rất nổi tiếng, được vời vào Hoàng Gia Hàn Lâm Họa Viện, rất được sủng ái chốn hoàng cung. Thanh thế gia đình họ Hoàng càng lớn mạnh, người ái mộ Hoàng thế cũng lắm mà kẻ a dua thì cũng nhiều. Ảnh hưởng họa pháp của hai họ Hoàng và Từ không những trong cung đình mà còn lan khắp ra ngoài nữa. Từ các đời vua Tống về sau, phong cách dã dật của họ Từ cũng được hâm mộ. Con cháu của Từ Hi là Sùng Tự 嗣, Sùng Huân 崇勳 và Sùng Củ 崇矩 nổi tiếng từ đó. Phong cách thịnh hành bấy giờ là phối hợp Từ Hoàng nhị thể với nhau. Tiêu biểu phong cách phối hợp này là anh em Thôi Bạch 崔白 và Thôi Khác 崔愨 cùng với Ngô Nguyên Du 吳元渝. Người đời khen phong cách của anh em Thôi và họ Ngô là thanh đạm nhã dật. Bên cạnh họ, Triệu Xương 趙昌 và Dịch Nguyên Cát 易元吉 cũng rất nổi tiếng. Các danh thủ về hoa điểu có thể kể thêm như Ngải Tuyên 艾宣, Vương Hiểu 王曉, Triệu Cát 趙佶, Mã Bôn 馬賁, Đái Uyển 戴, Hàn Nhược Chuyết 若拙, v.v... Triệu Cát tức là vua Huy Tông 徽宗 cuối đời Bắc Tống. Ông vua nghệ sĩ này rất tài hoa về thư pháp, sơn thủy, và nhân vật, đặc biệt là hoa điểu. Hiện nay tranh hoa điểu của ông vua này là cao giá nhất trong các tranh điểu đời Tống. Tống Huy Tông được khen ngợi về nghệ thuật bao nhiêu thì càng bị chê về chính trị bấy nhiêu. Thời ông, triều đình mục nát, xã hội nhiễu nhương, triều đình chỉ trông cậy đám phường thị thái giám, để giặc Kim tràn lấn cõi bờ. 
 
Chim ưng và tùng
tranh Từ Bi Hồng (1895-1953)
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Đời Tống phát triển một họa pháp gọi là Văn nhân họa pháp 文人畫法 (literati style) do Tô Thức 蘇軾 (Tô Đông Pha 蘇東坡) và Mễ Phế (Mễ Phất) 米芾 khai sinh ra. Lúc bấy giờ các văn nhân rất sính hội họa và thư pháp. Quan niệm Tô Thức và Mễ Phế cũng như các họa gia tài tử khác cho rằng hội họa bất tất phải sao chép thiên nhiên, mục đích của hội họa là gia tăng thi hứng, không cần phải mô tả sự vật. Bút và mực du hí trên trang giấy, những nét bút tiêu sái của nghệ sĩ cốt là bày tỏ được ý tình mà thôi. Tô Thức nói: «Luận họa dĩ hình tự, kiến dữ nhi đồng lân.» 論畫以硎似見與兒同鄰 (Luận về tranh mà căn cứ trên hình thể giống như thật thì đó là tiêu chuẩn của trẻ con). Còn Mễ Phế thì bảo: «Hào phóng bất câu thằng kiểm.» 毫放不拘繩檢 (Nét bút phóng khoáng không câu chấp vào khuôn mẫu có sẵn.) Đối chiếu với hội họa Âu Châu, mãi đến thế kỷ XIX vẫn còn thiên về tả thực, thì quan niệm nghệ thuật của Tô Thức và  Mễ Phế (thế kỷ XII) nói trên quả là phóng khoáng, đi trước Tây phương tới sáu bảy trăm năm vậy. Nhưng cuối đời Tống, quan niệm về văn nhân họa pháp chỉ mới ở giai đoạn phôi thai, mãi đến đời Nguyên-Minh và Thanh quan niệm này mới phát triển sâu rộng.
Đời Nguyên (1234-1368) dân Mông Cổ thống trị Trung Quốc, tôn trọng võ công, khinh miệt văn học nghệ thuật. Nguyên Thái Tông (1229-1245) chia dân làm 10 giai cấp: quan (người Mông Cổ), lại, sư sãi, đạo sĩ, thầy thuốc, dân công nghệ, thợ thuyền, đào kép hát, nho sĩ, và ăn mày. Kẻ sĩ bị khinh bỉ, chỉ hơn lũ ăn mày; khoa cử bị bãi bỏ trong một thời gian lâu. Trong bối cảnh đó, dĩ nhiên hội họa cũng không thể nào phát triển được. Các họa gia về hoa điểu phân làm hai phái: phái phục cổ và phái tự do. Phái phục cổ gồm có Tiền Tuyển 錢選, Vương Uyên 王淵, Trần Trọng Nhân 陳仲仁, v.v... Họ chủ trương mô phỏng họa pháp họa gia đời trước như Hoàng Thuyên, Triệu Xương, tức là lối công bút mỹ lệ. Phái tự do thì tuân thủ quan niệm văn họa pháp của Tô Thức và Mễ Phế đời Tống, nhưng không có ai nổi bật.
Đời Minh (1368-1644), kể từ Chu Nguyên Chương (một anh hùng áo vải phất cờ khởi nghĩa lật đổ nhà Nguyên) lên ngôi, nền học vấn nghệ thuật được phục hưng, khoa cử được coi trọng. Tuy nhiên dẫu Hàn Lâm Họa Viện đã khôi phục lại, người tài được chiêu vời đến, nhưng các vua đời Minh chuyên chế, quen nghiêm hình tuấn phạt, cho nên các họa gia không dám thoát ra khuôn phép cũ: sáng tác phải phụng thừa thánh chỉ, phần lớn mô phỏng ý tứ của cổ nhân, nhất nhất đều chỉ nhằm tránh được lỗi lầm. Hiện tượng sao chép cổ nhân không chỉ trong họa giới mà còn trong văn giới nữa. Tiêu biểu cho phái phục cổ tranh hoa điểu là Biên Văn Tiến 邊文進 và Lã Kỷ 呂紀. Về sau có cha con Lâm Lương 林良 mới nổi tiếng về thủy mặc hoa điểu theo lối tả ý. Giữa đời Minh về sau, lối tả ý mới thịnh hành. Các cao thủ về hoa điểu tả ý có Trần Thuần 陳淳 và Từ Vị 徐渭. Chu Chi Miện 周之冕 nổi tiếng về sáng kiến vẽ hoa rất tỉ mỉ còn vẽ lá thì theo lối tả ý, tức là kết hợp công bút với ý bút. Trong khi đó Trần Hồng Thụ 陳洪綬 nổi bật với tranh hoa điểu theo lối công bút cố hữu của ông.


 


Lan – tranh Kim Nông (1687-1764)

Đến đời Mãn Thanh (1644-1911) dân tộc Mãn thống nhất Trung Quốc. Nhiều phong trào phản Thanh phục Minh nổi dậy. Tướng Trịnh Thành Công khởi nghĩa vùng Giang Nam, Chiết Giang, sau lập căn cứ ở đảo Đài Loan, mộng không thành, ôm hận mà chết. Còn Mạc Cửu thì sang Hà Tiên (Việt Nam) lập nghiệp, không chịu khuất thân với Thanh triều. Nhà Thanh một mặt thẳng tay đàn áp người khởi nghĩa phục Minh, một mặt biết chiêu dụ nhân tài, thu dùng kẻ sĩ. Các vua Khang Hi và Càn Long vừa giỏi võ nghệ vừa trọng văn hóa, cho nên văn học nghệ thuật cũng rất thịnh. Về phương diện hội họa, các họa gia vẫn tuân thủ quy phạm điển chương họa pháp đời Minh, nghĩa là vẫn mô phỏng cổ nhân, không có gì đặc sắc về mặt sáng tác. Tuy nhiên riêng về hoa điểu có nhiều phát triển. Uấn Nam Điền 惲南田 nổi tiếng về lối vẽ không viền nét (một cốt họa pháp) được coi là phương cách thể hiện màu hoa tươi tắn và mềm mại. Ngoài ra còn có Hoa Nham 華嵒, Lý Thiện 李鱓, Kim Nông 金農 đều sở trường về hoa điểu, bút pháp giản dị độc đáo. Bút pháp tân kỳ nhất là của hai di thần nhà Minh: Thạch Đào Hòa Thượng 石濤和尚 và Bát Đại Sơn Nhân 八大山人 mang tâm trạng bi thống của kẻ vong quốc, khí bút hào phóng dị kỳ. 
 
 
Hoa sen tranh của Bát Đại Sơn Nhân
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Cuối đời Thanh, giao thông giữa Đông và Tây thường xuyên hơn. Tất nhiên lối họa truyền thống Trung Quốc và lối họa Tây phương cũng có ảnh hưởng hỗ tương nhất định. Tuy vậy đa số họa gia Trung Quốc vẫn duy trì phong cách hội họa truyền thống của họ. Về hoa điểu, công bút có Nhiệm Bá Niên 任伯年, ý bút có Tề Bạch Thạch 齊白石, Ngô Xương Thạc 吳昌碩, Cao Kỳ Phong 高奇峰, Cao Kiếm Phụ 高劍父, Trần Thụ Nhân 陳樹人, Vu Phi Ám 于非闇, Từ Bi Hồng 徐悲鴻...
Cao Kỳ Phong, Cao Kiếm Phụ, Trần Thụ Nhân, Triệu Thiếu Ngang 趙少昂, Lê Cát Dân 黎葛民 được coi là những người khai sáng họa phái Lĩnh Nam 嶺南, một họa phái kết hợp sáng tạo lối vẽ cổ truyền Trung Quốc và lối vẽ Tây phương cận đại. Chi phái Lĩnh Nam tại Việt Nam do ông Lương Thiếu Hàng 梁少航 sáng lập (môn đệ của Triệu Thiếu Ngang). Ông Lương tạ thế, môn đệ là Lý Tùng Niên 李松年 kế tục, lập nên nhóm Nam Tú Nghệ Uyển 南秀藝苑 tại Chợ Lớn ngày nay.


© http://vietsciences.free.fr  , http://vietsciences.org  và http://vietsciences2.free.fr  

Thứ Ba, 5 tháng 2, 2013

HỘI HỌA CUNG ĐÌNH


Chỉ có triều đình là có toàn quyền và nguồn tài lực để bảo trợ nghệ thuật cao với qui mô đáng kể. Vua chúa đã quy tụ những thư hoạ gia tài giỏi nhất nước về phục vụ cho họ, không chỉ vì họ yêu nghệ thuật mà còn là vì họ muốn tuyên truyền về cái thiên mệnh của họ để đối phó với các thế lực chính trị khác và công chúng.

Cuối đời Đường và suốt giai đoạn Ngũ Đại và Thập Quốc phân rã ly loạn trên 50 năm, những truyền thống hội họa cung đình (tạo thành Viện phái) đã được bảo tồn tốt nhất tại Nam Kinh và Tứ Xuyên với các hoạ gia chuyên về hoa điểu và sơn thủy. Sự đỉnh thịnh của tranh hoa điểu trong thời này đã được ghi nhận trong hai tác phẩm đời Tống là Mộng Khê Bút Đàm của Thẩm Quát (1086-1093) và Đồ Hoạ Kiến Văn Chí của Quách Nhược Hư (sống cuối thế kỷ XI). Tác phẩm Đường Triều Danh Hoạ Lục cho biết đời Đường có trên 20 hoạ gia chuyên về hoa điểu, mà người nổi bật nhất là Biên Loan. Cuối đời Đường có hai hoạ gia về hoa điểu trứ danh là Điêu Quang Dẫn và Đằng Xương Hựu. Điêu Quang Dẫn là thầy của Hoàng Thuyên. Trong cục diện thập quốc phân loạn, Hoàng Thuyên (903-968) và Từ Hi (mất khoảng 975) trở thành hai cao thủ về tranh hoa điểu với hai trường phái trái ngược mà người đời gọi là «Từ Hoàng nhị thể» (hai phong cách của Từ Hi và Hoàng Thuyên). Hoàng Thuyên là hoạ gia cung đình (tức viện phái) còn Từ Hi là hoạ gia thôn dã bố y ở Giang Nam. Quách Nhược Hư nói: «Hoàng gia phú quý, Từ Hi dã dật.» Ý nói tranh hoa điểu của Hoàng Thuyên toát vẻ sang trọng, tranh Từ Hi chuộng vẻ mộc mạc bình dị. Về kỹ pháp, Hoàng Thuyên chuyên về tả chân (tả sinh) hay công bút còn Từ Hi chuyên về tả ý hay ý bút.



Tranh của Văn Trưng Minh đời Minh
  Với công bút, tranh phải giống y như thực. Tác giả trước tiên phải dựng hình bằng những đường nét tinh tế (gọi là câu lặc) làm đường viền của đối tượng (hoa, lá, cành, chim, đá, v.v...) sau đó mới tô màu lên. Trái lại, ý bút là kỹ pháp phóng khoáng, đối tượng được thể hiện một cách tượng trưng, thí dụ một nhánh cây hay một chiếc lá lan lá trúc chỉ vẽ bằng một nét bút lướt đi.
Tranh của Thẩm Chu (1427-1509)
Suốt nửa đầu thế kỷ X, tranh sơn thủy có chuyển biến sâu sắc. Nổi bật về sơn thủy có hoạ gia Quách Hi (1000-1090). Vua Tống Huy Tông (cai trị 1101-1125) là một nhà bảo trợ lớn cho các hoạ gia. Bản thân nhà vua cũng là một thư hoạ gia nổi tiếng. Tranh hoa điểu đời này cũng noi theo phong cách của Hoàng Thuyên và Từ Hi đời trước. Hoàng Cư Thái (con của Hoàng Thuyên) rất được vua sủng ái và được mời vào Hàn Lâm Hoạ Viện và do đó phong cách tả thực (công bút) chiếm ảnh hưởng độc tôn trong viện phái (hoạ phái của cung đình).
Tuy nhiên trong các đời vua Tống sau đó, con cháu của Từ Hi (như Sùng Tự, Sùng Huân, Sùng Củ) cũng được vua sủng ái. Vì thế phong cách của viện phái là sự dung hợp của tả thực và tả ý. Các hoạ gia tiêu biểu là Thôi Bạch, Thôi Cốc, Ngô Nguyên Dũ, Triệu Xương, Dịch Nguyên Cát. Đời Nam Tống, Hàn Lâm Hoạ Viện có các hoạ gia danh tiếng như Lý An Trung, Lý Địch, Lâm Thung.
Hội hoạ đời Nguyên không có gì đặc sắc, chẳng qua là mô phỏng đời Tống. Trong đời Minh, triều đình cũng bảo trợ các hoạ gia. Thời này nổi bật ba hoạ phái: Viện phái (của triều đình), Chiết phái, và Ngô phái. Đại biểu của Viện phái là Đường Dần, Cừu Anh, Chu Thần. Chiết phái gồm các hoạ gia quê Chiết Giang như Ngô Vĩ, Trương Lộ, Tưởng Tam Tùng, Tạ Thời Thần, v.v... Ngô phái tiêu biểu là Thẩm Chu, Văn Trưng Minh, Đổng Kỳ Xương, Vương Phất, v.v... Khi đời Thanh đạt đỉnh thịnh dưới triều vua Càn Long, phong cách Viện phái càng trau chuốt tỉ mỉ do ảnh hưởng thị hiếu của nhà vua và ảnh hưởng phong cách của các giáo sĩ Tây phương kiêm hoạ sĩ, thí dụ như Giuseppe Castiglione (1688-1768).

NGHỆ THUẬT CỦA GIỚI N NHÂN
Cuối đời Nam Tống, các văn quan như Tô Thức, Mễ Phất (Mễ Phế), và Lý Công Lân đã khởi sinh một phong cách hội họa gọi là «văn nhân hoạ» – cũng gọi «sĩ đại phu hoạ» (hội họa của các văn nhân, sĩ đại phu) – tương phản với phong cách chính thống của viện phái. Khi người Mông Cổ chiếm Trung Quốc, giới nho sĩ Hán tộc bị nhấn chìm dưới đáy xã hội. Các nho sĩ văn nhân thường thành lập những hội tương tế. Trong hoàn cảnh đó, các tác phẩm hội họa được xem là phương thức để đền ơn đáp nghĩa.
Tranh của Triệu Mạnh Phủ đời
Nguyên
Trong hệ thống giáo dục Lục Nghệ của Nho giáo, các nho sĩ cũng thường phải giỏi về thư pháp. Do đó văn nhân hoạ đã phản ánh kỹ pháp của thư pháp. Theo Triệu Mạnh Phủ – một đại thư hoạ gia đời Nguyên thuộc văn nhân hoạ phái – những nét cứng cỏi của chữ triện hoá thân thành những cành cây, thân cây; còn tám nét cơ bản của thư pháp (tức vĩnh tự bát pháp: tám nét của chữ vĩnh) thì hoá thân thành các lá cây như lá lan lá trúc. Những nét bút khô mực tạo thành dáng thô nhám sần sùi, thích hợp vẽ đá. Người thưởng ngoạn sành điệu có thể nhận ra kỹ pháp của thư gia trong cách vận bút của hoạ gia.
Các hoạ gia thuộc văn nhân hoạ phái chuộng tranh đơn sắc, thường là màu mực đen với những mức độ đậm nhạt của mực. Những tranh vẽ tứ quân tử (mai, lan, cúc, trúc) chỉ bằng mực đen do đó được gọi tương ứng là «mặc mai, mặc lan, mặc cúc, mặc trúc». Tứ đại hoạ gia cuối đời Nguyên (gọi là Nguyên tứ gia: Hoàng Công Vọng, Nghê Tán, Vương Mông, và Ngô Trấn) đã phát triển cao độ nghệ thuật tranh sơn thủy theo phong cách văn nhân hoạ. Nghê Tán (1301-1374) là một trường hợp đặc biệt. Ông quê ở Vô Tích, gần Đại Vận Hà và Thái Hồ. Ông làu thông kinh điển nho gia và khổ công nghiên tập hội hoạ từ tranh của các hoạ gia tiền bối trong các bộ sưu tập của bạn bè khá giả của ông. Mùa xuân 1352, trong bầu không khí chính trị, kinh tế, và xã hội bất ổn của triều đại Nguyên đang sụp đổ, ông buộc phải rời quê hương, rồi sống trên một chiếc ghe lênh đênh 20 năm trên Thái Hồ. Cuộc sống phiêu bạt ẩn dật như một đạo sĩ đó là cách mà ông chọn để bảo vệ tiết tháo và tránh sự bức hại của quan quân triều Nguyên. Các hoạ gia đời Minh và Thanh hâm mộ và khen ngợi ông là «Nghê cao sĩ». Ông dụng bút công phu tinh tế mà tranh toát vẻ giản phác tiêu sơ, chủ yếu là tả cảnh Thái Hồ. Hoạ pháp sơn thủy của Nguyên tứ gia ảnh hưởng rất lớn đến các họa gia thuộc văn nhân phái đời Minh (như Thẩm Chu, Văn Trưng Minh, Đổng Kỳ Xương) và đời Thanh (như Tứ Vương: Vương Thời Mẫn, Vương Giám, Vương Huy, và Vương Nguyên Kỳ).

TỨ QUÂN TỬ TRONG HỘI HỌA TRUNG QUỐC
Trúc mai : «Trúc là quân tử, mai là giai nhân.» – tranh của Thạch Đào đời Thanh
Mai, lan, trúc, cúc là đề tài quen thuộc trong hội họa Trung Quốc. Bốn chủng loại này đều có tính cách cao nhã. Mai nở vào mùa đông và xuân, chịu đựng lạnh lẽo. Lan kiều diễm mảnh mai, hương thơm thâm trầm. Trúc ngay thẳng, vô tâm, đầy tiết tháo. Cúc trải sương giá mà chẳng héo hon, có ý chí thách đố thiên nhiên. Thế nên các văn nhân Trung Quốc ái mộ mà đặt tên cho bốn loại này là Tứ quân tử.
Hơn hai ngàn năm trước, thi nhân Khuất Nguyên đã so sánh hoa lan với mỹ nhân rằng: «Thu lan hề thanh thanh, lục diệp hề tử hanh. Mãn đường hề mỹ nhân, hốt độc dữ dư hề thả thành.» (Thu lan ơi mườn mượt, cọng tía cùng lá xanh. Đầy nhà toàn người đẹp, riêng với ta đưa tình.)
Hoa cúc trác việt siêu phàm. Đào Tiềm, thi nhân đời Tấn, từng thốt rằng: «Thu cúc hữu giai sắc, ấp lộ chuyết kỳ anh, phiếm thử vong ưu vật, viễn ngã di thế tình.» (Hoa cúc mùa thu có sắc đẹp, phơi lộ nét anh tú, khiến ta quên tình buồn, lánh xa tình đời.)
Đời Tống có ẩn sĩ Lâm Bô yêu hoa mai đến độ không cần có vợ con, chỉ chuyên tâm trồng hoa mai và nuôi hạc. Người đời tặng cho ông câu «mai thê hạc tử» (hoa mai là vợ, chim hạc là con).
Trúc - tranh của Từ Vị đời Minh
Yêu trúc có thể kể đến Tô Thức. Ông nói: «Ninh khả thực vô nhục, bất khả cư vô trúc.» (Thà ăn không có thịt chứ không thể ở thiếu trúc). Như vậy đủ biết địa vị của trúc được đề cao như thế nào và các tao nhân mặc khách đều xem trúc là người bạn đường không thể thiếu được.
Các họa gia cũng có cảm tình sâu đậm với tứ quân tử. Mai, lan, trúc, cúc và hội họa Trung Quốc quả có cái duyên không lìa. Trải bao tháng năm lịch sử, nhiều họa gia hậu bối đã cải tiến họa pháp, thể hiện nhiều nét tân kỳ bất tận.
Chủ đề tứ quân tử có tự bao giờ vẫn là vấn đề còn tranh cãi. Theo quyển Thập Quốc Xuân Thu Ký một vị tướng quân của triều Nam Đường tên là Quách Sùng Thao khi chinh phạt nước Thục đã bắt nhiều người. Trong số ấy có Lý phu nhân bị ông ép làm vợ. Lý phu nhân thường u sầu ủ rũ, thích ngồi một mình dưới trăng, ngắm cành trúc la đà. Do xúc cảm, bà dùng bút và mực đen vẽ nên tranh. Người ta cho rằng mặc trúc (trúc vẽ bằng mực đen) bắt đầu từ dạo ấy. Nhưng vị tất mặc trúc bắt đầu từ Lý phu nhân. Người ta biết chắc chắn tranh hoa điểu bắt nguồn từ đời Đường vậy thì bảo mặc trúc có từ Hậu Đường cũng có thể tin được.

Mai, lan, trúc, cúc bước vào hội họa chẳng qua vì chúng hàm hữu ý vị tượng trưng văn học, tiêu biểu đức hạnh của người quân tử. Đời Tống có Văn Đồng, Tô Thức nổi tiếng về mặc trúc, Thôi Bạch với mặc mai, Trịnh Tư Hữu, Triệu Mạnh Kiên với mặc lan, cho đến Triệu Xương, Hoàng Cư Bảo với mặc cúc. Tất cả nhưng danh họa gia này đã vun xới một mảnh đất, khai phóng một con đường giúp cho hội họa các triều đại kế tiếp được phát triển dễ dàng. Vào đời Nguyên mặc trúc đã thịnh hành với các danh gia như Cao Phòng Sơn, Lý Tức Trai, Kha Cửu Tư, Nghê Vân Lâm, Ngô Trọng Khuê, Cố Định Chi, Triệu Mạnh Phủ, Quản Trọng Cơ, v.v... Đặc biệt, Lý Tức Trai đã thâm nhập một ngôi làng trúc, nghiên cứu mọi tư thế của cây trúc, viết thành một quyển sách để đời gọi là Trúc Phổ. Kha Cửu Tư biên soạn quyển Họa Trúc Phổ nghiên cứu họa pháp về trúc đời Tống, có thể xem là sách gối đầu giường cho người sơ học.
Đến đời Minh, tranh mai, lan, trúc, cúc cực thịnh, danh họa gia cũng nhiều như Tống Khắc, Vương Phất, Hạ Xưởng, Lỗ Đắc Chi, v.v... Nổi tiếng nhất là Hạ Xưởng. Ông tự Trọng Chiêu, bắt đầu học vẽ trúc và đá nơi Vương Phất. Về sau ông tự cải tiến lối vẽ trúc: thân trúc thẳng tắp ngạo nghễ, có sắc khói sương, chỗ đậm chỗ nhạt chỗ xơ xác cực kỳ ảo diệu. Thuở ấy có câu ca: «Hạ hương nhất cá trúc, Tây lương thập đĩnh kim.» (Một cành trúc nơi quê ông Hạ Xưởng trị giá mười nén vàng ở Tây Lương).
Trúc – tranh của Ngô Trấn đời Nguyên
Danh gia tiêu biểu về mặc mai có Vương Miện và Trần Hiến Chương.Vương Miện tự là Nguyên Chương vẽ mai thướt tha tiêu sái nổi tiếng đương thời. Vương Miện và Hạ Xưởng là cặp danh gia lừng lẫy; một người về mai, một người về trúc.
Các họa gia đời Thanh vẫn tuân thủ họa pháp đời Minh. Nổi tiếng là Thạch Đào và Bát Đại Sơn Nhân, hai di thần triều Minh. Khi Mãn Thanh lật đổ nhà Minh, Bát Đại Sơn Nhân giả điên giả câm chạy trốn vào núi lánh nạn, một thời làm hòa thượng, một thời làm đạo sĩ. Bát Đại Sơn Nhân thuộc giòng dõi hoàng tộc, tên là Chu Đáp. Bút hiệu của ông ngụ ý sâu sắc: Sơn Nhân có nghĩa là người ẩn dật nơi sơn dã, còn Bát Đại 八大 khi viết thảo theo hàng dọc, chữ bát thành hai chấm đè lên chữ đại , chúng gần giống chữ tiếu (cười) hay chữ khốc (khóc), bày tỏ tâm trạng dở khóc dở cười. Ông dùng hội họa để tiêu sầu, họa pháp chủ về tả ý, đơn sơ mạnh bạo nhưng sống động, chất chứa nỗi lòng u ẩn. Họa pháp của Thạch Đào và Bát Đại sơn nhân phóng túng tiêu sái không tuân theo những qui tắc sẵn có, nên có thể đứng riêng thành một tân họa phái. Ngoài ra có thể kể thêm một số danh họa gia đời Thanh như Trịnh Tiếp nổi tiếng về lan trúc, Lý Phương Ưng, Kim Nông, Uông Sĩ Thận nổi tiếng về mặc mai. Các họa gia cận đại như Triệu Huy Thúc, Ngô Xương Thạc, Tề Bạch Thạch sáng tạo nhiều nét tân kỳ có thể gọi là cao thủ về mai, lan, trúc, cúc.
Tứ quân tử chiếm một vị trí đặc biệt trong hội họa Trung Quốc. Qua từng thời đại các danh họa gia đã góp phần sáng tạo và thể hiện tứ quân tử thêm tân kỳ. Ngày nay các họa gia Trung Quốc đã mạnh dạn thâu hóa họa pháp Tây phương. Môn họa truyền thống này sẽ phát triển như thế nào vẫn còn là vấn đề thú vị mà người ta chưa tiên đoán được.


           © http://vietsciences.free.fr  và http://vietsciences.org  Lê Anh Minh

Thứ Tư, 30 tháng 1, 2013

Ý NGHĨA BIỂU TƯỢNG TRONG HỘI HỌA TRUNG HOA - II




Không chỉ hoa, mà quả cũng mang ý nghĩa biểu tượng nữa. Chẳng hạn quả đào tượng trưng sự trường thọ; thí dụ tranh «Đào hiến thiên xuân» 桃獻千春 (đào dâng nghìn tuổi xuân) vẽ ông lão cầm quả đào. Quả lựu tượng trưng cho sự đông con cái; thí dụ tranh «Lựu khai bách tử» 榴開百子(quả lựu mở sinh trăm con) vẽ ông lão cầm quả lựu bóc dở, cho trông thấy hạt. Quả phật thủ tượng trưng cho phúc; thí dụ tranh vẽ quả phật thủ (phúc) với quả đào (thọ) và quả lựu (đông con) là ngụ ý: đa phúc, đa thọ, đa nam tử. Quả quít tượng trưng sự tốt lành (cát). Ngay trong đời sống hằng ngày người ta cũng thích biếu xén nhau quít.
Hoa thường được vẽ chung với điểu. Chim hạc tượng trưng cho sự trường thọ. Người Trung Quốc tin rằng hạc sống đến ngàn năm (hạc thọ thiên tuế 鶴壽千歲). Hạc thường được vẽ chung với cây tùng (cũng ngụ ý trường thọ), nên tranh «Tùng hạc diên niên» 松鶴延年 (tùng và hạc sống lâu) được dùng để chúc thọ.
Thi nhân cho rằng chim én là loài chim nhỏ có cảm tình, mùa thu và mùa đông bay đi tìm cái ấm áp của miền nhiệt đới và mùa xuân quay về tổ cũ. «Xuân phong yến hỉ» 春風燕喜 (chim yến vui trong gió xuân) mô tả một đôi én về tổ trong cành liễu xanh phất phơ hay cành đào hồng thắm. Một bức tranh với đôi én hoặc một bức tranh với cặp hồng nhạn (vịt trời) hay đôi uyên ương bơi lội trong ao sen chính là biểu tượng tình nghĩa vợ chồng, gia đình khang lạc.



SONG THỌ - tranh Tề Bạch Thạch























Tranh «Thập toàn báo hỉ» 十全報喜 vẽ mười con chim khách đậu trên phiến đá và trên cây tùng hót líu lo báo tin mừng (chim khách được tin tưởng là báo điềm lành nên tục gọi nó là «hỉ thước» 喜鵲), tranh để chúc sự nghiệp thành công.
Dưới cội mai vàng (biểu tượng của phúc) là đôi chim cun cút hoặc một đàn gà con cùng gà trống gà mái cũng là biểu tượng của ân nghĩa tào khang, quan hệ nhân luân. Tranh phụ đề «ân nghĩa tại sinh tiền» 恩義在生前 (ân nghĩa đối với nhau lúc còn sống) thật là cảm động và thâm trầm biết bao! Con gà mái với bầy con tượng trưng cho gia đình đông đúc, đầm ấm.
Con công tượng trưng cho sự bình an thịnh vượng. Chim phượng (thường gọi gộp là phượng hoàng, thực ra phượng là con trống, hoàng là con mái) là linh điểu, tương truyền chim phượng xuất hiện là thánh nhân ra đời. Nhưng chim loan và chim phượng thì tượng trưng duyên nợ vợ chồng. Tranh «loan phượng hoà minh» 鸞鳳和鳴 (chim loan và chim phượng hoà chung tiếng hót) ngụ ý sự hoà thuận êm ấm của vợ chồng.
Một số động vật cũng có ý nghĩa biểu tượng. Rồng (long ), một con vật huyền thoại, là biểu tượng của vương quyền. Kỳ lân (kỳ là con đực, lân là con cái) tượng trưng nhân ái và thái bình. Con rùa (quy ) cũng là thần vật, tương truyền nó sống tới ngàn năm, nên tượng trưng sự trường thọ.
Ngựa là một chủ đề quen thuộc. Dân gian cho rằng ngựa có đức tính trinh tiết, ý thức rõ quan hệ truyền chủng, không vi phạm cái mà luân lý loài người gọi là loạn luân. Như Dịch Kinh từ đời Chu đã ca ngợi là «Tẫn mã chi trinh» 牝馬之貞 (đức trinh tiết của ngựa cái). Ngựa còn có đức tính trung thành, một đức tính mà Nho gia rất coi trọng trong các mối quan hệ xã hội. Tuy nhiên, trong thực tế, ngựa từ thời xa xưa có giá trị rất cao. Trong chiến tranh ở Trung Quốc cổ đại, ngựa giữ vai trò rất quan trọng có thể gọi là nền tảng của sức mạnh quân sự. Các kỵ binh du mục trên lưng các chiến mã thần tốc và dũng mãnh luôn là mối kinh hoàng cho binh quân của Trung Quốc. Trong giao thông vận tải thì ngựa là phương tiện nhanh chóng và hữu hiệu. Từ đời Thương người ta đã biết đánh xe ngựa tới nơi xa xôi để buôn bán. Ngoài giá trị quan trọng của ngựa trong vận tải và quân sự, người ta còn tìm thấy giá trị y học của ngựa, được mô tả trong Bản Thảo Cương Mục (xuất bản 1596) nữa. Cứ xem đời nay mà xét, ngày nay người ta xem những xe hơi hiện đại sang trọng là biểu tượng của giàu có thì ngày xưa ngựa chính là biểu tượng đó. Nói chung, ngựa xuất hiện trong tranh Trung Quốc như là biểu tượng của sự mau chóng và thành đạt. Thí dụ bức tranh có chủ đề phổ biến nhất là «mã đáo thành công» 馬到成功 thể hiện qua một bầy ngựa phi nước đại gió bụi mịt mù. Nguyên ý câu này là «Kỳ khai đắc thắng, mã đáo thành công» 旗開得勝馬到成功 (Cờ phất [làm hiệu thì] chiến thắng, ngựa quay về [báo tin] thành công). Ngày xưa khi xuất binh phải phất cờ hiệu, mà cờ đã phất rồi thì phải chiến thắng; tướng soái khi lấy đầu tướng giặc, chiến mã quay về tất báo tin thành công. Ý nghĩa câu «mã đáo thành công» ngày nay chỉ còn tượng trưng là tốc chiến tốc thắng. Và một bức tranh «mã đáo thành công» làm quà khai trương cho một cửa hiệu chỉ đơn giản tương tự như là «khai trương hồng phát» (mở cửa tiệm thì phát đạt lớn).


Có những vật tưởng như bình thường nhưng cũng có ý nghĩa đặc biệt, thí dụ con cóc tía (thiềm thừ 蟾蜍) tượng trưng cho sự giàu có, can đảm, và cái gì quý báu, khó kiếm ra được. Con bướm (hồ điệp 蝴蝶) tượng trưng sự trùng điệp. Con mèo tượng trưng sống lâu. Con cá chép (lý ngư 鯉魚, cá hoá long, cá vượt vũ môn) tượng trưng thi đỗ, v.v...
Rồi sự kết hợp nhiều thứ khác nhau cũng có ngụ ý tổng hợp. Thí dụ hoa kết hợp với điểu, thảo trùng, cá, đá (tượng trưng sự vững chắc) và các khí vật khác (thí dụ cái bình hoa, ngụ ý an bình) làm tăng thêm thi ý cho tranh, thường đó là lời chúc nguyện cát tường.
Mẫu đơn phối hợp với cá lội là biểu tượng «Phú quý hữu dư» 富貴有餘 (phú quý dư dật) là lời chúc nguyện tốt đẹp vào ngày đầu năm. Mẫu đơn vẽ chung với khổng tước (chim công) mang tên «Khổng tước khai bình» 孔雀開屏 là tranh chúc mừng khai trương cửa tiệm. Hoa xuân điểm thêm vài cánh bướm, tạo sinh động cho tranh. Bướm ngụ ý là trùng điệp. Tranh mẫu đơn điểm thêm cánh bướm ngụ ý phú quý trùng điệp 富貴重疊. Hoặc trên cánh hoa vẽ con dế, cho ta hình dung tiếng thu đang về rồi với tiếng nhạc để râm ran đâu đây.
Như trên đã nói, thông qua ngôn ngữ (nhất là từ ngữ đồng âm hay cận âm) người ta sẽ liên tưởng hình vẽ này đến một sự vật nào đó với ý nghĩa biểu tượng nhất định trong tâm thức chung của mọi người.
- Bông hoa, chữ Hán là hoa phát âm [huā] gần giống chữ hoa (vinh hoa) [huá].


- Hoa sen, chữ Hán là liên phát âm [lián] giống như chữ liên (liên tục) [lián]; hoặc chữ Hán là phát âm [hé] giống như chữ hoà (hoà hợp) [hé].
- Quả thị hay cành thị, chữ Hán là thị phát âm [shì] giống như chữ sự (sự việc) [shì].
- Quả lựu, chữ Hán là lựu phát âm [liú] giống như chữ lưu (trôi chảy, lưu truyền) [liú].
- Cây phong, chữ Hán là phong phát âm [fēng] giống như chữ phong (ban phong) [fēng].
- Cây ngô đồng, chữ Hán là đồng phát âm [tóng] giống như chữ đồng (cùng với) [tóng].
- Cành mai, chữ Hán là mai phát âm [méi] gần giống chữ mỗi (mỗi thứ, mỗi người) [měi].
- Cành trúc, chữ Hán là trúc phát âm [zhú] gần giống chữ chúc (chúc tụng) [zhù].
- Con gà, chữ Hán là phát âm [ji] gần như chữ cát (tốt lành) [jí].
- Con cá, chữ Hán là ngư phát âm [yú] giống như chữ (dư thừa, dư dật) [yú].
- Con dơi, chữ Hán là bức phát âm [fú] giống như chữ phúc (hạnh phúc) [fú]. Vẽ 5 con dơi tức là ngũ bức 五蝠 , phát âm [wǔ fú] giống như ngũ phúc 五福 . Con dơi vẽ lộn ngược tức là đảo bức , phát âm [dào fú] giống như đáo phúc 到福 (phúc đến).


- Con mèo, chữ Hán là miêu phát âm [máo] gần giống chữ mạo (già 80 tuổi) [mào].
- Con bướm, chữ Hán là điệp phát âm [dié] giống như chữ điệt (già 70 tuổi) [dié] và chữ điệp (trùng điệp) [dié].
- Con hươu, con nai, chữ Hán là lộc 鹿 phát âm [lù] giống như chữ lộc (bổng lộc) [lù].
- Con vượn, con khỉ, chữ Hán là hầu phát âm [hóu] giống như chữ hầu (tước hầu) [hóu].
- Cái quạt, chữ Hán là phiến phát âm [shàn] giống như chữ thiện (tốt lành) [shàn].
- Ống sáo, chữ Hán là sinh phát âm [shēng] giống như chữ sinh (sinh nở) [shēng] và chữ thăng (bay lên) [sheng].
- Cái lục bình, chữ Hán là bình phát âm [píng] giống như chữ bình (bình an) [píng].
- Cái mũ, cái mão, chữ Hán là quan phát âm [guān] giống như chữ quan (ông quan) [guan].
- Ngọc như ý đúng ý nghĩa là như ý 如意 [rú yì].
- Số 9, chữ Hán là cửu phát âm [jiǔ] giống như chữ cửu (lâu dài) [jiǔ].
- v.v...
Phối hợp nhiều thứ với nhau, tranh vẽ mang ý nghĩa biểu tượng tổng hợp. Thí dụ như:
1. Tranh vẽ quả đào với 5 con dơi ngụ ý Ngũ Phúc Lâm Môn 五福臨門. Ngũ Phúc là: phú (giàu), thọ (sống lâu), khang ninh 康寧 (khỏe mạnh), du hiếu đức 攸好德 (yêu nhân đức), khảo chung mệnh 考終命 (chết êm ái).
2. Tranh vẽ quả phật thủ với con bướm ngụ ý sống lâu đến 70-80 tuổi, vì quả phật thủ tượng trưng cho thọ hay phúc, con bướm (điệp) ngụ ý già 70 tuổi (điệt ) hay trùng điệp (điệp ), tức là phúc thọ trùng điệp 福壽重疊.
3. Tranh vẽ quả phật thủ (phúc) với quả đào (thọ) và quả lựu (đông con) ngụ ý tam đa 三多: đa phúc 多福 (nhiều phúc), đa thọ 多壽 (rất thọ), đa nam tử 多男子(nhiều con trai).
4. Tranh vẽ quả phật thủ, quả đào, quả lựu với 9 miếng ngọc như ý ngụ ý «tam đa cửu như» 三多九如 nghĩa là chúc cho phúc thọ, con cháu đầy đàn, bền vững.
5. Tranh vẽ quả lựu đã bóc vỏ một phần để lộ hạt ra ngụ ý «lựu khai bách tử» 榴開百子 (lựu mở ra sinh trăm con).
6. Tranh vẽ quả lựu với 5 cậu bé con ngụ ý mong cho con cái sau này đều hiển đạt như 5 con của ông Đậu Yên Sơn đời Tống.
7. Tranh vẽ quả lựu (ngụ ý lưu truyền ) với cái mũ (ngụ ý tước quan ), cái đai lưng (đái ), cái thuyền (thuyền , đọc giống truyền ) ngụ ý mong cho «Quan đái truyền lưu»官帶傳流 (đai lưng của quan được lưu truyền, tức là được phong quan tước nhiều thế hệ trong gia tộc).
8. Tranh vẽ hai quả thị (ngụ ý sự việc) với ngọc như ý là mong «Sự sự như ý» 事事如意 (vạn sự như ý).
9. Tranh vẽ cây ngô đồng (đồng âm với đồng : cùng với) với con hươu (lộc 鹿 , đồng âm với lộc : bổng lộc) và chim hạc (trường thọ) là ngụ ý «Lộc thọ đồng lộc hạc» 禄壽同鹿鶴 (được bổng lộc và sống lâu như hươu, hạc).
10. Tranh vẽ chim hỉ thước 喜鵲 (vui vẻ) đậu cây ngô đồng (đồng âm với đồng : cùng với) là ngụ ý «đồng hỉ» 同喜 (mọi người cùng vui vẻ).
11. Tranh vẽ đứa trẻ cỡi trên lưng con kỳ lân tay cầm bông sen (liên ) và ống sáo (sinh ) là ngụ ý «Liên sinh quý tử» 連生貴子 (liên tiếp sinh quý tử).
12. Tranh vẽ 4 đứa trẻ: đứa cầm cành táo (tảo , đồng âm với tảo : sớm), đứa cầm ống sáo (sinh ), đứa cầm cái ấn quan văn, đứa cầm cái kích quan võ là ngụ ý mong: sớm sinh con cái sau này thành quan văn hay quan võ.
13. Tranh vẽ đứa trẻ ăn mặc sang trọng (phú ), cổ đeo cái khánh (đồng âm với khánh , hiểu là may mắn hạnh phúc) đang ngắm bầy cá vàng (ngư , hiểu là dư thừa) là ngụ ý mong: giàu có, đông con, hạnh phúc có thừa.
14. Tranh vẽ chim hỉ thước 喜鵲 đậu cành mai (đồng âm với mỗi : mọi người) cành trúc (đồng âm với chúc : chúc mừng) là ngụ ý mong cho mọi người đều vui vẻ.
15. Tranh vẽ trúc mai 竹梅 ngụ ý mọi người may mắn.
16. Tranh vẽ mai, trúc với con mèo và con bướm là ngụ ý mong mọi người sống lâu đến 70-80 tuổi.
.
17. Tranh vẽ mẫu đơn 牡丹 (phú quý) với con gà ( đồng âm với cát : tốt lành) ngụ ý «phú quý cát tường» 富貴吉祥.
18. Tranh vẽ con khỉ (hầu ) trèo cây phong (phong ) có cái ấn cột vào cành cây ngụ ý «ấn phong hầu» 印封侯, tức là được thăng quan tiến chức nói chung.
v.v...
Trên đây là một số minh hoạ tiêu biểu. Tóm lại, ý nghĩa biểu tượng của loại tranh này cho thấy ba chủ ý của tác giả: 1- gởi gấm ý chí; 2- ước nguyện mọi tốt lành cho bản thân; 3- và cầu chúc hạnh phúc cho người khác. Với chủ ý thứ ba, các bức tranh này thường được người ta làm quà tặng nhau vào những dịp mừng thọ hay những dịp đặc biệt như ngày đầu năm, mà những lời chúc nguyện rồi sẽ như chồi non lộc mới nảy nở thành những đoá hoa rực rỡ tươi thắm trong tiết xuân sang.●


Sưu tầm từ:http://vietsciences.free.fr/lichsu/thuhoa-trungquoc/ynghiabieutuong.htm