Translate

Hiển thị các bài đăng có nhãn NGHỀ NGHIỆP. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NGHỀ NGHIỆP. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2015

ĐẠI YÊN CÒN ĐÓ MỘT NÉT XƯA

Một khu chợ nhỏ họp ở cổng làng xưa. Nơi đấy bán các loại cây lá cỏ...để chữa bệnh, để làm gia vị . Nào là bó lá xông, nào là lá trị ngứa, nào là chút củ xả chút lá chanh để ăn ốc luộc hoặc đơn giản là nắm lá mùi để tắm hoặc gội đầu cho thơm....Làng Đại Yên xưa này là ngõ 173 Hoàng Hoa Thám quận Ba Đình Hà Nội. Người cao niên ở Hà Nội đều quá quen với những mặt hàng này. Xưa ở chợ Hà Nội nào cũng có vài ba hàng bán lá thuốc Nam mà thường nằm ở cổng và chợ gần với hàng hoa. Theo hoạ sỹ Lê Thiết Cương thí nó có ý của nó." Cái đẹp thì ở ngoài cổng chợ để dưỡng tâm hồn chứ ở cổng chợ lại là mấy hàng thịt chó mắm tôm thì chả hay" hoạ sỹ tâm sự. Giờ chợ Hà Nội xưa chả còn nhưng thật may ở làng Đại Yên vẫn còn giữ được cái chợ bán lá thuốc nam. Gọi là chợ cho oai chứ đúng ra chỉ còn 4-5 người bán. Giờ mấy ai còn chữa cảm bằng cách xông lá, giờ mấy ai còn gội đầu bằng lá mùi ?...Bà Chính 90 tuổi người làng Đại Yên xưa chiều chiều bà vẫn bán lá thuốc ở đầu làng kể: " tôi bán thuốc từ hồi 20 tuổi, về làng làm dâu là tôi theo nghề nhà chồng. Xưa đi bán lá thuốc nam rong trong phố cổ nhớ lần có cô ở phố Hàng Bạc gọi tôi vào mua lá thuốc để trị mẩn ngứa ở người. Ban đầu cô ý nói:" thuốc tây đắt tiền còn chả chữa được chứ mấy nắm lá của bàn ăn thua gì, mua thì cứ mua cho vui thôi". Thế mà sau khi tắm lá thuốc của tôi cô ý khỏi. Lần sau gặp cô ý cám ơn và biếu thêm tiền nhưng tôi không lấy. Không chỉ bán ở làng người Đại Yên còn toả ra khắp các chợ Hà Nội. Ghé qua chợ Hàng Bè xưa tôi gặp cô Ngoại 56 tuổi người làng Đại Yên cô kể: "tôi bán ở chợ Hàng Bè này từ hồi 17 tuổi. Nghề này làm là phải yêu nghề và có tâm, mấy cái lá thế này thôi mà cứu được người đấy".
Thật vui khi vẫn tìm thấy hồn cốt của Hà Nội xưa. Người viết bài này cũng mong bộ ảnh này như một lời nhắc nhở là vẫn còn đó những nét đẹp trong tưng lá cây ngọn cỏ và trong tâm hồn người Hà Nội.

















Nguồn:

Thứ Bảy, 25 tháng 1, 2014

NGƯỜI THỢ HƠN NỬA THẾ KỶ HỚT TÓC TRÊN PHỐ CỔ HÀ NỘI

 
Thứ hai, 20/1/2014 08:41 GMT+7

Người thợ hơn nửa thế kỷ hớt tóc trên phố cổ Hà Nội

Ở tuổi 82, ông Thọ vẫn ngày ngày cắt tóc cho người dân quanh phố Lê Văn Hưu (Hà Nội). Ông tự hào đã nuôi 6 người con trưởng thành nhờ nghề này.
IMG-6771-4407-1390016647.jpg
Hình ảnh ông già nhỏ bé cắt tóc cho khách với chiếc ghế bạc màu trong căn phòng nhỏ ở phố Lê Văn Hưu đã rất quen thuộc với nhiều người Hà Nội.
IMG-6810-2303-1390016647.jpg
Ông Ngô Trường Thọ sinh năm 1932, bắt đầu làm nghề cắt tóc từ những năm 1950. Ban đầu, ông làm ở vỉa hè phố Nguyễn Du, tới năm 1961 về cắt tại 94 Lê Văn Hưu.
IMG-6776-1311-1390016648.jpg
Người tới chỗ ông cắt tóc chủ yếu là khách quen, giá 20.000 đồng một lần cắt.
IMG-6817-9914-1390016648.jpg
Ông Nam cho biết đã cắt tóc ở đây từ khi còn nhỏ. Lúc đó, ông Thọ còn phải để một thanh gỗ ngang lên thành ghế để ông Nam ngồi. 4 thế hệ trong gia đình ông Nam đều là khách quen của người thợ này.  
IMG-6849-1985-1390016648.jpg
Ở tuổi 82, có 3 điều khiến ông Thọ tâm đắc nhất là cả 6 người con đều trưởng thành, ông vẫn sống được bằng nghề này và còn sức khỏe để phục vụ xã hội.
Ông kể:"Thời xưa tôi cắt tóc nuôi được 6 con. Con đầu tôi sinh năm 1950 con út tôi sinh năm 1973. Tất cả đều đã trưởng thành. Thằng út nó vừa làm hộ chiếu cho tôi để tôi sang Đức chơi nhưng tôi không thích, tôi chỉ thích ở nhà ".
Ông Thọ kể: "Thời xưa, tôi cắt tóc nuôi được 6 con. Con đầu sinh năm 1950, con út sinh năm 1973. Thằng út vừa làm hộ chiếu cho tôi sang Đức chơi nhưng tôi không thích, tôi chỉ muốn ở nhà".
IMG-6863-5257-1390016649.jpg
Những lúc rảnh rỗi, ông tự quét dọn chỗ cắt tóc mà không thuê thợ phụ, người giúp đỡ.
DoNghe-1200-1390016649.jpg
Những chiếc kéo, chiếc lược, tông đơ đã theo ông cả chục năm.
IMG-6896-9258-1390016650.jpg
Chiếc ghế cắt tóc song hành cùng ông Thọ đã 62 năm.
IMG-6870-4138-1390016651.jpg
Trong cửa hàng nhỏ của ông có 2 ghế chính cho khách ngồi làm và vài chiếc ghế nhựa cho khách chờ.
Đúng 6 giờ chiều là ông Thọ ra về
Đúng 18h chiều là ông Thọ ra về.
IMG-6918-2100-1390016652.jpg
Ông Thọ khoe: "Hàng sáng, tôi dậy từ 4h30, chạy bộ từ dốc Thọ Lão ra hồ Bảy Mẫu rồi ăn phở ở Triệu Việt Vương trước khi đi làm. Tới giờ tan làm, tôi đi gặp bạn bè, uống đúng 3 cốc bia hơi trước khi về ăn cơm".
Lê Bích                  
Nguồn:       http://doisong.vnexpress.net/tin-tuc/nhip-song/nguoi-tho-hon-nua-the-ky-hot-toc-tren-pho-co-ha-noi-2941684.html?fb_action_ids=10152008661644737&fb_action_types=og.likes&fb_source=other_multiline&action_object_map=%5B583567215056777%5D&action_type_map=%5B%22og.likes%22%5D&action_ref_map=%5B%5D                                    

Thứ Bảy, 15 tháng 12, 2012

ĐỒ SỨ MEN LAM THỜI KHANG HY


Đồ sứ men lam TQ thời Khang Hy
Trung Quốc được xem là cái nôi của ngành mỹ nghệ gốm sứ thế giới. Ngành này phát triển liên tục qua các triều đại Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh rồi đạt đến đỉnh cao vào thời Thanh (1644-1911).
Đặc biệt, đồ sứ men xanh trắng (Thanh Bạch Từ Khí) triều Thanh Khang Hy (1662-1722) được giới sưu tầm thưởng ngoạn cổ vật trên thế giới công nhận là tốt đẹp nhất. Tại Việt Nam do điều kiện địa lý gần gũi, tương quan văn hóa mật thiết nên từ xưa qua con đường ngoại giao, thương mại, một số lớn gốm sứ Trung Quốc đã tồn tại khá nhiều, trong đó loại đồ sứ xanh trắng Khang Hy rất được quý chuộng. Để giúp cho giới sưu tập có cơ sở giám định về đồ sứ Khang Hy, chúng tôi xin cung cấp một số tiêu chí sau.
Khang Hy là vị vua giỏi nhất của triều Thanh, trị vì suốt 60 năm. Chính ông đã thống nhất đất nước, thiết lập một chính quyền vững mạnh, ổn định xã hội để phát triển kinh tế. Nhờ sự đặc biệt quan tâm của chính nhà vua nên ngành mỹ nghệ gốm sứ truyền thống Trung Quốc sau thời gian bị ngưng trệ lúc giao thời Minh-Thanh đã bật dậy mạnh mẽ. Cảnh Đức Trấn trở thành trung tâm sản xuất đồ gốm sứ lớn nhất thế giới. Chúng ta có thể chia ra ba thời kỳ:
Đầu Triều Khang Hy (1662-1682)

kangxi-1
Đầu thời Khang Hy
Đầu thời Khang Hy
Lúc đầu các lò quan  ở Cảnh Đức Trấn chỉ chuyên chế tạo, cung cấp cho triều đình vật dụng cúng tế. Hình dáng, hoa văn, thai cốt vẫn còn theo phong cách thời cuối Minh, men xanh nổi dày có chấm đen, màu sắc tối xám không được tươi đẹp. Cốt đất có nhiều tạp chất nên sau khi nung dưới đáy sản phẩm lộ ra màu đỏ gạch, có dính cát nhỏ. Thai thể dày nặng thô vụng, kiểu cách đơn giản. Đầu thời Khang Hy triều đình có lệnh cấm ghi niên hiệu vào đồ sứ dân dụng.
Giữa Triều Khang Hy (1683-1705)

kangxi-2
Giửa thời Khang Hy
Giửa thời Khang Hy
Bước vào thời thịnh vượng nhất của mỹ nghệ đồ sứ. Từ hình thức trang trí kiểu cách tạo hình, men màu đều phong phú mới lạ. Họa sĩ áp dụng họa pháp “tuyển nhiễm” bằng cách dùng bút lông thấm đẫm men màu xanh cobalt tô nhiều lần cho đậm hoa văn trên thai cốt trắng, sau đó phủ men trong. Đồ sứ xanh trắng chỉ nung một lần là thành phẩm vì oxide cobalt chịu được nhiệt độ rất cao (1.3500C).
Đặc biệt đồ sứ cao cấp do các lò quan chế tạo dùng loại men màu của tỉnh Vân Nam gọi là “Châu Minh Liệu” nên sau khi nung đồ sứ có hoa văn màu xanh tươi đẹp sáng bóng như ngọc, không có chấm đen (Hắc Thung Nhãn). Các màu xanh đậm nhạt nổi bật được gọi là “năm màu hoa văn xanh” (Thanh Hoa Ngũ Thái).
Nhìn chung đặc điểm của đồ sứ giữa thời Khang Hy là:
– Thai thổ: đất làm cốt được tinh luyện rất sạch không lẫn tạp chất, không có thiếc nên đáy không lộ màu đỏ như đồ sứ thời Minh.
– Thai thể: nhờ kỹ thuật cao nên rất mỏng, cứng chắc tinh xảo.
– Màu men xanh cobalt: có thể làm đậm nhạt trở thành nhiều màu rất tươi đẹp. Nên họa sĩ thể hiện được âm dương sáng tối dễ dàng, vẽ nhân vật có thần thái linh động tự nhiên, cảnh sắc núi sông bao la trùng điệp, hùng vĩ.
– Men bọc ngoài: trong suốt làm nổi bật hoa văn màu xanh trang trí dưới men nhưng không làm chói mắt như đồ sứ mới.
– Các sản phẩm lớn như lu, chóe, bình hoa, ống tranh, ống bút… thời này thường vẽ cảnh rồi viết kèm các bài danh văn như: Tiền Xích Bích Phú, Hậu Xích Bích Phú, Xuất Sư Biểu, Tứ Cảnh Độc Lạc, Thánh Chúa Đắc Hiền Thần Tụng… Cuối bài văn thường có khuôn dấu vuông bằng men xanh hoặc đỏ ghi “Hy triều phụ cổ, Hy triều bát cổ…”. Ngoài ra còn có loại hoa văn chìm rất đặc biệt.
– Về hiệu đề: ghi “Đại Thanh Khang Hy niên chế” hoặc phỏng theo “Đại Minh Tuyên Đức niên chế”, “Đại Minh Thành Hóa niên chế” viết theo kiểu chữ khải thành hai hoặc ba hàng (cũng có khi chỉ ghi bốn chữ thành hai hàng Khang Hy niên chế, Thành Hóa niên chế…), đồ dân dụng thì vẽ nhiều loại ký hiệu như một hoặc hai vòng tròn, khung vuông hoặc để men trắng.
Cuối thời Khang Hy (1705-1722)

kangxi-3
Cuối thời Khang Hy
Cuối thời Khang Hy
Nhờ triều đại thịnh trị kéo dài, đời sống xã hội liên tục phát triển mọi mặt khiến nhu cầu đồ sứ tăng lên rất nhiều. Kết quả thúc đẩy công nghệ chế tạo càng ngày càng tinh xảo. Đồ sứ xanh trắng cuối thời Khang Hy đạt đến đỉnh cao mỹ thuật, được đánh giá quý đẹp như ngọc thạch.
Hiệu đề dưới đáy sản phẩm (khoản thức, niên hiệu) của đồ sứ thời cuối Khang Hy rất đa dạng. Đồ ngự dụng, niên hiệu được ghi bằng lối chữ triện rất hiếm gặp. Đồ sứ cao cấp thường ghi tên các tòa nhà, hiên, trai: Càn dịch trai, Trung Hòa Đường, Ứng Đức Hiên, Nhã Ngoạn, Thanh Ngoạn…
Đồ sứ dân dụng thì vẽ các biểu tượng như: Hoa Mộc Diệp, Nấm Linh Chi, Cuốn Thư, Đỉnh Quý, Lá Lật… Đặc biệt thời này đồ án trang trí đề tài phong cảnh nhân vật nhỏ dần ảnh hưởng theo họa pháp của Triệu Bỉnh Trinh vẽ “Canh Chức Đồ (những đề tài mô tả việc cày ruộng, dệt vải)”.
Sản phẩm sứ xanh trắng từ giữa đến cuối thời Khang Hy được xuất khẩu đến thị trường các nước trong khu vực, tận vùng Tây Á, châu Âu.
Rất tiếc sau 300 năm với bao nhiêu biến động khắp nơi trên thế giới, đồ sứ Khang Hy cũng bị mai một dần. Do đó giới sưu tầm cổ vật thường ao ước làm chủ một vài món sứ Khang Hy tuyệt phẩm, nguyên lành để được xếp vào hàng sành điệu trong làng chơi cổ ngoạn.
Kangxi 1662-1722.  Imperial Kangxi mark. Middle period: freely written marks, rather loose.
Kangxi 1662-1722. Imperial Kangxi mark. Middle period: freely written marks, rather loose.
Kangxi 1662-1722.  Imperial Kangxi mark. Late period: Precise, tight, rather small and less "free" than the other two groups.
Kangxi 1662-1722. Imperial Kangxi mark. Late period: Precise, tight, rather small and less "free" than the other two groups.
non-imperial mark, leaf
non-imperial mark, leaf
Qing, kangxi - lingqi fungus mark (linh chi)
Qing, kangxi - lingqi fungus mark (linh chi)

Sưu tầm

CẢNH ĐỨC TRẤN - NGỰ DIÊU XƯỞNG

Cảnh Đức Trấn Ngự Diêu Xưởng – Jingdezhen imperial kiln


cdt110
Cảnh Đức Trấn là một thành phố nằm ở phía đông bắc tỉnh Giang Tây. Vùng đất này xưa có tên là Xương Nam Trấn, nơi có nhiều mỏ kaolin hảo hạng và những cánh rừng gỗ sài cung cấp loại củi tốt nhất để đốt lò nung gốm sứ. Vào đời Cảnh Đức (1004 – 1007), vua Thần Tông nhà Tống (960 – 1279) đã chọn Xương Nam Trấn để thiết lập ngự diêu (yuyao), chuyên chế tác các món đồ gốm dành cho nhà vua và hoàng gia triều Tống sử dụng. Tất cả những món gốm sứ chế tác tại ngự diêu ở Xương Nam Trấn đều có khắc bốn chữ Hán Cảnh Đức ngự chế (đồ ngự dụng của triều Cảnh Đức). Từ đó, người ta gọi tất cả những món gốm sứ chế tác tại ngự diêu Xương Nam Trấn là gốm Cảnh Đức. Lâu dần tên Cảnh Đức trở thành của vùng đất này – Cảnh Đức Trấn, thay cho tên gọi Xương Nam Trấn trước đây.

cdt210
Thời Minh (1368 – 1644), Cảnh Đức Trấn cùng với Châu Hiên Trấn (ở Hà Nam); Hán Khẩu Trấn (ở Hồ Bắc); Phúc Sơn Trấn (ở Quảng Đông) được liệt vào tứ trấn lớn nhất Trung Hoa. Tiếp sau triều Tống, các triều Nguyên (1271 – 1368), Minh (1368 – 1644) và Thanh (1644 – 1911) đều đặt ngự diêu xưởng ở Cảnh Đức Trấn, chuyên làm các mặt hàng gốm sứ cao cấp để hoàng gia và triều đình sử dụng. Ngoài ngự diêu chỉ làm gốm sứ cho riêng nhà vua, Cảnh Đức Trấn còn có hệ thống quan diêu (guanyao) và dân diêu (minyao) với hàng ngàn lò gốm sứ trải khắp trấn. Vào thế kỷ XVII, một sứ đoàn nước Pháp đến thăm Cảnh Đức Trấn, chứng kiến hoạt động sản xuất gốm sứ ở đây, đã kinh ngạc ghi vào nhật ký hành trình: “Ban ngày, khói đốt lò bốc lên tận chín tầng mây. Ban đêm, lửa đốt lò thắp sáng cả bầu trời”.
cdt35
Ngày nay, Cảnh Đức Trấn vẫn tiếp tục giữ vai trò là một trung tâm sản xuất gốm sứ lớn nhất Trung Quốc, nên được xưng tụng là thủ đô gốm sứ của Trung Hoa. Hiện nay, Cảnh Đức Trấn còn lưu giữ được 133 công trình kiến trúc lịch sử và cảnh quan văn hóa, được Cục văn vật Trung Quốc công nhận là di chỉ quốc gia. Một trong những di chỉ nổi tiếng nhất của Cảnh Đức Trấn là ngự diêu xưởng Châu Sơn.
Châu Sơn là một quả đồi thấp, tọa lạc ở trung tâm Cảnh Đức Trấn. Vào đời Minh Tuyên Đức (1426 – 1620), nơi đây đã được chọn làm nơi thử nghiệm chế tác những món đồ gốm sứ cao cấp cho Minh triều. Xưởng chế tác này tiếp tục hoạt động và đạt được những thành tựu khả quan dưới các đời Thành Hóa (1465 – 1487), Vạn Lịch (1573 – 1620) của triều Minh. Năm 1639, Minh triều chính thức thiết lập ngự diêu xưởng ở Châu Sơn, chuyên làm đồ gốm cho vua dùng. Triều đình cử một viên quan cao cấp của bộ Công đến Châu Sơn làm quản thủ để điều hành ngự diêu xưởng này.
cdt41
Cũng trong năm đó, một tòa lầu bằng gỗ cao 4 tầng, tên là Long Châu Các, được dựng trên đỉnh của Châu Sơn và trở thành một biểu tượng lịch sử của Cảnh Đức Trấn, trải từ các triều Minh – Thanh cho đến ngày nay. Xung quanh Long Châu Các, triều đình cho dựng nhiều nhà xưởng, dùng làm nơi nhào đất, tạo cốt, hong phơi gốm mộc, phun màu… và các lò nung chuyên biệt để nung những món đồ cao cấp. Gốm sứ làm cho nhà vua đòi hỏi phải tuân thủ những chuẩn mực nghiêm ngặt. Chỉ những món đồ hoàn hảo dáng kiểu, họa tiết, màu men… mới được tiến cung. Thông thường, cứ khoảng 100 món đồ gốm do ngự diêu làm ra, người ta mới chọn được 1 món toàn bích để cung tiến nhà vua.
cdt51
Phần còn lại phải bị đập vỡ và chôn vào lòng đất để bảm đảm bí kíp chế tác. Không ai có quyền tiếm dụng các món đồ này, dù chỉ giữ lại để làm kỷ niệm. Một truyền thuyết này kể rằng: có một vị hoàng đế Trung Hoa yêu cầu ngự diêu xưởng Châu Sơn phải làm một chiếc lọ hình con rồng, và truyền rằng nếu không làm được thì toàn bộ nhân công trong ngự diêu xưởng Châu Sơn đều bị xử trảm. Hàng chục cốt bình hình rồng được đưa vào lò nung nhưng sau khi nung thì đều bị gãy sụp. Sau cùng, một thợ gốm tên là Tong Bin, đã liều mình nhảy vào trong lò nung và nhờ thế mà chiếc bình cuối cùng đã không bị gãy sụp và được dâng lên cho hoàng đế. Kể từ đó, người ta tôn vinh ông thành vị thần tối cao và thường cầu nguyện sự giúp đỡ của ông trước khi đốt lò.
cdt61
Ngày nay, ngự diêu xưởng Châu Sơn là di tích thu hút du khách đến tham quan nhiều nhất Cảnh Đức Trấn, đặc biệt là những người quan tâm đến gốm sứ. Khi tôi đến thăm Châu Sơn vào năm 2005, trong khuôn viên di tích chỉ có tòa Long Châu Các, dùng làm nơi trưng bày các hiện vật gốm sứ thu được trong các cuộc khai quật ngự diêu xưởng này vào các năm 1984, 1993 và 1999. Cạnh Long Châu Các vẫn còn sót lại một vài phế tích trước đây từng là xưởng hong phơi gốm mộc và xưởng phun men. Dưới chân tòa lầu là những chiếc ‘bao nung’ (vật dùng để đựng các cốt gốm sứ khi nung, tránh bị lửa táp làm hỏng màu men), thu hồi từ các cuộc khai quật trước đây. Những hiện vật gốm sứ trưng bày trong Long Châu Các không có món nào nguyên vẹn. Nguyên do là vì người ta phải đập vỡ chúng trước khi chôn vào lòng đất để bảo toàn bí quyết chế tác. Rất nhiều món đồ trưng bày trong Long Châu Các có niên đại Tuyên Đức, Thành Hóa, Vạn Lịch (thời Minh); Khang Hi, Ung Chính, Càn Long (thời Thanh)… Tất cả đều là hàng “độc”, có giá trị kỹ thuật và giá trị kinh tế rất cao.

cdt71
Ông Sào Hải Thanh, một thợ gốm lão luyện của Cảnh Đức Trấn, người hướng dẫn tôi và các đồng nghiệp Việt Nam đi thăm ngự diêu xưởng Châu Sơn, cho hay: “Tất cả thợ gốm ở Cảnh Đức Trấn và ở Trung Hoa nói chung đều tìm cách kiếm được những mảnh gốm cổ vỡ nát thu hồi từ các cuộc khai quật ở Châu Sơn. Họ mua các mảnh vỡ này về để nghiên cứu và tìm cách phỏng chế màu sắc, nước men của chúng để làm đồ giả cổ kinh doanh kiếm lợi.
cdt81
Vì thế, người ta tìm cách đào trộm và mang bán chúng ở các con phố xung quanh Châu Sơn. Tuy nhiên, từ hai năm trở lại đây, chính quyền thành phố nghiêm cấm việc này. Ai đào trộm và bày bán mảnh gốm vỡ, nếu bị phát hiện sẽ bị xử lý hình sự. Năm trước, có một người đến thuê một gian hàng ở con phố dưới chân Châu Sơn để mở tiệm may. Kỳ thực, đó là một tay đào trộm cổ vật. Anh ta đã đào một con đường hầm xuyên vào lòng Châu Sơn, lấy được nhiều cổ vật có giá trị, rồi phục dựng lại, mang bán sang thị trường nước ngoài thu lợi hàng triệu nhân dân tệ. Vụ việc bị phát giác. Chính quyền đã tuyên án tử hình người này”.
cdt92
Đầu tháng Ba năm nay, tôi trở lại thăm ngự diêu xưởng Châu Sơn và rất bất ngờ khi thấy bên trái ngọn đồi danh giá này xuất hiện một tổ hợp kiến trúc đặc sắc. Hỏi ra mới hay: do diện tích trưng bày gốm sứ trong Long Châu Các khá khiêm tốn và do tòa lầu này đã 370 tuổi, nên chính quyền thành phố Cảnh Đức Trấn vừa cho xây dựng một bảo tàng để trưng bày toàn bộ hiện vật gốm sứ khai quật được ở ngự diêu này từ trước đến nay. Chỉ những hiện vật đặc sắc nhất, độc đáo nhất mới được trưng bày trong Long Châu Các. Trước cửa bảo tàng, người ta dựng 5 pho tượng bằng đồng, tượng trưng cho năm vị quản thủ ngự diêu nổi tiếng nhất của 5 triều: Bắc Tống – Nam Tống – Nguyên – Minh – Thanh. Trong đó, vị thứ 5 chính là viên quản thủ Đường Anh lừng danh dưới triều Càn Long, một nhân vật mà những ai nghiên cứu gốm sứ Trung Hoa không thể không nghe danh. Đồng thời, chính quyền thành phố cũng mở thêm phòng trưng bày, gọi là Ngự Bửu Trai, làm nơi trưng bày tư liệu và hình ảnh về các thời kỳ lịch sử của ngự diêu xưởng Châu Sơn. Sau khi hoàn thiện tổ hợp kiến trúc để bảo tồn và phát huy giá trị của ngự diêu xưởng Châu Sơn, Cục văn vật Trung Quốc dựng bia công nhận nơi này là Toàn quốc trọng điểm văn vật bảo hộ đơn vị (Di tích văn hóa trọng điểm cấp quốc gia).

cdt101
Gần bốn thế kỷ trôi qua, kể từ khi Châu Sơn chính thức trở thành ngự diêu xưởng của Minh triều, tòa Long Châu Các đã trở thành chứng tích và là bảo vật vô giá của kỹ nghệ chế tác gốm sứ ở Cảnh Đức Trấn. Lửa đốt lò vẫn đỏ khắp trấn suốt 400 năm qua; gốm sứ Cảnh Đức Trấn vẫn không ngừng tỏa khắp năm châu bốn bể. Cho nên, dù chỉ còn là di tích, thì ngự diêu xưởng Châu Sơn vẫn xứng đáng với lời ca tụng như câu đối ghi ở trước lối vào Long Châu Các: Ngự khí thanh hoa phỉ vạn quốc. Diêu lô phong hỏa việt thiên niên (Đồ vua danh tiếng lan vạn xứ. Gió lửa lò nung trải ngàn năm).
T.Đ.A.S.
Chú thích ảnh:
Ảnh 01. Long Châu Các tọa lạc trên đỉnh Châu Sơn, nơi trưng bày các hiện vật gốm sứ khai quật tại ngự diêu xưởng Châu Sơn.
Ảnh 02. Cổng vào khu trưng bày ngự diêu xưởng, mới được xây dựng năm 2006.
Ảnh 03. Tổ hợp tượng quản thủ ngự diêu xưởng qua các thời kỳ: Bắc Tống – Nam Tống – Nguyên – Minh – Thanh dựng ở trước cửa khu trưng bày ngự diêu xưởng.
Ảnh 04. Ngự Bửu Trai, nơi trưng bày tư liệu và hình ảnh về các thời kỳ lịch sử của ngự diêu xưởng Châu Sơn.
Ảnh 05. Tước uống rượu ba chân và chân đế hình tam sơn, trang trí lưỡng long, đời Minh Vĩnh Lạc, cao 16,8cm, khai quật năm 1999.
Ảnh 06. Kendi, trang trí cúc dây, đời Minh Thành Hoá, cao 32cm, khai quật năm 1993.
Ảnh 07. Hộp nuôi dế chọi, trang trí rồng mây, đời Minh Tuyên Đức, cao 9,5cm, đkm 13cm, khai quật năm 1993.
Ảnh 08. Dĩa, trang trí trái lựu và hoa, đời Minh Tuyên Đức, đkm 45cm, khai quật năm 1984.
Ảnh 09. Mai bình, trang trí ám long trên nền men đỏ, thời mạt Minh – sơ Thanh, cao 34cm, khai quật năm 1993.
Ảnh 10. Mai bình, trang trí tản vân, thời mạt Minh – sơ Thanh, cao 33,6cm, khai quật năm 1993.
Ảnh 11. Nai đựng rượu, trang trí 9 chim phụng, cúc dây và tản vân, đời Thanh Khang Hi, cao 24cm, khai quật năm 1999.

Sưu tầm

PHỐ NGHỀ THUỘCDA - ĐÓNG GIÀY Ở HÀ NỘI

Ngõ Hài Tượng, thuộc đất thôn Hài Tượng, tổng Hữu Túc (sau đó đổi thành Đông Thọ), huyện Thọ Xương, nay thuộc quận Hoàn Kiếm (Hà Nội). Người làng Chắm giữa, tức làng Phong Lâm (huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương) lên cư trú và hành nghề ở ngõ Hài Tượng từ thế kỷ XVIII. Những người thợ ở đây sản xuất các loại giày dép theo kiểu truyền thống, do đó hình thành nên tên ngõ. Những người thợ này đã lập đền thờ Tổ nghề là Phả Trúc Lâm tại số nhà 16 ở ngõ này.
Dân phố tôn ông Phạm Đức Chính, Phạm Sỹ Bôn, Phạm Thuần Chính quê ở làng Phong Lâm làm Tổ nghề. Vào thời Lê-Mạc (năm 1565), cả ba ông có mặt trong đoàn sứ bộ sang Trung Quốc bang giao. Trên đường đi, đoàn sứ bộ có qua Hàng Châu, các ông đã chú ý đến nghề thuộc da, đóng giầy mà lúc đó ở nước ta, nghề này chưa phát triển.
Hoàn thành công việc sứ bộ, ba ông quay lại Hàng Châu học nghề da giầy. Các ông học và nắm vững các bí quyết về thuộc da, đóng giày, khi về nước đã truyền nghề cho dân làng Phong Lâm. Từ đó nghề thuộc da, đóng giày ngày càng phát triển thịnh đạt. Các ông được triều đình ban phong chức quan "Thượng y" ở Quốc Tử Giám.
Phố Hà Trung ngày nay vẫn nổi tiếng về kinh doanh các mặt hàng thuộc da (ảnh: Internet)
Hàng năm vào dịp tháng 2 và tháng 8 âm lịch người thợ giày da đã đến đền Phả Trúc Lâm làm lễ tưởng nhớ các ông Tổ nghề Phạm Đức Chính, Phạm sỹ Bôn, Phạm Thuần Chính. Đền Phả Trúc Lâm được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1995.
Phố Hàng Giầy
Phố Hàng Giầy thuộc đất thôn Cổ Tương, tổng Hậu Túc (sau đổi thành Đồng Xuân), huyện Thọ Xương, nay thuộc quận Hoàn Kiếm ( Hà Nội). Những người thợ làng Chắm giữa tức làng Phong Lâm (huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương) lên cư trú và làm nghề đóng giày dép, nghề này thành tên của phố.
Ngày nay, phố Hàng Giầy còn có nhiều cửa hàng buôn bán các loại kẹo bánh chế biến theo kiểu công nghiệp và các cửa hàng ăn uống đặc sản...
Phố Bảo Khánh
Phố Bảo Khánh dài 104m, đi từ phố Lê Thái Tổ đến phố Hàng Trống, thuộc đất thôn Báo Thiên (sau đổi thành Bảo Khánh), tổng Tiền Túc (sau đổi thành Thuận Mỹ), huyện Thọ Xương, nay thuộc quận Hoàn Kiếm (Hà Nội). Người làng Chắm trên tức làng Văn Lâm (huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương), lên cư trú và làm nghề thuộc da và đóng giày dép. Họ lập đình ở số nhà 20 của phố để thờ vọng Thành hoàng làng Chắm.
Ngày nay, nghề này ở đây đã mai một, thay vào đó dân phố kinh doanh các mặt hàng tổng hợp.
Phố Hà Trung
Phố Hà Trung thuộc đất thôn Yên Trung Hạ, tổng Tiền Nghiêm (sau đổi là Vĩnh Xương), huyện Thọ Xương, nay thuộc quận Hoàn Kiếm ( Hà Nội). Trước đây, ở phố này có đặt một trạm chuyển công văn giấy tờ của triều đình nên đặt tên trạm là Hà Trung và từ đó trở thành tên phố.
Vào khoảng đầu thế kỷ XX, nghề làm đồ da ở phố Hà Trung được bắt đầu từ ông Thạch Văn Ngũ. Ông Ngũ quê ở làng Nành (Phù Ninh, xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm) đi lính thợ cho Pháp ở trong thành, học được nghề đóng giày tây, khâu yên cương ngựa, túi đựng đạn... của quân nhu Pháp. Khi giải ngũ ông mở cửa hiệu sản xuất các mặt hàng đồ da ở phố Hà Trung. Ông truyền nghề cho con cháu và người làng đến sinh cơ lập nghiệp ở đây. Sau nghề làm da phát đạt, người Ninh Hiệp tập trung ra Hà Nội mở cửa hiệu ngày một đông. Người Ninh Hiệp ở phố Hà Trung gắn bó với nhau thành phường hội da giầy. Những cửa hàng của người Ninh Hiệp thường mang tên có chữ Ninh như Ninh Thịnh, Ninh Thuận... Hàng năm nhớ ngày giỗ ông Thạch Văn Ngũ mọi người làm hàng da vẫn họp nhau lại làm lễ coi ông như “Trùm nghề đóng yên cương”.
Phố Hà Trung trở thành phố chuyên sản xuất các loại hàng da kiểu mới như cặp sách, va li, túi xách, giày da... Ngày nay, do nhu cầu thị trường nên hầu như dân phố này đã chuyển đổi từ nghề chế biến da sang nghề khác như sản xuất yên và vỏ bọc xe máy, đệm bọc, cặp túi bằng da hoặc bằng vải giả da...
Phố Hàng Da
Phố Hàng Da thuộc đất thôn Yên Nội, tổng Tiền Túc (sau đổi thành Thuận Mỹ), huyện Thọ Xương, nay thuộc quận Hoàn Kiếm ( Hà Nội). Phố này là nơi bán các loại da trâu bò đã thuộc. Nơi thuộc da là khu vực giữa ngõ Trạm Thương và phố Yên Thái vì nơi đây có nhiều bãi rộng, thuận lợi cho việc phơi da trong quá trình thuộc, nhưng hiện nay không còn dấu tích của nghề thuộc da.
Ngày nay, phố Hàng Da là phố vẫn chuyên kinh doanh các mặt hàng bằng da...
Phố Hàng Hành
Phố Hàng Hành thuộc đất thôn Tả Khánh Thụy, tổng Tiền Túc (sau đổi là tổng Thuận Mỹ) của huyện Thọ Xương, nay thuộc quận Hoàn Kiếm ( Hà Nội). Nơi đây đã có nhiều đời thợ da giày từ tỉnh Hải Dương đến ở, quần tụ sinh sống, làm nghề và buôn bán sản phẩm da giày. Đến trước thế kỷ XIX, các phường thợ da giày đã tập trung đông đúc ở vùng đất này và xung quanh tổng Tiền Túc, Hữu Túc thuộc huyện Thọ Xương. Các địa danh mà sau này đổi thành tên phố như Hàng Da, Hàng Hài, Hàng Trống, ngõ Hài Tượng... đều có liên quan đến phường thợ da giày...
Ngày nay, người dân phố Hàng Hành kinh doanh tổng hợp nhiều mặt hàng.
Làng nghề may giày da Kiêu Kỵ
Kiêu Kỵ là một xã thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội, từ lâu đời đã có 2 nghề truyền thống là sản xuất vàng quỳ và nghề may giầy da. Nghề may giầy da hiện nay đang phát triển mạnh ở Kiêu Kỵ. Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sản phẩm may da làm ăn phát đạt nhất là công ty trách nhiệm hữu hạn Ladoda đã thu hút hàng trăm lao động. Sản phẩm cặp túi da của công ty được người tiêu dùng bình chọn “Hàng Việt Nam chất lượng cao” và đoạt được nhiều giải thưởng tại các hội chợ triển lãm trong nước. Sản phẩm da của làng nghề không chỉ tiêu thụ trong nước mà còn xuất khẩu ra thị trường nước ngoài.
Hàng năm, làng nghề đã sử dụng trên 400.000m2 vải giả da, sản xuất ra khoảng 3 triệu sản phẩm cặp, ba lô, túi xách, ô dù, nhà nghỉ dã ngoại bằng nguyên liệu giả da và trên 1.500 đôi giày dép da. Ngày nay, Hội nghề da Kiêu Kỵ được thành lập với số lượng hội viên trên 300 hộ chuyên sản xuất hàng da qui mô nhỏ, thu hút hơn 1.000 lao động chuyên và trên 3.000 lao động thời vụ.
Làng nghề may da giày Giẽ Hạ
Làng nghề may da Giẽ Hạ thuộc làng Giẽ Hạ, xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). Làng nghề giày da Giẽ Hạ có cách đây hàng trăm năm do 2 cụ Nguyễn Lương Mạc và Nguyễn Lương Nghề truyền lại cho dân làng. Nghề giày da làng Giẽ Hạ phát triển mạnh từ những năm 1990 trở lại đây, hầu hết các hộ trong làng đều tham gia đóng giày.
Làng nghề may da giày chủ yếu sản xuất với quy mô hộ gia đình vừa và nhỏ, hàng năm sản xuất từ 2-3 triệu đôi giầy da để cung cấp cho thị trường. Nghề đóng giày da là nguồn thu nhập chính của người dân làng Giẽ Hạ. Hiện nay cả làng có đến 96% số hộ làm nghề, thu hút gần 600 lao động trong làng./.


(Theo Vietnam+)

Thứ Sáu, 14 tháng 12, 2012

NGHỀ GIẤY VÙNG BƯỞI

 - Ngày trước, đi qua vùng này, lúc nào người ta cũng được nghe những âm thanh rộn rã của tiếng chày giã dó làm giấy... "Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ". Nghề giấy vùng Bưởi, Hà Nội đã đi vào ca dao.

Đất ba thôn và tổ nghề


Cách đây 2.000 năm, Trung Quốc đã có một phát minh vĩ đại là phát minh ra giấy. Và không lâu sau đó, nghề giấy đã có mặt ở Việt Nam. Một số tài liệu cho biết, vào khoảng thế kỷ thứ III, nghề giấy đã được truyền vào Giao Chỉ Quận. Người Giao Chỉ đã làm ra một loại giấy gọi là giấy trầm hương, màu trắng, bền, có mùi thơm. Vị tổ sư nghề giấy người Tàu thời Đông Hán là cụ Thái Luân.
x
Ép uốn, một công đoạn làm giấy.

Cụ tổ nghề giấy này của Trung Quốc cũng được các làng làm giấy vùng Bưởi thờ cúng cho đến tận bây giờ nhưng chỉ là bái vọng, không có đền miếu thờ, không có văn bia câu đối. Các làng thờ vọng cụ tổ nghề ở đình làng hoặc Văn Chỉ của làng mình (Văn Chỉ là nơi thờ đức Khổng Tử).

Nghề giấy đã sớm có mặt ở nước ta từ thế kỷ thứ III như vậy, nhưng nghề giấy ở vùng Bưởi chính xác có từ bao giờ thì không ai biết. Dân vùng này truyền lại tích vị Đức Thánh Tổ, là một người con cháu xa đời của cụ Thái Luân đi dọc theo dòng sông Tô Lịch từ Quảng Ninh ra Thăng Long, về tới làng Cót, Cầu Giấy ngày nay, thì truyền cho dân làng này nghề làm giấy.
Sau cụ đi tiếp về tới Nghĩa Đô, rồi rời lên làng Cả (Yên Thái), tiếp đến làng An Thọ, Đông Xã, Hồ Khẩu, tới đâu, cụ truyền dạy nghề giấy tới đó vì thấy vùng này nhiều ao hồ, người dân cần cù chịu khó, thích hợp với nghề làm giấy.

Theo ông Nguyễn Thế Đoán, thành viên Hội Di sản Thăng Long, người làng Đông Xã, hiện trông nom coi sóc đình Đông, vị Đức Thánh Tổ này đã đồng ý cho dân làng Đông thờ cúng cụ tại đình làng. Tên cụ không được phép đọc qua cửa miệng, chỉ những người trong ban lễ tiết mới biết và được đọc khấn tên cụ. Còn người dân thường thì không được phép.

Yên Thái, An Thọ, Đông Xã gọi nôm là đất ba thôn, sau có thêm Hồ Khẩu, chuyên nghề làm giấy (nay thuộc phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội).

Đặc ân của chúa Trịnh

Theo chỉ dẫn của nhà giáo Vũ Văn Luân, làng Hồ Khẩu, là người dày công tìm tòi, nghiên cứu lịch sử nghề giấy phường Bưởi, chúng tôi được biết trước đây vùng Bưởi bao gồm Nghĩa Đô, Yên Thái (Yên Thái lại bao gồm ba thôn là Yên Thái hay còn gọi là làng Cả, An Thọ, Đông Xã), Hồ Khẩu, Trích Sài thuộc Tổng Chung, huyện Hoài Đức, phủ Phụng Thiên Thăng Long. Vào thời kỳ trước Cách mạng Tháng 8 thì thuộc huyện Hoàn Long, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông.
x
Để từng tờ giấy lên tảng đá phẳng, dận đều lên gọi là nghè giấy.
Cũng theo ông Luân, làng Nghĩa Đô được truyền dạy nghề làm giấy sắc lệnh, phong sắc, phong thần. Đây là loại giấy khổ to, một số công đoạn cần làm kỹ. Ví như để từng tờ giấy lên tảng đá phẳng, dận đều lên gọi là nghè giấy.
Vì thế mà làng này được gọi là làng Nghè, một phần vì công đoạn nghè giấy một phần vì làng này nổi tiếng có nhiều người đỗ khoa bảng. Làng này có dòng họ Lại, là dòng họ có người làm rể chúa Trịnh nên được đặc ân sản xuất riêng loại giấy này, cung cấp cho vua Lê - chúa Trịnh. Đây là loại giấy được phủ vàng, sau đó vẽ rồng phượng, tùy theo các tước phong khác nhau mà vẽ hai hay bốn rồng.


Việt Nga

Thứ Năm, 13 tháng 12, 2012

CÙNG HOÀI NIỆM VỀ DÒNG TRANH HÀNG TRỐNG



Trong không khí của những ngày giáp Tết, chương trình VHNT hôm nay Mặc Lâm mời quý vị về lại Hà Nội để tìm hiểu một loại hình nghệ thuật dân gian nay đang được báo động vì chỉ còn một nghệ nhân duy nhất theo đuổi nghề đó là dòng tranh Hàng Trống.

Trong các thể loại nghệ thuật tạo hình truyền thống Việt Nam, hai dòng tranh dân gian được các nhà văn hóa chú ý nhất là tranh Đông Hồ và tranh Hàng Trống.
Người ta chú ý nhiều đến tranh Đông Hồ vì dòng tranh này phổ biến trong dân gian sâu rộng hơn tranh Hàng Trống. Nhiều năm về trước mỗi độ Tết đến, tranh Đông Hồ và Hàng Trống bày bán tràn ngập các chợ quê miền Bắc và Hà Nội cũng có không ít cửa hàng bán loại tranh này.

Trên đà suy tàn

Người làng Đông Hồ trong vài năm gần đây bỗng dưng quay mặt lại với tranh làng mình để sản xuất vàng mã. Giá trị kinh tế là lý do chính khiến tranh Đông Hồ tê liệt trước sự tấn công của vàng mã không những trong ba ngày Tết mà hình như thị trường đòi hỏi sản phẩm này suốt cả năm. Chưa có một cơ quan hay tổ chức nào chú ý đến tình trạng này hầu có phương cách gìn giữ và bảo tồn một dòng tranh đang trên đà mất tích.
Nhiều gia đình đập bỏ cả bản khắc gỗ mà chỉ vài chục năm trước cả dòng họ xem như gia sản.
Tranh Hàng Trống còn bi đát hơn, không những thị trường quay mặt với nó mà người làm tranh Hàng Trống cũng bỏ hẳn cái nghề mà cha ông họ theo đuổi hàng trăm năm về trước. Bỏ hẳn không tiếc nuối hay phân vân. Nhiều gia đình đập bỏ cả bản khắc gỗ mà chỉ vài chục năm trước cả dòng họ xem như gia sản.
Nhiều tài liệu còn lưu lại tới ngày nay cho thấy dòng tranh Hàng Trống xuất hiện từ khoảng 400 năm trước. Khác với tranh Đông Hồ, chuyên chú trọng đến những đề tài dân dã, tranh Hàng Trống chịu ảnh hưởng rõ rệt các luồng tư tưởng, văn hóa, tôn giáo, của nhiều vùng miền, dân tộc khác nhau, kể cả Trung Hoa.
Tranh Hàng Trống kết tinh và giao thoa giữa Nho giáo và Phật giáo. Nét chủ đạo trong tranh Hàng Trống ghi lại các hình tượng được người dân nhiều thời đại tôn thờ trên các điêu khắc còn sót lại tới nay. Những nét phù điêu của đình, chùa cộng với sự việc sống động trong sinh hoạt văn hóa kéo dài từ nhiều thế kỷ trong dân gian đã hình thành những phác thảo trong tranh Hàng Trống.
Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 là thời hoàng kim của tranh Hàng Trống. Những tài liệu còn sót lại từ các nghiên cứu của nhà văn hóa học người Pháp Durand ghi nhận hàng trăm bản điêu khắc gỗ còn sót lại trong thời gian này cho thấy sự phát triển của nó đã lên tới đỉnh cao của nghệ thuật dân gian. Tuy nhiên, đáng tiếc là tới giữa thế kỷ 20 dòng tranh này bắt đầu suy tàn. Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc nhiều làng nghề sản xuất tranh Hàng Trống đã bỏ nghề quay sang làm các nghề khác. Lý do nào mà hàng loạt nghệ nhân cũng như các chuyên viên kinh nghiệm phải từ bỏ con đường này là một câu hỏi không khó giải đáp.
Ngoài thu nhập là lý do chính, nếu tìm hiểu sâu xa hơn chúng ta sẽ thấy tranh Hàng Trống còn có những trở ngại không thể vượt qua đó là chủ đề tranh đã trở nên lạc hậu so với dòng chảy của xã hội hiện đại.

Đề tài nội dung

Ông Lê Đình Nghiên, nghệ nhân cuối cùng của nghề tranh Hàng Trống, nổi tiếng vì còn giữ được hơn 50 bản khắc gỗ của gia đình cùng với một gia tài đồ sộ hàng trăm bức tranh Thờ Hàng Trống. Ông được bảo tàng Việt Nam mời phục chế và bảo quản dòng tranh này. Trong cuộc phỏng vấn với chúng tôi ông cho biết đôi nét về lịch sử làm tranh Hàng Trống trong gia đình ông:
“Ông cụ tôi cũng theo nghề do tổ nghiệp để lại. Riêng gia đình tôi thì lại nắm bắt đề tài, nội dung, số lượng của mẫu tranh Hàng Trống thì nhiều hơn mọi gia đình nhà khác. Trong hoạt động nghề nghiệp thì khi nào còn người chơi tranh thì tôi còn làm thôi. Bản thân tôi vẫn còn lưu trữ một số các bản khắc gỗ, rất nhiều những tài liệu. Rất nhiều phác thảo tôi còn lưu trữ được.”
Tranh Hàng trống thực hiện trên hai chủ đề chính là tranh Tết và tranh Thờ.
Tranh Hàng trống thực hiện trên hai chủ đề chính là tranh Tết và tranh Thờ. Tranh Tết chú trọng đến những phong tục tập quán của người Việt trên các hình ảnh mà dân gian ưa chuộng đó là sự phát đạt trong gia đình, hình ảnh tươi vui qua các loại hoa ngày Tết lồng vào màu sắc lộng lẫy, tươi tắn khiến mùa Xuân được diễn tả trọn vẹn trong toàn xã hội.
Tuy thế tranh Hàng Trống trong cộng đồng hôm nay thiếu cái góc thật của con người hiện đại. Người ta không thể thưởng thức điều gì không dính líu tới con người thật và hoàn cảnh sống của họ. Những hình ảnh trong tranh Hàng Trống ghi lại một mảng quá khứ của miền Bắc nhưng thiếu tinh thần lễ hội của cộng đồng hay những nụ cười ý nhị như tranh Đông Hồ.
Tranh Hàng Trống miêu tả con người cá nhân hơn là sinh hoạt thường nhật của một nhóm thị dân hay nông dân đặc trưng nào đó. Những thiếu sót này trong quá khứ được người thưởng thức tranh đồng thuận xem như là một xu hướng có thể chấp nhận, nhưng từ cuối thế kỷ 20 trở về sau, con người có khuynh hương hòa mình với cộng đồng mình sống hơn lúc trước và khuynh hướng này ảnh hưởng trực tiếp tới tư duy thẩm mỹ của người xem tranh là một điều tất yếu.

Tranh Thờ Hàng Trống

Nói tới tranh Hàng Trống những người biết rõ nó đều đồng ý rằng các loại tranh Thờ đa dạng hơn tranh Tết nhiều lần. Bên cạnh những hình ảnh quen thuộc mà người dân thờ kính, tranh Hàng Trống còn miêu tả các hình tượng khác mà một tầng lớp dân gian xem như biểu tượng của sức mạnh thần thánh, có thể che chở cho gia đình họ trước những sức mạnh tà thần, đó là tranh Ngũ Hổ.
Ông Lê Đình Nghiên nói về tranh Thờ Hàng Trống mà gia đình ông đã làm như sau:
“Cái mảng tranh Thờ rất phong phú và nhiều, ngoài việc phục vụ thờ Đạo Mẫu ra, các loại tranh Phật giáo cũng phục vụ các đồng bào ở các tỉnh biên giới phía Bắc có nhiều tranh Thờ rất hoành tráng, hiện nay tôi vẫn làm phục vụ những việc đấy.”
Năm con cọp trong chủ đề tranh Thờ được miêu tả như những biểu tượng của sức mạnh ẩn chứa nhiều chi tiết mạnh mẽ của thần linh. Năm màu chính xanh, đỏ, trắng, vàng, đen trên năm con hổ tượng trưng cho cho năm yếu tố chính vận hành trời đất là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
Ngũ Hổ được sắp ngồi theo năm vị trí. Hoàng Hổ ngồi chính giữa và bốn con còn lại tượng trưng cho bốn hướng, ẩn chứa tính cách bảo vệ chủ nhân trước các thế lực tà giáo. Tranh Ngũ Hổ đã đi vào từng gia đình như một vật thờ mà không ai nghĩ rằng mua nó về để trang trí nhà của họ cả.
Còn về tranh Thờ thì mang tính huyền bí và uy linh.
Ông Lê Đình Nghiên
Từ tư tưởng này, qua nhiều giai đoạn thời gian, thể loại tranh Thờ của dòng tranh Hàng Trống ngày càng mất đi vẻ linh thiêng mà nó vốn có, bởi lòng tin của người mua không còn nữa. Người thưởng thức tranh giờ đây chú trọng vào màu sắc, nét vẽ và kỹ thuật sản xuất của loại tranh này thay cho mua nó như một vật linh yểm trong nhà cầu sự may mắn.
Các vị thần trong dòng tranh Hàng Trống là những yếu tố quan trọng mà thể loại tranh này đem tới cho công chúng. Hình tượng của tranh Phật, Tam Tòa Thánh mẫu, Tứ Phủ, Bà Chúa Thượng Ngàn, Mẫu Thoại, Ngũ Hổ, Ông Hoàng Cưỡi Cá, Cỡi Ngựa, Cỡi Rắn. Rồi Bà Chúa Ba, Đức Thánh Trần...cũng như hàng trăm hình ảnh khác của Cô Ba, Phật Bà Quan Âm, Tam Phú, Tứ Phú, Bạch Hổ, Xích Hổ.. đã làm cho tranh thờ Hàng Trống phong phú vô cùng. Tuy nhiên như đã trình bày, sự đa dạng này không lôi kéo được người thưởng ngoạn tranh ngày nay bởi yếu tố thần thánh ngày càng phai nhạt trong tâm linh của xã hội hiện đại( võ đoán quá tác giả ơi)

Tranh Tết Hàng Trống

Về tranh Tết, nét độc đáo của tranh Hàng Trống biểu cảm qua các loại phẩm màu mà người xưa bao lần chọn lọc để vẽ lên cái không khí trầm lắng mà sinh động của ba ngày Tết. Ông Lê Đình Nghiên nói rõ hơn về màu sắc trong chủ đề tranh Tết của tranh Hàng Trống như sau:
“Tất cả màu sắc đều mang tính chúc tụng nhất là các tranh treo trong ngày Tết thì mang tính chúc tụng rất rõ tức là các màu rất rực rỡ, nó thay cho một lời chúc cho những người chơi tranh có ước nguyện trong năm mới. Còn về tranh Thờ thì mang tính huyền bí và uy linh.”
Tuy nhiên trong hoàn cảnh ngày nay, đối với tranh Tết như các bức Chúc Phúc, Tứ Quí ...thật khó thuyết phục người mua vì cũng giống như tranh Thờ, những ý nghĩa thật sự của tranh cho thấy sự lập lại đến nhàm chán một chủ đề mà không ít người dân ngày nay không bị thuyết phục như trước, do đó tranh Tết Hàng Trống khó cạnh tranh với tranh Đông Hồ mặc dù dòng tranh này có kích cỡ nhỏ hơn tranh Hàng Trống nhiều lần.
Để thế vào những thiếu sót đó, chủ đề về Tứ Quý Hoa Quả, Tranh Thiếu Nữ, hay xa hơn là lấy từ các điển tích của Trung Hoa như Vợ Chồng Ngâu Ngưu Lang Chức Nữ, Ngư Tiều Canh Độc, Lý Ngư Vọng Nguyệt, Lưỡng Nghi Sinh Tứ Tượng….cách nào đó tuy làm cho dòng tranh dân gian đa dạng hơn nhưng vẫn chưa đủ để thuyết phục người mua tranh hôm nay.
Tất cả màu sắc đều mang tính chúc tụng nhất là các tranh treo trong ngày Tết thì mang tính chúc tụng rất rõ tức là các màu rất rực rỡ, nó thay cho một lời chúc cho những người chơi tranh có ước nguyện trong năm mới.
Ông Lê Đình Nghiên
Những đề tài về đời sống dân dã như Giảng Học Đồ, Chợ Quê, Bịt Mắt Bắt Dê, Công Việc Nhà Nông, Múa Sư Tử…góp một phần nào vào hình ảnh của tranh Hàng Trống nhưng chưa đủ để cạnh tranh với dòng tranh Đông Hồ với các danh tác như Đánh Ghen, Đám Cưới Chuột, Hái Dừa…
Tuy nhiên, tranh Hàng Trống đặc sắc hơn dòng tranh Đông Hồ qua cách khắc vẽ tỉ mỉ trên bảng gỗ nên các tác phẩm "Hổ", "Tố Nữ", "Lý Ngư Vọng Nguyệt" hay "Thất Đồng" vượt xa kỹ thuật của tranh Đông Hồ. Bên cạnh đó kỹ thuật tô màu của Hàng Trống cũng công phu và sáng tạo hơn tranh Đông Hồ.

Kỹ thuật và cách tô màu

Ông Lê Đình Nghiên cho biết quá trình chọn gỗ để khắc có khác với dòng tranh Đông Hồ. ông nói:
“Các cụ hay chọn loại gỗ cây thị sau này thì họ khai thác thêm gỗ lồng mực nữa. Các chất liệu này giúp các nét khắc tinh vi hơn và chất liệu nó cũng bền.”
Người thợ tô màu trên tranh Hàng Trống cần kỹ thuật nhấn màu chung quanh đường viền làm cho tranh có thêm chiều thứ ba. Cũng một tone màu nhưng đường viền mỗi khu vực được tô từ đậm sang nhạt dần khiến chủ đề nổi bật trên nền giấy như không gian ba chiều của hội họa.
Các cụ hay chọn loại gỗ cây thị sau này thì họ khai thác thêm gỗ lồng mực nữa. Các chất liệu này giúp các nét khắc tinh vi hơn và chất liệu nó cũng bền.
Ông Lê Đình Nghiên
Cách tô màu này cũng tạo các hình khối khiến tranh nổi bật trên giấy hơn tranh Đông Hồ. Tuy nhiên do tranh Đông Hồ dùng giấy Điệp để in khiến nó nổi bật hơn hẳn tranh Hàng Trống chỉ sử dụng giấy Dó làm nền, mặc dù nghệ nhân Hàng Trống đã cố công bồi giấy công phu hơn nghệ nhân Đông Hồ.
Ông Lê Đình Nghiên có lẽ là người duy nhất hiện nay còn đeo đuổi loại hình nghệ thuật dân gian này. Khi cho chúng tôi biết những kỹ thuật mà tranh Hàng Trống sử dụng khi sản xuất tranh, ông cho rằng người nghệ nhân nắm vững kỹ thuật là người đặt hết tâm hồn mình khi sáng tác. Ông Nghiên nhấn mạnh vào sự cần cù nhẫn nại không thể thiếu trong khi chế tác, vì suy cho cùng thì tranh Hàng Trống dù sao cũng đã có lịch sử hàng trăm năm vui buồn theo vận nước.

Trước khi quá muộn

Thời gian gần đây, nhiều loại tranh từ Thái Lan đưa sang được copy lại rồi bán hàng loạt cho người dân vùng thôn dã Việt Nam. Người xem trọng văn hóa nước nhà không thể không lắc đầu khi đề tài của dạng tranh in này quanh đi quẩn lại chỉ là những con chó bẹc giê đánh bi da hay đánh bài, trên miệng thì phì phèo những thanh sì gà kệch cỡm. Tranh phong cảnh của Thái Lan cũng cứ quanh quẩn cảnh thác đổ, mây bay một cách thô thiển nhưng vẫn được mua về treo nghiêm chỉnh giữa nhà khiến cho người nào đã từng qua xứ Thái cứ tưởng mình rằng đang có mặt tại Pattaya!
Trong khi đó tranh Đông Hồ và Hàng Trống dù có chuẩn bị công phu đến mấy vẫn bị người mua tránh mặt. Có thể giờ đây loại tranh này không còn thích hợp với cách sống đua chen của lớp trẻ nhưng đối với người già thì lúc nào cái tinh túy dân tộc lại không nằm trong dòng máu của họ? Thế mà lạ lùng thay, tranh Hàng Trống cứ bâng khuâng trong buổi chợ chiều còn tranh Đông Hồ thì cật lực vật lộn với vàng mã âm ti. Ông Lê Đình Nghiên chia sẻ suy nghĩ của ông về tranh Hàng Trống như sau:
Bản thân tôi bây giờ đang cố gắng rèn giũa và đào tạo cho cậu con trai tôi hiện nay để nó tiếp tục việc này.
Ông Lê Đình Nghiên
"Bản thân tôi là người làm tranh tôi chỉ suy nghĩ thế này: Trong thời buổi rất hiện đại, cho tới ngày hôm nay tôi thấy dòng tranh này còn tồn tại thì là điều đáng mừng. Nhưng rất nhiều nhà làm tranh lại bỏ nghề, tại sao vậy? Có thể lúc đó vị trí điều kiện người ta sinh sống có nhiều việc khác kiếm tiền dễ hơn thì họ sẵn sàng họ bỏ.
Ngược lại thì rất kén người làm tranh, phải tâm đắc với nó, phải say sưa. Bản thân tôi bây giờ đang cố gắng rèn giũa và đào tạo cho cậu con trai tôi hiện nay để nó tiếp tục việc này.”

Những chia sẻ chân tình của nghệ nhân Lê Đình Nghiên có thể xem là tiếng than kêu gọi những nhà làm văn hóa hãy nhanh chóng tìm giải pháp để cứu dòng tranh này trước khi quá muộn…

Nguồn: RFA
Sưu tầm từ:http://nguyenxuandien.blogspot.com/2011/01/.

NGHỀ LÀM GIẤY CỔ TRUYỀN

Bước đầu tìm hiểu Nghề giấy cổ truyền

Hoàng Hồng Cẩm

Từ một vài tín hiệu trong sách cổ…
Phải nói ngay rằng, hiện nay chúng ta chưa đủ tài liệu chắc chắn để khảo sát nghề làm giấy cổ truyền ở Việt Nam. Tình trạng những nghề thủ công xưa kia được trân trọng đúng mức đã không lưu lại cho chúng ta nhiều chứng cứ về mặt lịch sử - ngay cả các nghề mộc, đồng, gốm, v.v… thì riêng với nghề giấy tư liệu lại càng mỏng manh hơn. Ở khá nhiều trường hợp một vài tín hiệu hoặc bằng truyền văn, hoặc được ghi chính thức bằng văn bản - có thể cho ta một ý niệm tự hào nào đó. Nhưng để khẳng định nên kết luận khoa học thì lại là điều phải dè dặt rất nhiều.
Chẳng hạn, cứ theo như những ghi chép của các học giả nước ngoài thì giấy đã có ở Việt Nam từ thế kỷ III sau công nguyên. Sách Nam phương thảo mộc trạng (quyển Trung) tác giả Kế Hàm đã nói đến một thứ giấy thơm của người Giao Chỉ làm bằng gỗ cây trầm. Ông cho biết: “Đó là thứ giấy mầu trắng, có vân như vảy cá, mùi rất thơm mà bỏ xuống nước cũng không nát”.
Ý kiến này, gần đây đã được Trần Tu Hòa chấp nhận. Trong cuốn: Trung Việt lưỡng quốc nhân dân đích hữu hảo quan hệ hòa văn hóa giao lưu (Bắc Kinh, 1957) ông đã nói rằng: “Vào thế kỷ III sau Công nguyên, người Việt Nam đã dùng gỗ mật hương làm một thứ giấy bản rất tốt gọi là giấy “Mật hương”. Loại giấy này, vào năm 284 đã được các thương nhân La Mã mua đến hàng vạn tờ.
Ngoài giấy Mật hương, còn có loại giấy tên gọi là Trắc lý. Sách Thập di ký của Vương Gia (thế kỷ IV) cho biết: người Việt Nam biết dùng rong rêu lấy ở dưới đáy biển để làm một thứ giấy gọi là giấy Trắc lý.
Những điều trên đây được ghi chép rõ ràng trong sách vở của người nước ngoài, đều là những tín hiệu có thể tin cậy. Song cho đến nay, chúng ta vẫn không có khả năng để biết được các loại giấy Mật hương, Trắc lý nói trên thực tế là như thế nào? Hình dáng, chất liệu và cách sản xuất các loại giấy ấy ra sao? Thời gian nào và là người ở châu, quận hay miền đất nào làm được? Rồi họ đã truyền nghề trong nước, đã cho lưu thông ra nước ngoài theo những cách thức gì, v.v… Đó là những điều chúng ta chưa thể khảo sát được.
Trên đây là những ghi chép của người nước ngoài. Còn ở trong nước, chúng ta cũng lượm lặt được một vài tín hiệu. Phái nói rằng: có lẽ nhà bác học Lê Quý Đôn gần như là người duy nhất quan tâm đến vấn đề. Trong bộ sách Vân Đài loại ngữ, rồi Phủ biên tạp lục, ông nhiều lần nhắc đến giấy và nghề giấy cổ truyền Việt Nam. Mặc dù chỉ là những ghi chép ngắn gọn, song có lượng thông tin quý báu.
Sau khi nhắc lại một số tri thức trong các sách Thiên tự văn, Hán thư, Đường thư, Lục điển, v.v… nói về sự xuất hiện giấy Ma chỉ, Võng chỉ, Cốc chỉ, Hách đề, v.v… ở Trung Quốc cùng với người có công đầu như Thái Luân (đời Hán Hòa Đế 89 - 105) Lê Quý Đôn nói đến nghề giấy ở Việt Nam. Ông đã đặc biệt chú ý đến nguyên liệu làm giấy các địa phương có truyền thống về nghề giấy. Thí dụ: “Nay nhân dân ở các trấn Sơn Tây, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Thái Nguyên, Lương Sơn trồng nhiều cây đó. Giống dó dễ trồng, dễ lớn, hai năm thành cây, lấy được vỏ khá nhiều. Người ở đất Thụy Nguyên lại lấy vỏ cây thượng lục làm giấy (tục gọ là cây Niết), giấy làm ra trắng bạch, bền dai, thực là hạng giấy tốt nhất. Cây ấy hiếm, cho nên giấy đắt, một tờ một đồng. Người làng Quảng Đức lấy vỏ cây dó làm giấy thì dễ kiếm mà rẻ (Vân đài loại ngữ, Âm tự loại - điều 222).
Còn ở Phủ biên tạp lục ông ghi “Xã Đốc Sơ, huyện Hương Trà làm giấy hạng trung và hạng tiểu. Xưa có lệ nộp thuế, nghề giấy truyền đến thôn Trung Chỉ phủ Phú Yên, cũng nộp thuế hàng năm: giấy lớn 2500 tờ, giấy vừa 3200 tờ. Giấy trung và tiểu ở Xã Đốc Sơ, giấy vuông xã Vĩnh Xương đều làm bằng cỏ cây dó. Giấy lớn ở hai xã: Lộc Tuy và Đại Phúc ở huyện Lệ Thủy thì làm bằng vỏ cây niết, cũng bền và dầy, cùng với giấy lệnh của Thanh Hóa không khác. (phần Vật phẩm phong tục).
Lê Quý Đôn đã tỏ ra tự hào về loại giấy quý này của Việt Nam: “Trung Quốc chỉ biết có giấy Bạch thùy của Cao Ly mà không biết thứ giấy Thượng lục của An Nam”.
Điều đáng chú ý là trước Lê Quý Đôn, chưa thấy có những thông tin gì khác nữa về nghề làm giấy cổ truyền xét từ góc độ nghiên cứ… Đến những tín hiệu trong dân gian.
Tuy vậy vẫn có thể xem nghề làm giấy của ta là truyền thống lâu đời. Bằng những điều được lưu truyền trong dân gian có thể có cảm tưởng nghề giấy vẫn chiếm một vị trí nhất định trong tình cảm quần chúng qua nhiều thế hệ.
Chúng ta còn ghi chép được nhiều câu ca dao liên quan đến nghề giấy, gây ấn tượng đậm đà bền vững trong lòng người khi nhớ đến phong cảnh thiên nhiên và cuộc sống thơ mộng ở kinh thành Thăng Long:
Mịt mù khói tỏa ngàn sương,
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.

Nhịp chày ở đây chính là chầy giã dó. Nhịp chày ấy không chỉ đi vào ca dao mà còn được nhắc đến trong văn chương bác học. Bài phú Tụng Tây Hồ của Nguyễn Huy Lượng có nhắc đến:
Chày Yên Thái nện trong sương chểnh choảng,
Lưới Nghi Tàm ngăn ngọn nước quanh co.

Những câu ca dao làm bởi người trong nghề. Những chị thợ thủ công nghề giấy thủa xưa tuy vất vả nhưng vẫn yêu đời:
Người ta buôn vạn bán ngàn,
Em nay làm giấy cơ hàn vẫn vui.
Dám xin ai đó chớ cười,
Tay em làm giấy cho người viết thơ.

Cũng có khi là lời phàn nàn cho cuộc đời cơ cực:
Seo đêm rồi lại seo ngày
Đôi tay nhức buốt vì mày giấy ơi!

Hay:
Giã nay rồi lại giã mai
Đôi chân tê mỏi dó ơi vì mày!

Và có lúc là tiếng hát của tình yêu:
Nhịp chày giã dó nhặt thưa,
Đèn le lói sáng, lòng ngơ ngẩn buồn.
Nhớ ai mê mẩn tâm hồn,
Thương ai mong đợi mỏi mòn tháng năm.

v.v…
Tuy nhiên có cả câu chuyện về vị tổ sư nghề giấy. Sách Lược truyện thần tổ các ngành nghề của Vũ Ngọc Khánh, Nxb. KHXH, 1991, tr.77 chép: “Dân trong nghề, lấy ngày 16 tháng 3 Âm lịch để làm giỗ tổ, nhưng không có tài liệu nào cho biết tên họ vị tổ nghề là gì… Chỉ biết rằng, nơi ông đặt chân tới đầu tiên là làng Yên Hòa. Ông có ý định dạy nghề cho làng này, nhưng hình như đã xảy ra một điều gì không mãn ý, ông lẳng lặng bỏ đi. Người Yên Hòa mới chỉ nắm được cách làm loại giấy phất quạt thì không có điều kiện học thêm với ông nữa. Ông đã sang làng Hồ Khẩu rồi. Tại đây ông hướng dẫn cách làm giấy moi. Người dân biết tương đối thành thạo, ông lại chuyển sang làng Động Xã. Làng này được học cách làm giấy Quỳ, là thứ giấy để dát vàng quỳ… Tiếp đó ông tổ lại về ở làng Yên Thái. Ông ở đây khá lâu, truyền cho dân làng kỹ thuật làm giấy Lệnh, là loại giấy bản khổ tốt, triều đình phong kiến dùng để viết lệnh chỉ. Vì được ông ở lâu nên làng Yên Thái phát đạt về nghề này hơn cả… Cuối cùng ông sang làng Nghĩa Đô. Một người họ Lại đón ông rất trọng hậu, ông truyền cho nghề làm giấy sắc… Ngày 16 tháng 3 không phải là ngày Tổ mất mà là ngày Tổ từ biệt làng Nghĩa Đô ra đi”.
Cứ theo ký ức của nhiều địa phương thì những dạng truyền thuyết như trên đây có ở nhiều nơi. Cũng có nơi có cả nhà thờ Tổ v.v… Song tiếc rằng các chi tiết không dồi dào hơn, nếu như không muốn nói là nghèo nàn, lại khó có điều kiện thẩm tra. Hơn nữa qua những bằng sắc thần tích, thần phả ở các đền miếu thì đến nay chưa tìm ra được việc phong tặng công lao cho ông tổ nghề giấy.
Nhìn lại lịch sử truyền thống nghề giấy ở Việt Nam
Dù sao, những tín hiệu trên đây, tuy có phần sơ sài và chưa có khả năng chứng minh một cách chặt chẽ, chúng ta vẫn có thể khẳng định rằng là: nghề giấy Việt Nam đã có truyền thống lâu đời. Nước ta là một nước văn hiến, có nhu cầu ghi chép từ lâu. Chúng ta lại cũng chịu ảnh hưởng của đạo Phật. Từ những thế kỷ đầu công nguyên, việc truyền bá kinh Phật là điều không xa lạ gì với các vua chúa, thủ lĩnh và các môn đồ Phật tử. Nghề in cũng ra đời sớm. Sách Thiền uyển tập anh đã nhắc đến nhà sư Tín Học khắc ván in cho các nhà chùa (đời nhà Lý) và sau đó vài ba thế kỷ là những trung tâm nghề in mộc bản xuất hiện. Lược truyện thần tổ các nghề, sđd. tr.76 ghi: “Nghề khắc in ở nước ta có đã lâu, nhưng công lao cải tiến có chất lượng cao hơn là thuộc về Lương Như Hộc. Ông dạy nghề cho các thợ Hồng Lục, Liễu Chàng và sau nữa là Khuê Liễu. Từ đó vùng này trở thành trung tâm khắc ván của cả nước suốt mấy thế kỷ”. Như vậy ít ra cũng phải có giấy để phục vụ cho các trung tâm ấy.
Thật ra, nếu căn cứ vào một vài chi tiết khác được ghi chép trong sử sách và các bài viết của những nhà nghiên cứu sau này, chúng ta cũng có thể khẳng định về sự quyết đoán trên.
1. Sử có chép rằng: “Từ đời Lý Cao Tông (1176 - 1210) trong các cống vật Việt Nam gửi sang Trung Quốc, bên cạnh ngà voi, sừng tê, vàng, lụa còn có cả giấy tốt.
2. Cụ Hoa Bằng ở Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 133, năm 1970, có ghi: “Sau khi Lê Lợi đuổi giặc Minh, Nhà nước Lê sơ có phát triển nghề làm giấy bản, lập “Tạo chí cục” ở Quảng Đức phường để làm các loại giấy như giấy lệnh, giấy thị,…”.
3. Năm Giáp Dần (1734) đời Lê Thuận Tông, chúa Trịnh Giang đã sai in Tứ thư, Ngũ kinh kinh bằng các thứ giấy trong nước và ra lệnh cho sĩ tử và dân gian phải mua, dùng sách nội hóa.
4. Về những cơ sở làm giấy: điểm lại toàn bộ những chi tiết mà Lê Quý Đôn đã ghi chép cùng với tài liệu dân gian có thể ghi nhân về một số vùng làm giấy (ít nhất từ thế kỷ XII lại đây). Đó là vùng ngoại thành, phía tây thành Thăng Long, cụm Cầu Giấy - Bưởi:
Làng Yên Hòa: làm giấy Thô.
Làng Hồ Khẩu: làm giấy Moi.
Làng Động Xã: làm giấy Quỳ.
Làng Yên Thái: làm giấy Lệnh.
Thôn Trung Nhã, xã Nghĩa Đô làm giấy sắc (còn gọi là giấy nghè).
Vùng giấy gồm các làng ở Kinh Bắc tạm gọi là cụm Kinh Bắc:
Làng Xuân Ổ (làng Ó) huyện Tiên Sơn
Làng Ném Tiền
Làng Đào Thôn
Làng Dương Ổ huyện Yên Phong
Làng Châm Khê
Cụm làng giấy này ít nhiều có mối quan hệ mật thiết nhất định với cụm cầu Giấy - Bưởi. Nhưng theo sự điều tra gần đây của Ty Văn hóa Hà Bắc thì từ phương thức và khuôn khổ của tờ giấy đều khác với cụm Cầu Giấy - Bưởi. Ngoài các loại giấy cơ bản, ở vùng này đặc biệt còn làm được loại giấy bằng vỏ dâu để in tranh dân gian gọi là giấy Điệp.
Vùng Thanh Hóa có làng Mai Chử (gọi là làng Mơ) ở huyện Đông Sơn làm giấy bản.
Vùng Nghệ An Hà Tĩnh, tài liệu về vùng này không ghi rõ là địa điểm nào mà chỉ nói: “vùng Nghệ An - Hà Tĩnh xưa kia có một số phường thợ làm được giấy Nhũ tương, cầm tay thấy những hạt óng ánh màu bạc, màu vàng. Loại này thường dùng để ghi các câu đối quý và cũng có thời gian trở thành hàng xuất khẩu sang Trung Quốc, Nhật Bản” (Truyện các ngành nghề, Nxb. Lao động, 1977, tr.95).
Vùng Lệ Thủy, Quảng Bình có hai xã:
Lộc Tụy: 2 xã này đều sản xuất loại giấy
Đại Phú: lớn bằng vỏ cây Miết.
Vùng Thừa Thiên lại có 2 xã của huyện Hương Trà
Đốc Cơ Vĩnh Xương: Cơ sở này làm giấy bẳng vỏ cây dó.
* Ngoài ra, còn có một số cơ sở, như: Thôn Trung Chỉ, phủ Phú Yên và Thanh Hóa làm giấy lệnh (Phủ biên tập lục, tr.325).
Vài ghi nhận để tìm hiểu thêm về nghề giấy cổ truyền
1. Các loại giấy cổ truyền ở Việt Nam
Tạm dùng thuật ngữ giấy cổ truyền để chỉ vào các thứ giấy do người thợ thủ công Việt Nam sản xuất khi chưa tiếp xúc với kỹ thuật Phương tây. Chúng tôi sẽ không nói tới các loại giấy mới được sản xuất ở Đáp Cầu, Lam Sơn, Đức Thọ trước và sau Cách mạng tháng 8… và các loại giấy Tân Mai, Vĩnh Trụ, Bãi Bằng ngày nay. Chúng tôi chỉ nói đến những loại giấy được sử dụng khi việc học theo Nho học còn thịnh hành. Có thể kể:
+ Giấy Bản: dùng in sách và viết (loại giấy cơ bản, dùng phần vỏ trắng của vỏ cây).
+ Giấy Moi, giấy Phèn: loại này mặt thô ráp (do nguyên liệu xấu hơn, phần vỏ ngoài của vỏ cây, dùng để gói hàng).
+ Giấy Xuề: Loại dùng nguyên liệu bằng những “đầu mặt” (còn gọi là Xề, Xề là những mắt vỏ cây).
+ Giấy Thô: dùng phất quạt.
+ Giấy Quỳ: dùng để dát vàng quỳ (loại này chỉ sản xuất được ít vì nguyên liệu hiếm: đó là những cây niết mọc tự nhiên, còn gọi là cây dó chuột, loại cây mọc ở vùng đồi núi tốt hơn ở bờ biển”.
+ Giấy Lệnh: loại này khổ rộng, đẹp dùng để viết lệnh chỉ.
+ Giấy Nghè: loại giấy quý, trên nền có nổi lên lờ mờ hình rồng phun mây. Giấy này được giành riêng để viết sắc phong cho các quan lại và thần linh” (“Nghè” ở đây chỉ thao tác cuối cùng để hoàn thiện mặt hàng - khi giấy đã làm xong, lên màu còn phải dùng vồ đập vào giấy trải trên mặt đá. “Nghè” là một từ chuyên môn, vì vậy làng Nghĩa Đô có tên Nôm là làng Nghè).
+ Giấy Nhũ tương: loại này lại có thấy óng ánh những hạt màu vàng, màu bạc, thường dùng để ghi các câu đối hay có lúc giấy Nhũ tương là hàng xuất khẩu.
+ Giấy Mật hương: làm bằng gỗ trầm: mặt giấy màu trắng, có vân như vẩy cá, mùi rất thơm, bỏ xuống nước không nát.
+ Giấy Trắc lý: làm bằng rong rêu lấy ở dưới biển.
+ Giấy Điệp: làm bằng vỏ cây dâu để in tranh khắc gỗ dân gian.
Tất nhiên không phải cùng một lúc chúng ta có ngần ấy loại giấy, mà đây là cả một quá trình hình thành lâu dài.
Thí dụ: đầu tiên chỉ có thể là loại giấy thô sơ như giấy Moi, giấy Phèn dùng để gói, giấy Bản loại thường để viết.
Tiếp đến, do nhu cầu sử dụng ngày một cao, đòi hỏi ngày một khác (nhất là yêu cầu của Nhà nước phong kiến) nên nghề giấy phải vươn lên về mặt chất lượng với các loại giấy tốt, giấy quý như giấy Nghè, giấy Nhũ tương… để sử dụng làm các sắc phong, lệnh chỉ…
Đồng thời vẫn phải có những loại giấy để phục vụ các ngành nghề khác như nghề làm quạt, nghề dát vàng… Ở mỗi làng có nghề giấy, các nghệ nhân đã sản xuất ra một loại giấy đặc biệt, như giấy Điệp dùng cho các làng tranh: tranh Đông Hồ, tranh Kim Hoàng…
Những loại giấy trên đến thời kỳ Nho học suy tàn thì sản xuất không còn thịnh vượng nữa, nhưng ở nông thôn loại giấy bản vẫn phổ biến. Các văn tự văn khế, hương ước, gia phả v.v… vẫn dùng đến giấy bản. Giấy dó lụa (loại mịn, mỏng, dai) vào những năm 40 của thế kỷ này đã trở thành thứ giấy quý, dùng in những loại sách đặc biệt quý.
2. Điểm qua những thao tác thủ công của một làng giấy chuyên nghiệp
Như trên đã nói, giấy cổ truyền Việt Nam đa dạng, phong phú. Hầu như mỗi làng nghề, mỗi phường nghề lại có thêm những nguyên liệu riêng để làm nên những sản phẩm riêng. Ở đây chúng tôi chỉ xin nói đến một phường cụ thể đã từng có những thời kỳ vàng son. Đó là làng nghề Yên Thái ở cụm Bưởi. Nhịp chày Yên Thái giã dó đã vào tình cảm dân gian và văn chương bác học. Nơi đây cũng đã có lúc làm ra giấy dó lụa tuyệt vời. Làng nghề này từ năm 1945 trờ về trước, chuyên sản xuất ra ba loại giấy:
+ Giấy Moi để gói hàng và làm vệ sinh nói chung.
+ Giấy Bản để viết và hút thuốc.
+ Giấy Quỳ để dát vàng.
Các nguyên liệu chính để làm giấy là các loại vỏ cây có sợi như: dó, bo, cảnh, dướng. Tuy nhiên mỗi thứ giấy có yêu cầu riêng như giấy Quỳ chỉ dùng bì cây dó chuột, còn gọi là cây Cảnh, một số địa phương gọi là niết (vì nó dai bền). Giấy sắc thì không được làm bằng loại cây khác với cây dó. Ngoài ra một số cây dang, nứa bông đều có thể làm được, nhưng cách chế biến khác, ở đây xin không nhắc đến.
Các công đoạn làm giấy được lần lượt thực hiện như sau đối với vỏ cây:
1. Ngâm nước trong (nước ao hồ) 1 ngày một đêm.
2. Rồi vớt lên ngâm sang nước vôi loãng trong hai ngày đêm.
3. Khi thử đủ nước vôi rồi, vớt lên để chảy bớt nước.
4. Hòa dung dịch vôi đặc, cho vỏ cây vào dầm đều cho vôi ngấm vào vỏ cây.
Thời gian 4 công đoạn này từ 3 đến 5 ngày tùy theo thời tiết nóng hay lạnh. Giai đoạn này rất quan trọng theo con mắt của người chuyên môn, nó sẽ quyết định cho lên lò nấu được kết quả tốt hay xấu.
5. Xếp lên lò nấu cách thủy đun trong một ngày rưỡi và ủ thêm hai ngày là chín (nếu người xếp lò kém thì hay bị sống lỏi, rất tác hại cho các công đoạn sau.
6. Dỡ nguyên liệu ở trong lò ra ngâm nước vôi loãng lần thứ hai.
7. Lột nguyên liệu làm hai phần, ruột để làm giấy tốt, vỏ để làm giấy xấu.
8. Vò vỏ cho hết đen, rồi dùng sàng rửa sạch vỏ.
9. Ngâm dầm riêng từng loại trong nước chua (nước bể thối) để cả hai loại đều ngâm nước và bột bổ để có thể nghiền được.
10. Dùng sàng rửa lại một lần nữa.
11. Đem giã thành bột. Đây là giai đoạn tinh chế quan trọng hơn. Chính ở đây mới nổi lên nhịp chày Yên Thái, cũng là khâu lao động nặng nhọc nhất: giã dó, làm cho vỏ cây phải nát nhuyễn ra như một thứ bùn loãng. Sau đó phối với các loại khác tùy theo yêu cầu chất lượng sản phẩm cần làm.
12. Dùng loại rá to, cho bột vào mang xuống nước đãi cho hết chất bẩn và nhất là chất nhựa của vỏ cây còn ở trong bột.
13. Cho bột vào “tàu seo”. (Bể nhỏ dài 1,2m, rộng 0,6m), dùng đòn tre đánh cho tơi bột rồi cho nhựa cây gỗ mò vào để hoàn thành dung dịch tráng giấy.
14. Dùng “liềm giấy” (gọi là liềm seo, là khuôn gỗ có căng thẳng một lớp lưới có mắt nhỏ hoặc mành nứa) tráng từng tờ giấy, xếp thành mới (gọi là uốn, đây là những tờ giấy ướt, xếp lên nhau, nên còn gọi là mớ uốn ướt. Seo là động tác dùng liềm seo nén dung dịch giấy để tạo thành giấy ướt.
15. Sáng hôm sau khi đã se bớt nước thì cho vào cần ép theo kiểu đòn bẩy để ép cho khô kiệt, rồi bóc từng tờ phết lên tường lò sấy để cho giấy khô và phẳng như đã dùng bàn là, ở đây gọi là can.
16. Công đoạn cuối cùng là lột các mè giấy đã khô ở trong lò, xếp từng tờ thành một tập, thành trăm. Nếu là giấy nghề thì còn phải giải từng xếp một (gồm vài chục tờ) lên tảng đá to phẳng rồi dùng chày nện cho kỹ thì giấy mới mịn mặt và bền. Giấy quỳ thì còn phải rang quỳ nhuộm là cả một nghệ thuật.
Tuy phải kết luận, nhưng chúng tôi thực sự chưa bằng lòng vì phần tư liệu còn quá sơ sài. Nghề giấy đã có truyền thống nhưng như vậy là không được phát đạt. Ngày nay, khi phát triển sang giai đoạn mới, nhiều nghệ nhân hâu như đã đi vào quên lãng, nhiều cơ sở sản xuất thất bại vì không theo kịp đà sản xuất. Để phù hợp với nhu cầu mới, phải chăng nghề giấy của ta cũng phải theo đà kỹ thuật của khoa học tiên tiến, và cải tiến, giảm bớt sự nặng nề vất vả cho người lao động. Nhưng điều quan trọng hơn có lẽ là không nên bỏ truyền thống của dân tộc. Lúc này cần nghiên cứu sâu hơn không những chỉ giữ gìn cho nghề giấy truyền thống khỏi bị mai một mà về một phương diện nào đấy còn có thể bổ sung kỹ thuật mới nữa, đưa lại năng suất cao, chất lượng tốt (giấy bền, đẹp), giảm sức lao động của người thợ mà giá thành của giấy không cao. Đây cũng là bài học quý cho các ngành nghề truyền thống, cần giữ được bản sắc dân tộc, như Nhật Bản (đã làm với nghề đan), Trung Quốc (đã làm với nghề dệt và gốm), v.v…(1)
Chú thích:
(1) Bài viết có tham khảo một số ý kiến của bác Đào Đình Huy, làng nghề Yên Thái. Nhân đây chúng tôi xin chân thành cảm ơn bác và gia đình.
Nguồn: Tạp chí Hán Nôm số 1(12) năm 1992, trang 49-54.