Translate

Hiển thị các bài đăng có nhãn ĐẠO MẪU. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ĐẠO MẪU. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 15 tháng 11, 2020

ĐẠO MẪU Ở VIỆT NAM - LONG VÂN KHÁNH HỘI ĐẢN NHẬT TỨ PHỦ HẰNG NIÊN


- Tháng giêng:

+ Ngày 9/1: Tiệc Đức Vua Cha Ngọc Hoàng Thượng Đế và Cửu Thiên Huyền Nữ Công Chúa 

+ Ngày 10/1: Kỵ Nhật Thánh Phụ ( chùa Nền)
+ Ngày 12/1: Tiệc Trần Triều Đệ Nhất Vương Cô Quyên Thanh Công Chúa
+ Ngày 15/1: Đại Lễ Thượng Nguyên

- Tháng hai:

+ Ngày Mão đầu: Tiệc Đức Quốc Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn Đông Cuông
+ Ngày 3/2: Tiệc Trần Triều Đức Ông Đệ Tam Đông Hải Đại Vương Cửa Đông Cửa Suốt Trần Quốc Tảng
+ Ngày 6/2: Tiệc Tứ Vị Vua Bà Đền Cờn Môn
+ Ngày 12/2: Tiệc Mẫu Tuyên Quang
+ Ngày 14/2: Tiệc Đản Nhật Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh
+ Ngày 15-16/2: Tiệc Chúa Đệ Nhị Nguyệt Hồ (Chúa Bói)
+ Ngày 24/2: Tiệc Sòng Sơn Quốc Mẫu ( tiệc Mồng 2 /2 :

- Tháng ba:

+ Ngày 2/3: Tiệc Trần Triều Cô Bé Cửa Suốt Tĩnh Huệ Công Chúa Cặp Tiên Linh Từ
+ Ngày 3/3: Tiệc Đức Quốc Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên Phủ Dày
+ Ngày 7/3: Tiệc Cậu Bé Quận Đồi Ngang
+ Ngày 14/3: Tiệc Chầu Đệ Tứ Khâm Sai
+ Ngày 17/3: Tiệc Chầu Bát Nàn Đông Nhung Đại Tướng Quân

- Tháng tư:

+ Các ngày trong tháng: Đại Lễ Nhập Hạ
+ Ngày 12/4 : Tiệc Chúa Thác Bờ

 +Ngày 10/4 : Kỵ Nhật Thánh Mẫu( chùa Nền)

- Tháng năm:

+ Ngày 5/5: Tiệc Trần Triều Đệ Nhị Vương Cô Đại Hoàng Công Chúa
+ Ngày 10/5: Tiệc Đản Nhật Chầu Lục Cung Nương Chín Tư Hữu Lũng ( có nhiều ý kiến cho rằng không đúng)
+ Ngày 25/5: Tiệc Quan Lớn Tuần Tranh Ninh Giang Kì Cùng

- Tháng sáu:

+ Ngày 10/6: Tiệc Đức Quốc Mẫu Đệ Tam Thoải Cung Thác Hàn
+ Ngày 12/6: Tiệc Mẫu Thác Đền Hàn và Đản Nhật Cô Bơ Bông
+ Ngày 16/6: Tiệc Chúa Bà Năm Phương Bản Cảnh Vũ Quận Bạch Hoa Công Chúa Cấm Giang
+ Ngày 24/6: Tiệc Đản Nhật Quan Lớn Đệ Tam Thuỷ Quốc Bơ Phủ Vương Quan Lảnh Giang Xích Đằng

- Tháng bảy:

+ Các ngày trong tháng: Đại Lễ Tán Hạ
+ Ngày 7/7: Tiệc Đản Nhật Ông Hoàng Bảy Bảo Hà
+ Ngày 13/7: Tiệc Quan Triệu Tường Tống Sơn Thanh Hoá
+ Ngày 17/7: Tiệc Ông Hoàng Bảy Bảo Hà

- Tháng tám:

+ Ngày 20/8: Tiệc Trần Triều Quốc Công Tiết Chế Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn Kiếp Bạc Linh Từ + Ngày 22/8: Tiệc Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình Thoải Phủ Đồng Bằng Linh Từ

- Tháng chín:

+ Ngày 2/9: Tiệc Cô Bé Suối Ngang Phố Vị Lạng Sơn
+ Ngày 9/9: Tiệc Cửu Trùng Thiên Cung Vương Mẫu và Cô Chín Giếng Sòng Sơn Linh Từ
+ Ngày 13/9: Tiệc Cô Đôi Cam Đường
+ Ngày 19/9: Tiệc Cô Chín Đền Sòng + Ngày 10/9  Tiệc Chầu Lục Cung Nương
+ Ngày 20/9: Tiệc Công Đồng Bắc Lệ và Tiệc Chầu Lục Cung Nương ( Tiệc hóa)

+ Ngày 25-26/9: Kỵ Nhật Đức Thánh Từ( chùa Nên - Láng - Vĩnh Bảo Đài)

- Tháng mười:

+ Ngày 10/10: Tiệc Đản Nhật Ông Hoàng Mười Nghệ An

- Tháng mười một:

+ Ngày 1/11: Tiệc Trần Triều Đức Ông Điện Suý Phù Ủng Đại Vương Phò Mã Phạm Ngũ Lão
+ Ngày 10/11: Tiệc Đản Nhật Quan Lớn Đệ Nhị Thượng Ngàn Thanh Tra Giám Sát

- Tháng mười hai:

+ Các ngày trong tháng (trước ngày 23 tháng chạp): Đại Lễ Tất Niên
+ Ngày 10/12: Tiệc Đản Nhật Đức Ông Trần Triều Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn 

+ Ngày 14/12: Kỵ nhật Đức Vua Bà đền Vĩnh Bảo Đài - Chùa Láng - HN
+ Ngày 25/12: Tiệc Chúa Đệ Tam Lâm Thao (Chúa Ót, Chúa Chữa)

Chủ Nhật, 20 tháng 7, 2014

QUAN LỚN ĐỆ TAM THOẢI QUỐC BƠ PHỦ VƯƠNG QUAN LẢNH GIANG XÍCH ĐẰNG





  Theo thần phả ở đền Lảnh: Ngày xưa,(vào khoảng đời Vua Hùng thứ 18) ở trang An Cố huyện Thuỵ Anh - phủ Thái Ninh - trấn Sơn Nam, có vợ chồng ông Phạm Túc ăn ở phúc đức, chỉ hiềm một nỗi ông bà đã cao tuổi mà vẫn chưa sinh được mụn con nối dõi.

  Một đêm trăng thanh, gió mát, vợ ông (bà Trần Thị Ngoạn) đang dạo chơi, bỗng gặp một người con gái nhà nghèo, cha mẹ mất sớm, không có anh em thân thích, đi tha phương cầu thực. Động lòng trắc ẩn, bà Ngoạn liền đón cô gái về làm con và đặt tên là Quý. Ông bà coi nàng Quý như con ruột của mình. Vài năm sau, trong lúc gia đình đang vui vầy, đột nhiên ông Túc mắc bệnh rồi qua đời. Hai mẹ con đã tìm nơi đất tốt để an táng cho ông.

Sau ba năm để tang cha, một hôm nàng Quý ra bờ sông tắm gội, đang lúc ngâm mình dưới nước, bỗng mặt nước nổi sóng, từ phía xa một con thuồng luồng khổng lồ bơi tới quấn ba vòng quanh mình nàng, khiến nàng kinh hoàng mà ngất lịm, lúc sau thuồng luồng bỏ đi. Từ hôm đó, nàng thấy trong lòng chuyển động và mang thai. Không chịu được những lời dèm pha, khinh thị, nàng đành phải trốn khỏi làng đến xin ngụ cư ở trang Hoa Giám (nay thuộc thôn Yên Lạc). Thời gian thấm thoát thoi đưa, ngày mùng 10 tháng giêng năm Tân Tỵ, nàng chuyển dạ, sinh ra một cái bọc. Cho là điềm chẳng lành, nàng đem cái bọc quẳng xuống dòng sông. Chiếc bọc trôi theo dòng nước tới trang Đào Động (xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình), mắc phải lưới của ông Nguyễn Minh. Sau nhiều lần gỡ bỏ, nhưng bọc vẫn cứ mắc vào lưới. Ông Minh thấy lạ bèn khấn: “Nếu bọc này quả là linh thiêng thì cho tôi lấy dao rạch thử xem sao”. Khấn xong, ông Minh rạch ra bỗng thấy ba con rắn từ trong chiếc bọc trườn xuống dòng sông. Con thứ nhất theo hướng cửa sông Đào Động, con thứ hai về Thanh Do, con thứ ba về trang Hoa Giám (nơi nàng Quý đang sống). Nhân dân các trang ấp ở đay thấy đều sợ hãi, cùng nhau ra bờ sông tế tụng, xin được lập sinh từ để thờ.

Lạ thay, vào một đêm trăng sáng, trời bỗng nổi giông, ngoài cửa sông sấm sét nổi lên dữ dội. Đến gần sáng, gió mưa ngớt dần, mọi người đều nghe thấy dưới dòng sông có người ngâm vịnh:

"Sinh là tướng, hoá là thần,
Tiếng thơm còn ở lòng dân muôn đời.
Khi nào giặc dã khắp nơi,
Bọn ta mới trở thành người thế gian."

Bấy giờ Thục Phán thuộc dòng dõi tôn thất vua Hùng thấy Duệ Vương tuổi đã cao mà không có con trai, nên có ý định cướp ngôi. Thục Phán cầu viện binh phương Bắc, chia quân làm 5 đường thủy bộ cùng một lúc đánh vào kinh đô. Duệ Vương cho gọi tướng sĩ lập đàn cầu đảo giữa trời đất. Đêm ấy, nhà vua chiêm bao thấy có người sứ giả mặc áo xanh từ trên trời bước xuống sân rồng, truyền rằng: “Nhà vua nên triệu ba vị thủy thần sinhở đạo Sơn Nam, hiện còn là hình con rắn thì tất sẽ dẹp xong được giặc”. Tỉng dậy, Duệ Vương liền sai sứ giả theo đường chỉ dẫn trong giấc mộng tìm về đạo Sơn Nam. Sứ giả vừa đến trang ĐÀo Động, bỗng nhiên trời đổ mưa to, sấm sét nổi lên dữ dội ở cửa sông. Một người mặt rồng, hình cá chép, cao tám thước đứng trước sứ giả xưng tên là Vĩnh, xin được đi dẹp giặc. Sau đó ông Vĩnh gọi hai em đến bái biệt thân mẫu rồi cùng nhau đến yết kiến vua Duệ Vương. Vua Hùng Liền phong cho ông là Trấn Tây, giữ các vùng Sơn Nam, Ái Châu, Hoan Châu. Hai em và các tướng hợp lại dưới sự chỉ huy của ông, năm đạo quân Thục đều bị tiêu diệt.

Nghe tin thắng trận, Duệ Vương liền truyền lệnh giết trâu, mổ bò khao thưởng quân sĩ. Vì có công lớn, nhà vua phong ông là Nhạc Phủ Ngư Thượng Đẳng Thần, nhưng ông không nhận, chỉ xin cho dân Đào Động hàng năm không phải chịu sưu dịch. Được vua đồng ý, ông Vĩnh cùng hai em về quê bái yết thân mẫu và khao thưởng gia thần, dân chúng. Thấy ở bên sông có khu đất tốt, ông Vĩnh cho lập đồn dinh cư trú, khuyến khích nông trang, khuyên mọi người làm việc thiện lương. Nhờ công đức của ông mà nhân dân khắp vùng được sống yên vui.

Ngày 25 tháng 8 năm Bính Dần, trong lúc ông đang ngự tại cung thất của mình, bỗng dưng giữa ban ngày trời đất tối sầm, mưa gió ầm ào đổ xuống. Khi trời quang mây tạnh, dân làng không còn nhìn thấy ông đâu nữa. Cho là điều kỳ lạ, nhân dân trang Đào Động làm biểu tâu với triều đình. Được tin ông Phạm Vĩnh về trời, nhà vua liền gia phong cho ông là Trấn Tây An Tam Kỳ Linh Ứng Thái Thượng Đẳng Thần, đồng thời đặt lệ, ban sắc chỉ cùng tiền cho dân Đào Động rước thần hiệu, tu sửa đền miếu phụng thờ.

Các triều đại sau đó đều có sắc phong cho ông, tất cả 12 sắc. Sắc sớm nhất là đời Lê Cảnh Hưng, sắc muộn nhất vào triều Nguyễn, niên hiệu Duy Tân thứ 7 (1913).

Cùng trên mảnh đất thiêng này có câu chuyện về mối tình Tiên Dung, Chử Đồng Tử từ ngàn xưa còn vọng đến hôm nay. Thủa ấy, ở thôn Đằng Châu có một nhà nghèo gặp cơn hỏa hoạn. Hai cha con chỉ còn một manh khố ngắn dùng chung để khi có việc ra ngoài. Lúc người cha qua đời, Chử Đồng Tử đã dành chiếc khố cuối cùng khâm liệm cha. Từ đó ngày ngày chàng thường phải ngâm mình dưới nước.

Một hôm, Tiên Dung con gái vua Hùng đi du ngoạn, cảm nhận cảnh sông nước nên thơ, công chúa cho dừng thuyền lại bên bãi cát. Chử Đồng Tử đang mò cá dưới sông, nhìn thấy thuyền rồng, cờ rong lọng tía mà kinh sợ, vội vàng vùi mình dưới cát. Ngay lúc đó Tiên Dung sai các thị nữ quây màn để tắm đúng vào nơi mà Chử Đồng Tử ẩn nấp. Nước xối từ trên người nàng, trôi dần cát ở dưới chân, lộ Chử Đồng Tử trong màn quây. Sau giây phút ngỡ ngàng, cả hai người cho là duyên trời đã định, cùng nhau về triều xin phép vua cha cho kết duyên thành vợ chồng. Chử Đồng Tử, Tiên Dung đã về trời nhưng tình yêu, lòng hiếu thảo còn ở lại mãi với trần gian.

   Văn ca ngợi Ngài:                                         

Trịnh giang biên giành ngân lai láng
Đôi vầng hồng soi rạng nam minh
Con vua thủy quốc Động Đình
Đệ tam thái tử giáng sinh đền Rồng

Dọc:

Đức gồm vẹn thung dung hòa mặc
Bẩm sinh thành tư chất long nhan
Thỉnh mời thái tử thái tử vương quan
Phi phương diện mạo dung nhan khác thường

Hằng tấu đối thiên đường thủy phủ
Trấn nam minh quy đủ bốn phương
Ra uy chấp chính kỉ cương
Cầm cân nảy mực sửa sang cõi đời

Chốn long giai cầm quyền thay chúa
Phép màu quan tối tú tối linh
Lệnh truyền thủy bộ chư dinh
Sửa sang đai giáp chơi miền trần gian

Dâng một triền nhang lòng thành dâng một triền nhang
Tấu về thủy phủ các ban các tòa thiên đình cho tới diêm la

Thiên đình cho tới diêm la tấu vè thoải phủ vua cha động đình
Chốn ấy là chốn thủy cung

Phú:

Nhanh dâng một chuyện tâu thỉnh đức vương quan
Đệ tử con tiến văn đàn
Dâng sự tích đệ tam hoàng thái tử

Sơn xuyên dục tú “hà hải chung linh”(2)
Người con vua thoải quốc động đình
Sắc phong tặng vương quan hoàng thái tử

Văn thần cẩm tú võ tổng lược thao
Bẩm dung y diện mạo hồng hào
Ngôn trung chính tài cao quán cổ

Thơ:

Giáp bạc bao phen nhuộm đỏ hồng
Xông pha trăm trận dạ như không
Ra tay cứu nước trừ nguy biến
Tiếng để ngàn thu với núi sông

Xá lửng:

Chiếc thuyền lam nổi dòng Xích Bích
Đưa quân chèo du lịch bốn phương
Có phen tuần thú sông Thương
Trở ra tỉnh Bắc , Quế Dương, Lục Đầu

Có phen ngự sông Dâu sông Hát
Khi lên ghềnh xuống thác vui chơi
Có phen vào lạch ra khơi
Sai quân lấy gỗ xoan đào chò hoa

Có phen chơi ngã ba Bạch Hạc
Bạn tiên ngồi đàn hát vui chơi
Dạo xem phong cảnh mọi nơi
Qua hang Anh Vũ sang chơi nước người

Có phen chơi cửa đài cửa bích
Khi ra khơi vào lạch thảnh thơi
Thuyền rồng trăm chiếc chèo bơi
Dọc ngang Tuần Lảnh là nơi đi về

Trải giang khê lên ngàn xuống bể
Lảnh Giang từ quý địa danh lam
Đền thờ quan tam tía kiệu vàng
Long môn hổ bàn thạch bàn uy nghi

Hóa tức thì lâu đài điện các
Dâng nước về thủy quốc một khi
Có phen lấy ngọc lưu ly
Đùng đùng dâng nước phép thì ai đang

Khắp sông Thương , sông Thao , sông Cả
Kéo quân về đóng ngã ba Tranh
Xướng ca đàn hát tập tành
Thi ngâm phú đọc đàn tranh chơi bời

Có phen lại về nơi thủy phủ
Đóng cân đai áo mũ vào tâu
Dăm ba đồng tử theo hầu
Vào tâu Vương phụ ra chầu Mẫu vương

Cũng có khi phi thường biến hóa
Qua Nghệ An thượng hạ đại giang
Thuyền rồng chèo quế buồm lan
Khi chơi Tô Lịch khi sang sông Cầu

Có phen ngự Nam lâu Bắc điện
Trở ra về đến huyện Thiên Tôn
Dạo miền thác cái thác con
Khi chơi sông Hát khi sang sông Bờ

Dạo thẩn thơ Tản Viên Tam Đảo
Truyền chư quân đôi đạo tiên phong
Chuông kêu cờ phất trống dong
Bè sau thuyền trước giữa dòng lênh đênh

Trống cầm canh chiêng vang anh ỏi
Lốt xanh vàng chìm nổi dư muôn
Triều thần văn vũ bách quan
Sai lên đón rước vương quan về chầu

Trên các lầu thơ ngâm phú đọc
Ngoài sân rồng ca chúc chén tiên
Vua cha giá ngự ngai vàng
Phán đòi thái tử vương quan vào chầu

Ngự giờ lâu phán lời nhân thứ
Sai ông lên cứu trợ trần gian
Một tay thái tử vương quan
Cứu sinh cũng lắm đọ oan cũng nhiều

Nay ông đã về chầu nhân đức
Độ nhân gian vạn ức siêu sinh
Nay ông về chốn thủy đình
Khuông phù đệ tử khang ninh thọ trường

Thứ Sáu, 20 tháng 6, 2014

QUAN LỚN ĐỆ NGŨ TUẦN TRANH







Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh. Hay còn gọi là Ông Lớn Tuần Tranh. Ông là con trai thứ năm của Vua Cha Bát Hải Động Đình. Ông cũng giáng dưới thời Hùng Định Vương (Hùng Triều Thập Bát), trong một gia đình ở phủ Ninh Giang (nay là Hải Dương), ông cũng là vị tướng quân tài ba kiêm lĩnh thuỷ bộ, được giao quyền trấn giữ miền duyên hải sông Tranh. Ông đã lập được nhiều công lao to lớn nên được sắc phong công hầu. Tại quê nhà, ông có cảm tình với một người thiếu nữ xinh đẹp, người thiếu nữ ấy vốn là vợ lẽ của quan huyện ở đó, nhưng vốn không hạnh phúc với cảnh “chồng chung”, nàng cũng đáp lại tình cảm của ông mà không hề nói cho ông biết là nàng đã có chồng. Vậy nên Quan Lớn Tuần Tranh vẫn đinh ninh đó là một tình cảm đẹp, hẹn ngày đưa nàng về làm vợ. Đến khi viên quan huyện kia biết chuyện, vu oan cho ông đã quyến rũ vợ mình. Quan Tuần Tranh bỗng nhiên mắc hàm oan, bị đem đày lên chốn Kì Cùng, Lạng Sơn. Tại đây, ông đã tự sát mong rửa oan, chứng tỏ mình vô tội, ông hoá xuống dòng sông Kì Cùng. Về lại nơi quê nhà, ông hiện thành đôi bạch xà, thử lòng ông bà nông lão, sau đó được ông bà nông dân nuôi nấng như thể con mình. Nhưng khi quan phủ biết chuyện ông bà nông lão tậu gà để nuôi đôi bạch xà, liền bắt ông bà phải lên cửa công chịu tội và giết chết đôi rắn kia đi. Hai ông bà thương xót, xin thả rắn xuống dòng sông Tranh, lạ thay khi vừa thả đôi bạch xà xuống thì chỗ đó tạo thành dòng xoáy dữ dội. Đến thời Thục Phán An Dương Vương, vua tập hợp thuyền bè để chống giặc Triệu Đà ở ngay bến sông Tranh, nhưng tại chỗ dòng xoáy đó, thuyền bè không tài nào qua được mà lại có cơn giông tố nổi lên giữa dòng. Vua bèn mời các vị lão làng đến lập đàn cầu đảo thì lập tức sóng yên bể lặng, hơn nữa, quân sĩ ra trận cũng được thắng to. Ghi nhớ công đức, vua Thục giải oan cho ông và phong là Giảo Long Hầu. Sau này ông còn hiển thánh linh ứng, có phép nhà trời, cai quản âm binh, ra oai giúp dân sát quỷ trừ tà, dẹp hết những kẻ hại nước hại dân.



Trong hàng Ngũ Vị Tôn Ông, cùng với Quan Lớn Đệ Tam, Quan Lớn Đệ Ngũ cũng là một vị quan lớn danh tiếng hết sức lẫy lừng, được nhân dân xa gần tôn kính phụng thờ. Tuy trong hàng Năm Toà Ông Lớn, ông được thỉnh cuối cùng nhưng lại hay ngự về đồng nhất (bất cứ ai hầu Tứ Phủ, bất cứ dịp tiệc, đàn lễ nào đều phải thỉnh Quan Tuần Tranh về ngự). Khi ngự đồng ông mặc áo lam thêu rồng, hổ phù; làm lễ tấu hương, khai quang, chứng sớ tán đàn rồi múa thanh long đao. Khi có đại đàn mở phủ hay bất cứ lễ tiệc nào, sau khi thỉnh các quan lớn về, đều phải đợi đến khi giá Quan Lớn Đệ Ngũ về chứng một lần hết tất cả các đàn mã sớ trạng rồi mới được đem đi hoá.


Quan Lớn Tuần Tranh cũng được thờ ở rất nhiều nơi nhưng phải kể đến hai nơi nổi tiếng bậc nhất: đầu tiên là Đền Ninh Giang hay



Đền Quan Lớn Tuần Tranh lập bên bến sông (bến đò) Tranh ở Ninh Giang, Hải Dương (là nơi chính quán quê nhà của ông, nơi ông trấn giữ duyên hải sông Tranh, cũng là nơi ông hiển tích) và Đền Kì Cùng lập bên bến sông Kì Cùng, qua cầu Kì Lừa (là nơi ông bị lưu đày). Ngày tiệc chính của quan là ngày 25/5 âm lịch (là ngày ông bị lưu đày và bảo nhân dân quê ông làm giỗ vào ngày này), ngoài ra vào ngày 14/2, các đền thờ ông cũng mở tiệc đón ngày đản sinh của quan.


Văn QUAN ĐỆ NGŨ TUẦN TRANH 
Trình bày : Khắc Tư
Trong khi thỉnh ông về, văn thường hát:

“Uy gia lẫm liệt tung hoành
Trừ tà sát quỷ nên danh tướng tài
Ninh Giang chính quán quê nhà
Dấu thiêng ghi để ngã ba Kì Cùng”

Hay nói về nỗi oan của ông, văn hát sử oán rằng:

“Nào ngờ đâu đất trời thay đổi
Người anh hùng mang tội xiềng gông
Tháng năm đày chốn Kì Cùng
Oan vì tuyết nguyệt đổi lòng ái ân
Trước cung điện triều đình tra xét
Bắt long hầu truyền hết mọi nơi
Oan vì bướm lả ong lơi
Triết hoa đoạt vũ tội trời không dung
Lệnh viễn xứ sơn cùng thuỷ kiệt

Nỗi oan này có thấu cao minh
Áo bào đã nhuộm chàm xanh
Tấm thân bách chiến tử sinh lẽ thường”


Hoặc có cả những đoạn ca ngợi công lao, tài đức của ông:



“Loa đồng hỏi nước sông Tranh

Đao thiêng dẹp giặc, anh hùng là ai

Sông Tranh đáp tiếng trả lời

Anh hùng lừng lẫy là người Ninh Giang”


Hát văn : Quan Lớn Tuần Tranh

Trình bày : Thành Long - Văn Chung

Thể loại : Nhạc dân tộc

--------------------------------------
.
Còn khi quan ngự đồng, khai quang chứng sớ điệp, ra oai giúp dân trừ tà thì văn hát rằng:

“Ông về truyền phán các quan
Tả cơ hữu đội lưỡng ban đáo đàn
Quân thuỷ quân bộ đôi hàng
Chư binh vạn mã hằng hà kéo ra
Lệnh truyền thiên đội vạn cơ
Quan Tuần bây giờ trắc giáng anh linh
Trước là bảo hộ gia đình
Sau ra thu tróc tà tinh phen này
Ra oai trần thế biết tay
Ngự lên đồng tử cứu rày nhân gian
Cứu đâu thời đấy khỏi oan…”

Nguồn: http://hatvanvn.blogspot.com/2010/11/quan-lon-e-ngu-tuan-tranh.html

Thứ Năm, 20 tháng 6, 2013

TỨ PHỦ HỌA ĐỒ



  Tứ phủ là quan niệm của tín ngưỡng dân gian cho rằng vũ trụ được chia làm bốn miền là :
   -Thiên phủ (cõi trời),
   - Địa phủ (cõi đất)
   -Thủy phủ (cõi nước), chữ thủy thường đọc chệch là thoải.
   - Nhạc phủ ( miền rừng núi)
 Tam phủ chia vũ trụ làm ba miền (tam phủ) là: thiên, địa, thoải.Quan niệm tam phủ và tứ phủ là quan niệm đồng nhất về vũ trụ trong con mắt của người xưa. Các phủ đều có các vị thần thánh cai quản, cao nhất là Thánh Mẫu .Ngài vừa là vị thần có quyền năng màu nhiệm vừa là người mẹ bao dung che chở cho đàn con thơ, vừa huyền bí lại vừa gần gũi.

       Tứ phủ họa đồ là hình vẽ (biểu tượng) thể hiện quan niệm về tứ phủ do Phúc Yên chế ra. Nội dung và ý nghĩa của biểu tượng  như sau:

(*) - Hình tròn giữa bên trong màu đỏ ( giống hình mặt trời) tượng trưng cho thiên phủ 
(*)- Hình vuông màu vàng tượng trưng cho địa phủ .(quan niệm trời tròn đất vuông theo dân gian xưa)
(*)- Các nhánh nhỏ màu trắng tượng trưng cho sông, suối.. của thoải phủ
(*)- Các hình ở bốn góc hình vuông là tượng trưng vẽ về rừng núi ( màu xanh) của nhạc phủ
(*)- Ở giữa trung tâm là một bông hoa sen tượng trưng cho Vân Hương Thánh Mẫu vị thần chủ tối cao của tín ngưỡng thờ tam tứ phủ. Mẫu Liễu Hạnh là Hồng Liên Công Chúa , ngài lại là đệ tử của Phật sau được tôn xưng là Mã Hoàng Bồ Tát. Hình tượng hoa sen cũng nói lên mối quan hệ giữa tín ngưỡng thờ Mẫu và đạo Phật. Trong các chùa miền bắc thường kết hợp thờ Mẫu theo lối "tiền Phật hậu Mẫu" ( Thờ Phật ở chính điện thờ Mẫu ở nhà sau , hay thờ ở ban phía bên).Và các đền thờ Mẫu cũng rất nhiều nơi có bài trí tượng Phật và bồ tát. Trước khi lễ thánh mọi  người thường khấn ( không phải niệm Phật) là " con nam mô A Di Đà Phật, con lạy chín phương trời mười phương chư Phật...". Các nghi lễ như tụng kinh, cầu siêu, cúng thí thực của nhà Phật cũng đều có mặt trong tín ngưỡng thờ Mẫu . Đóa hoa sen loài hoa đầy hương sắc dẫu mọc trong bùn nhưng chẳng bị nhuộm nhơ. Sống trong thế giới này tuy đầy rẫy đau khổ  cạm bẫy nhưng trong giây phút nào đó, ta đứng trong một ngôi đền, ngôi chùa, cung kính trước hình tượng chư Phật Thánh , lòng trần như giũ sạch, tâm linh trong sáng vô nhiễm tựa đóa sen hồng, một tấc lòng thanh bạch.

Sưu tầm từ:http://hatvan.tk/

Thứ Tư, 5 tháng 6, 2013

SƠ LƯỢC VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU VÀ TAM,TỨ PHỦ - PHẦN IV




VĂN THỈNH MẪU
Bản văn thỉnh bốn vị thánh Mẫu: Mẫu Đệ Nhất Cửu Trùng Thiên Tiên;Mẫu Đệ Nhị Địa Tiên Liễu Hạnh Công chúa;Mẫu Đệ Tam Thoải Cung;Mẫu Đệ Tứ Lê Mại Đại Vương.Thông thường trong các vấn hầu thường thỉnh Tam Toà Thánh Mẫu và cũng có thể Mẫu Đệ Tứ được hầu như giá Chúa Thượng Ngàn (hầu mở khăn).
Tiết lương thiên tâm thành khấu đảo
Thỉnh tam toà Mẫu đáo đàn duyên
(Nhang một triện dốc lòng dâng tiến
Khói ngạt ngào thấu đến cửa thiêng)
Thỉnh mời Đệ Nhất Thiên Tiên
Thanh Vân Công Chúa Thượng Thiên ngự về
Ngự ngôi cao cửu tiêu chính vị
Ở trên trời sửa trị bốn phương
Lòng Người trong sáng như gương
Thần thông biến hoá sửa sang cõi đời
Mặt hoa mày liễu tốt tươi
Hình dung tươi tốt miệng cười như hoa
Lưng ong tóc phượng dà dà
Áo xông hương xạ hài hoa chân giày
Cửu trùng ngự chín tầng mây
Quản cai các bộ tiên nay ngự đền
Thỉnh mời Đệ Nhị Địa Tiên
Vốn xưa hiển thánh trong đền Sòng Sơn
Hình dong nhan sắc khác thường
Giá danh đòi một hoa vương khôn bì
Ngụ thai quê Phủ Giầy ,Thiên Bản
Phủ Nghĩa Hưng là quán Sơn Nam
Tuổi thơ chưa biết duyên phàm
Đeo kinh còn vết để làm dấu thiêng
Tuổi tới niên cài trâm giắt lược
Kết duyên lành quê phước một nơi
Gối chăn vừa mới quen hơi
Ai ngờ dưới nguyệt sảy nơi tơ hồng
Đạo vợ chồng còn đương thời nhớ
Bỗng hoa hài lại giở gót tiên
Giờ dần mồng ba tháng thìn
Đôi mươi mốt tuổi rẽ duyên cõi trần
Trạnh giang tân doành ngân lai láng
Nguyệt lầu lầu soi rạng nam minh
Con vua thuỷ quốc động đình
Đệ Tam Mẫu Thoải giáng sinh đền rồng
Đức gồm vẹn công dung ngôn hạnh
Vẻ nhu mì bẩm tính thiên nhiên
Dung nghi cốt cách thần tiên
Đã đành Mẫu thoải chơi miền non côn
Chốn thoải cung có nhà lệnh tộc
Vốn con dòng danh ốc Kính Xuyên
Xưa nay thế phiệt gia truyền
Thảo mai nàng ấy tạm quyền tiểu tinh
Chí bình sinh phù đời giúp nước
Ơn cửu trùng phó thác biên cương
Mảng danh công chúa phi phương
May nhờ lá thắm xe duyên tơ hồng
Trách Thảo Mai ra lòng giáo dở
Trá đồ thư làm cớ gieo oan
Kính Xuyên chẳng xét ngay gian
Nỡ đem đầy chốn lâm sơn sao đành
Lòng trời xót kẻ ngay lành
Xui quan Liễu Nghị nho sinh tìm vào
Thở than mọi nỗi tiêu hao
Đưa thư đem đến ba đào bể Đông
Kim thoa gõ cây ngô đồng
Tự nhiên nổi trận đùng đùng phong lôi
Rước chàng xuống đến long giai
Thấy thư vương phụ châu rơi dàu dàu
Kính Xuyên nỗi ở cơ cầu
Lệnh truyền thái tử Long Hầu Xích Lân
Đùng đùng nổi trận phong vân
Rước tiên chúa lại về sân động đình
Ban khen Liễu Nghị công trình
Định yên gia thất yên lành trao tay
Vua cha chỉ phán kíp ngay
Kính Xuyên phải tội,Thảo Mai đem đày
Mẫu từ cầm sắt bén dây
Sự oan đã tỏ sự tài thêm cao
Dù ai kính tín khấn cầu
Ra tay cứu giúp sang giàu hữu dư
Trông ơn đại đức từ bi
Nguyện xin tiên thánh uy nghi giáng đền
Thỉnh mời Lê Mại chúa tiên
Núi Dùm chúa ngự ,trấn miền Tuyên Quang
Đức Chúa Ngàn con vua Đế Thích
Giáng Sinh vào dấu tích Lê gia
Năm Thìn tháng hai mồng ba
Đỉnh sinh tiên chúa khai hoa trần thì
Vẻ nhan sắc phương phi yểu điệu
Nét dịu dàng dương liễu tốt tươi
Dung nghi vốn sẵn tự trời
Môi son má phấn miệng cười như hoa
Anh linh hiển hách hay là
Ba mươi sáu động gần xa tiếng đồn
Dốc một lòng chí thành chí kính
Lập đền thờ Tiên thánh sớm khuya
Ơn bà cứu khổ phò nguy
Nhất tội nhất xá độ trì chứng minh




VĂN THỈNH MẪU (Bản khác)
Khi thỉnh mẫu có thể thỉnh bơ toà thánh mẫu :Mẫu Liễu Hạnh thông tri tam giới hoàng thiên thỉnh ngôi đệ nhất,Mẫu thượng ngàn Lê Mại đại vương ngôi đệ nhị và Mẫu Thoải Cung ngôi đệ tam
Ngày lành tiệc mở thung dung
Tam Tòa Tiên thánh,công đồng đàn duyên
Thỉnh mời đệ nhất Chúa Tiên
Tặng phong Chế Thắng xe loan ngự về
Phủ Giầy ,Vân Cát thôn quê
Nghĩa Hưng,Thiên Bản,nhà Lê cải trần
Hình dung cốt cách thanh tân
Mười năm định giá hôn nhân xướng tùy
Thiên đình định nhật chí kì
Tuổi đôi mươi mốt kíp về thiên thai
Dấu thiêng gương lược tính trời
Rẽ mây phút lại ghé chơi cõi trần.
Kíp vời Quỳnh , Quế theo chân
Đồi Ngang,phố Cát làm thần bốn phương
Tiếng đồn nức đến đế vương
Tiên Hương Vân Cát khói hương phụng thờ.
Thực tài Thánh Mẫu quá ưa
Thỉnh chư tiên thánh ngự ca điện tiền.
Thỉnh mời Sơn Lâm Chúa Tiên
Vốn xưa sinh ở trên đền Đông Cuông
Hình dung nhan sắc khác thường
Giá danh đòi một hoa thơm vẹn mười
Biết đâu lá thắm thơ bài
Lòng trinh không động một vài giá xuân
Thiên đình định nhật tới tuần
Lên tâu Ngọc Đế dưới dân phụng thờ.
Ngọc Hoàng chỉ phán bấy giờ
Truyền cho xuống lập đền thờ xứ Tuyên
Sơn Lâm là chốn dấu thiêng
Thú vui phong cảnh chính bên tam cờ
Địa linh bèn lập đền thờ
Tả long hữu hổ địa đồ giang sơn
Thú tinh lưu thủ trấn quan
Cầu phong vạn lí sắc ban tức thì
Sắc rồng in dấu mang về
Tặng phong mỹ tự biển đề tối linh
Càng thêm nức tiếng thơm danh
Phố phường phụng sự quan dân đến thờ
Tháng hai mở tiệc đánh cờ
Mười hai tháng bảy chèo đua thi tài
Quan dân,thượng khách vãng lai
Khấu đầu vọng bái dám sai tơ hào
Uy linh giá ngự thiên tào
Tiên cung giá ngự ngôi cao đế đình
Đông Cuông Sơn thủy hữu tình
Cảnh thanh Mẫu ngự hiện hình phép thiêng
Thỉnh mời đệ tam thánh tiên
Xích Lân Long Nữ ngự đền Thoải Cung
Kính Xuyên sớm kết loan phòng
Thảo Mai tiểu thiếp ra lòng gieo oan
Kính Xuyên chẳng xét ngay gian
Nỡ đem đầy chốn lâm sơn sao đành
Lòng trời xót kẻ ngay lành
Xui quan Liễu Nghị nho sinh tìm vào
Thở than mọi nỗi tiêu hao
Đưa thư đem đến ba đào bể Đông
Kim thoa gõ cây ngô đồng
Tự nhiên nổi trận đùng đùng phong lôi
Rước chàng xuống đến long giai
Thấy thư vương phụ châu rơi dàu dàu
Kính Xuyên nỗi ở cơ cầu
Lệnh truyền thái tử Long Hầu Xích Lân
Đùng đùng nổi trận phong vân
Rước tiên chúa lại về sân động đình
Ban khen Liễu Nghị công trình
Định yên gia thất yên lành trao tay
Vua cha chỉ phán kíp ngay
Kính Xuyên phải tội,Thảo Mai đem đày
Mẫu từ cầm sắt bén dây
Sự oan đã tỏ sự tài thêm cao
Dù ai kính tín khấn cầu
Ra tay cứu giúp sang giàu hữu dư
Trông ơn đại đức từ bi
Nguyện xin tiên thánh uy nghi giáng đền
Kiêm ngũ phúc dâng lên cõi thọ
Nước trị trường thánh chúa hưng long
Mẫu về trắc giáng điện trung
Khuông phù đệ tử hưng long thọ trường
Các Bài Kệ Tán sử dụng trong các giá hầu Mẫu
Hương vân nhi bố
Thánh đức chiêu chương
Bồ đề tâm quảng mạc năng lường
Xúc xứ phóng hào quang
Vi thoại vi tường
Ngưỡng khởi pháp trung vương
Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát(3 lần).
Tâm nhiên ngũ phận
Phổ biến thập phương
Hương yên đồng tử ngộ chơn thường
Tỉ quán diệu nan lương
Thoại ái tường quang
Kham hiến pháp trung vương
Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát(3 lần).
Lô nhang sạ nhiệt
Pháp giới mông huân
Chư Phật hải hội tất dao văn
Tùy xứ kiết tường vân
Thành ý phương ân
Chư Phật hiện toàn thân
Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần).
Chiên đàn hải ngạn
Lô nhiệt minh hương
Da Du tử mẫu lưỡng vô ương
Hỏa nội đắc thanh lương
Chí tâm kim tương
Nhất chú biến thập phương
Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Tát Ma Ha Tát (3 lần).
Dương chi tịnh thủy
Biến sái tam thiên
Tánh không bát đức lợi nhân thiên
Pháp giới quảng tăng diên
Diệt tội tiêu khiên
Hỏa diệm hóa hồng liên
Nam mô Thanh Lương Địa Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần).
Giới hương, định hương dữ tuệ hương,
Giải thoát giải thoát tri kiến hương.
Quang minh vân đài biến pháp giới,
Cúng dường thập phương vô thượng tôn.
Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần).
A di đà phật thân kim sắc
Tướng hảo quang minh vô đẳng luân
Bạch hảo uyển chuyển ngũ Tu Di
Hám mục trừng thanh tứ Đại Hải
Quang trung hoá Phật vô số ức
Hoá Bồ Tát chúng diệc vô biên
Tứ thập bát nguyện độ chúng sinh
Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn
Nam mô Tây phương cực lạc thế giới
đại từ đại bi A Di Đà Phật(3 biến)
Đông phương Giáo chủ
Thập nhị nguyện vương
Tứ cửu kim đăng diệu đàn tràng,
Thất thất diễn chơn thường,
Đảnh lễ tán dương,
Tiêu tai thọ diên trường.
Nam Mô Dược Sư Hải Hội Phật Bồ tát. (3 lần)
Sa bà phi thị cửu cư thành,
Dự hướng không môn chuyển đại Kinh,
Nhị lục nguyện vương tiêu tội cấu
Tam thiên hóa Phật giám kiền thành,
Nam Diêm phúc quả ư trung tú,
Tây Trúc liên hoa thử tế hinh,
Giải kiết tiêu tai tăng diên thọ,
Phúc cơ mạng vị bảo khang ninh.
Chú chuẩn đề (Tụng khi thanh đồng bắt ấn chuẩn đề)
Khể thủ quy y Tô Tất Đế,
Đầu diện đảnh lễ Thất Câu Chi,
Ngã kim xưng tán Đại Chuẩn Đề,
Duy nguyện từ bi thùy gia hộ.
Nam mô tát đa nẫm, tam miệu tam bồ đà,
câu chi nẫm, đát điệt tha:
Án, chiết lệ chủ lệ Chuẩn đề sa bà ha

                                                                  Sưu tầm từ:http://thegioitamlinh.ace.st/t1179-topic

Thứ Năm, 30 tháng 5, 2013

SƠ LƯỢC VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU VÀ TAM,TỨ PHỦ - PHẦN III



Mẫu Đệ Tam Thuỷ Cung, Xích Lân Công Chúa
Mẫu Đệ Tam Thuỷ Cung, Xích Lân Công Chúa ,hay còn có danh hiệu khác như “Động Đình Công Chúa Ngọc Hồ Thần Nữ”,”Thuỷ Tiên Công Chúa”,”Thuỷ Cung Thánh Mẫu”.Sự tích của Thánh Mẫu được thể hiện rõ trong bản văn Mẫu Thoải, ngoài ra còn có tác phầm “Liễu Nghị truyền thư” (Truyện Liễu Nghị) bên Trung Hoa.Bản văn Mẫu Thoải nói về sự tích của Thánh Mẫu: Ngài vốn là Con gái của Vua Thoải Quốc Động Đình được gả cho Kính Xuyên một gia đình lệnh tộc dưới thuỷ cung.Kính Xuyên có người vợ lẽ là Thảo Mai.Thảo Mai giáo dở vu oan cho Tiên Chúa ,Kính Xuyên không xét trước sau mà đem đầy Tiên Chúa vào chốn rừng sâu mặc cho thú dữ ăn thịt. Tại nơi rừng sâu Tiên Chúa được sự yêu mến của muông thú,hoa cỏ lá cây.Cũng hay cho con tạo xoay vần mà Tiên Chúa gặp được Liễu Nghị trên đường lai kinh ứng thí đi ngang qua.Ngài đã viết chúc thư và trao cho Liễu Nghị kèm với một kim thoa nhờ chàng mang tới thuỷ cung.Liễu Nghị nghe theo lời Tiên Chúa chỉ đường mà tới Bể Đông, dùng kim thoa gõ vào cây ngô đồng như đúng lời dặn.Bỗng dưng nước rẽ làm đôi đón Liễu Nghị vào tới thuỷ cung,ở đây chàng đã tâu trình bức thư phong mà Tiên Chúa gửi gắm.Đọc xong lá thư Vua Thoải Quốc nổi giận sai Trưởng Tử Xích Long Hầu đi đón Tiên Chúa hồi cung và đem trừng phạt Kính Xuyên và Thảo Mai.Trong đoạn văn Mẫu Thoải có đoạn kết rằng:
Đã nên đấng anh linh liệt nữ
Trách chi người vụng xử chấp nê
Bằng nay tiên chúa sinh chi
Giá đem sau trước mà suy sự lòng
Rũ sạch không những niềm tân khổ
Nương uy trời tế độ sinh linh
Đời đời nức tiếng thơm danh
Biển vàng ghi tạc sử xanh dõi truyền
Kiêm ngũ phúc dâng lên cõi thọ
Nước trị trường thánh chúa hưng long
Mẫu về chắc giáng điện trung
Khuông phù đệ tử hưng long thọ trường




Mẫu Đệ Tứ Nhạc Tiên, Sơn Lâm Công Chúa
Mẫu Đệ Tứ Nhạc Tiên, Sơn Lâm Công Chúa còn có các danh hiệu khác như Diệu Tín, Diệu Nghĩa Thiền Sư; Lê Mại Đại Vương,Bạch Anh Công Chúa quản trưởng sơn trang triều mường,Bà Chúa Sơn Trang,Bà Chúa Thượng Ngàn,Mẫu Thượng Ngàn….
Mẫu Thượng Ngàn là vị thần cai quản núi rừng,Có nhiều sự tích gắn với Mẫu Thượng Ngàn như La Bình Công Chúa (con gái Sơn Tinh Đại Vương); Quế Hoa Mỵ Nương....Thánh Mẫu đã nhiều lần khuông phù cho các đời vua Lê che chở cho muôn dân nhất là trong các vùng rừng núi.Sự tích Mẫu Thượng Ngàn có trong Đông Cuông Công Chúa Văn;Thượng Ngàn Thánh Mẫu Văn…Tuy nhiên đa phần các sự tích đều mở ảo không rõ ràng về lai lịch của bà.Những nơi nào có rừng núi người ta đều thấy sự hiện thân của Bà Chúa Sơn Trang.Những đền thờ bà ở rất nhiều nơi như Đền Đông Cuông,Đền Bắc Lệ, Đền Suối Mỡ….Trong văn Mẫu Thượng Ngàn có đoạn viết
Khắp đâu đâu nức danh đều biết
Chúa Thượng Ngàn lẫm liệt thần cơ
Tụ Long Bảo Lạc Tam Cờ
Sông Thao sông Cả sông Bờ sông Dâu
Khắp các châu nức danh thần nữ
Tự Lê triều quốc sử còn ghi
Danh thơm Nam Bắc Trung kì
Bảo dân hộ quốc độ trì tứ phương
Sắc Lê Mại Đại Vương trường trị
Đông Cuông từ đích vị danh lam
Chim kêu vượn hót trên ngàn
Tả thời bạch hổ hữu đoàn thanh long
Muôn dân đều trông đợi nơi Thánh Mẫu sự an lành ,mạnh khoẻ :
Hiển thánh tích lưu truyền vạn đại
Sắc tặng phong Lê Mại Đại Vương
Thông minh chính trực khác thường
Ra tay sát quỷ bốn phương thái hoà
Khắp trong nước trẻ già trai gái
Đội ơn bà mạnh khoẻ sống lâu
Muôn dân lễ bái kêu cầu
Sở nguyện như ý sở cầu tòng tâm



Phần 2: NHỮNG BẢN VĂN CHẦU TỨ PHỦ
CÔNG ĐỒNG TỨ PHỦ VĂN
Bỉ cách
Bảo nhang phước úc khởi tường yên
Thụy khí xung đằng thấu cửu thiên
Nhang giảo chí thành,đăng bảo an
Nguyện cờ đệ tử đắc bình an
Miễu cách:
Việt Nam thuở nền an vương thất
Chuyển pháp luân Phật nhật tăng huy
Kim niên, kim nguyệt, nhật thì.
Đệ tử tâu quy Phật thánh mười phương
Nức khói hương chiên đàn giải thoát
Thoảng mùi hoa ưu bát thơm bay
Nam mô Phật ngự phương Tây
Sen vàng choi chói hiệu nay Di Đà
Ngự trước tòa lưu ly bảo điện
Phật Thích Ca ứng hiện tự nhiên
Tiêu thiều nhã nhạc dưới trên
Cửu Long phún thủy quần tiên ca đàn
Đức toà thị ngại vàng rờ rỡ
Phóng hào quang rực rỡ vân yên
Quan Âm ngự trước án tiền
Tả hữu bồ tát tăng thiền, già na
Đức Hộ Pháp Vi Đà thiên tướng
Vận thần thông vô lượng vô biên.Thổng cách:
Tận hư không giới thánh hiền
Dục giới sắc giới chư thiên đều mời
Vua Đế Thích Quản cai thiên Chủ
Vua Ngọc Hoàng thiên Phủ chí tôn
Dương phủ ngũ nhạc thần vương
Địa phủ thập điện Minh Vương các tòa
Dưới thoải cung giang hà ngoại hải
Chốn Động Đình Bát Hải Long Vương
Tam nguyên, tam phẩm tam quan
Quản chi tội phúc nhân gian cầm quyền
Ngôi Bắc Cực trung thiên tinh chúa
Tả Nam Tào chua sổ trường sinh
Hữu quan Bắc Đẩu thiên đình
Thập nhị bát tú cửu tinh huy hoàng
Khắp tam giới bách quan văn vũ
Hội công đồng tứ phủ vạn linh
Cửu trùng Thánh Mẫu thiên đình
Bán thiên công chúa quế quỳnh đôi bên
Hội bàn tiên khăn điều áo thắm
Chốn Quảng Hàn cung cấm vào ra
Thỉnh mời Quốc Mẫu Vua Bà
Công đồng Thánh Mẫu tam tòa chúa tiên
Đền Sòng Sơn -Địa Tiên Vương Mẫu Phú nói:
Đất phủ Giày nổi dấu thiên nhan
Thỉnh mời Thánh Mẫu Đệ Tam
Xích Lân Long Nữ ngự đền Thủy Cung
Tướng uy hùng năm quan hoàng tử
Lĩnh sắc rồng cai ngự bốn phương
Quyền cai sơn thoải đại giang
Đông Cuông Tuần Quán thượng ngàn tối linh
Khắp tam giới đình thần tứ phủ
Hội Công Đồng văn vũ bá quan
Tả mời thái tuế đương niên
Hữu quan đương cảnh thành hoàng quản cai
Tiền hậu lai Lê Triều Thái Tổ
Lệ tùy tòng thừa sự hôm mai
Thỉnh mời Tứ Phủ Khâm Sai
Thủ Đền Công Chúa đáng tài thần thông
Thỉnh tam thập lục cung tiên thần nữ
Quản chư tào thừa sự sớm khuya
Pháp vân Pháp vũ uy nghi
Pháp lôi Pháp điện hộ trì phi phong
Tướng thiên cung mão đồng đai giáp
Lốt thủy tề năm sắc phi phươngDọc cách:
Thỉnh mời bát bộ sơn trang
Bên thời thập nhị tiên nương chầu vào
Các bá quan cơ nào đội ấy
Giáng bản đền lừng lẫy uy nghi
Thổ Công Thổ Địa thần kỳ
Ngoại Giang Hà Bá sơn kỳ thần linh
Sắc cẩn thỉnh thiên binh lưc sĩ
Ngũ Hổ thần vạn vị hùng binh
Thỉnh mời liệt vị bách linh
Binh tùy binh tiếp hùng binh đáo đềnDồn:
Phép tự nhiên thiên trù tống thực
Thập biến thiên vạn ức hà sa
Nam mô tát phạ đát tha nga đa phạ rô chỉ đế
Án, tam bạt ra, tam bạt ra hồng
Án tông tông tông tông tông thủy luân nhũ hải
Biến trần trần sái sái giai sung
Nhất nghi lục cúng viên thông
Ân cần phụng hiến công đồng như lai
Nguyệt vân lai cầu an bảo tọa
Đại từ bi hỷ xả tri tâm
Cứ trong một tháng đôi tuần
Dâng hoa cúng quả cầu trăm tuổi già
Hội tam đa , trình tường ngũ phúc
Độ cho đồng hưởng lộc thiên xuân
Thỉnh mời Phật giáng lưu ân
Công Đồng lưu phúc thiên xuân thọ trường


Ghi chú :Đoạn dị bản của bỉ cách
Dị bản 1: CÔNG ĐỒNG TỨ PHỦ VĂN
Thần kim ngưỡng khải tấu chư tôn
Toạ thượng dương dương nghiễm nhược tồn
Nguyện thỉnh pháp âm thi huệ lực
Tuỳ cơ phó cảm nạp trần ngôn
Dị bản 2:
Sâm sâm hạt giá ,tòng không hạ
Hiển hiển loan dư ,mãn toạ tiền
Bất xá uy quan phu thần lực
Chứng minh công đức lượng vô biên.
Dị bản 3:
Một nén hương thơm thấu cửu thiên
Kính thiên kính địa kính phật tiền
Chữ rằng nhất niệm thông tam giới
Cầu cho trăm họ đắc bình yên
Dị bản 4 :
Nhất kính tâm hương thấu cửu trùng
Công đồng văn vũ chốn tiên cung
Đàn duyên sớ điệp nay cầu đảo
Giáng thần vô lượng vận thần thông
Dị bản 5:
Phật thánh tòng không lai gíáng hạ
Vạn linh thánh chúng ngự dương toà
Tuỳ phương ứng hiện lai chứng giám
Nguyện kỳ phúc lộc tựa hà sa


VĂN CÔNG ĐỒNG (Dị bản)
Lòng tin tâu kính Phật Trời
Mười phương chư Phật,độ tôi những là
Nam mô Đức Phật Thích Ca
Cùng Đức Thánh Mẫu, Phật Bà Quan âm
Tiếng đồn náo nức xa gần
Ai ai cũng đến ân cần xin con
Cầu bà :bà độ có con
Có nam có nữ vuông tròn tốt thay
Đức Phật hoá phép nghìn tay
Tô mặt vẽ mày hình thể tốt tươi
Thỉnh Đức Thượng Thiên trên trời
Giáng xuống hạ giới,cứu người trần gian
Nhà giàu cho tới nhà quan
Ai ai cũng đến kêu oan cửa Bà
Cứu người phúc đẳng hà sa
Phép thiêng dân lạc, thịnh hoà yên vui
Trống tôi đã thỉnh ba hồi
Đầu tôi đội trời, miệng niệm Như Lai
Đức Phật tôi đã thỉnh lai
Mời khắp Tam phủ, giáng lai đền Rồng
Phật Thánh hoá phép thần thông
Uy linh cảm ứng, hộ trì thế gian
Chiêu tài tiếp lộc muôn vàn
Ngự đồng cứu độ thế gian lạ thường
Đồng tôi tâu đến Ngọc Hoàng
Giá ngự ngai vàng, lồ lộ kiều cung
Thượng Thanh giá ngự phương Đông
Thái Thanh đã ngự đền Rồng thiêng thay
Ngọc Thanh giáng ngự phương Tây
Tản Viên Thánh Cả, ngự rày bàn loan
Triều thần văn vũ bách quan
Ai ai là chẳng tấu lên thiên đình
Nam Tào cầm sổ chua sinh
Bắc Đẩu chua lộc, phân minh thay là
Bao nhiêu hạ giới người ta
Nam nữ trẻ già sổ đã chép ghi
Chữ rằng: “thiên võng nan tri”
Đạo Trời lồng lộng, phép thì thiêng thay
Phúc lành đưa đến chưng đây
Đệ tử tôi rày: có số thiên cung
Sắc vàng choi chói vua phong
Dâng trước ngai rồng, cầm bút chua phê
Lại tâu bản thổ thần kỳ
Cùng quan Hà Bá, tức thì đệ lên
Quỳ tâu Tam Thánh: Tản Viên
Huyền Đàn, Độc Cước dâng lên tức thì
Lại tâu Quốc Mẫu đan trì
Ban bổng lộc về cho đệ tử nay
Lộc này lộc thánh tốt thay
Ai khéo hầu hạ ban nay lộc nhiều
Thiên trù tống thực vua yêu
Niên nguyệt dập dìu tiền của chẳng vơi
Giàu sang số hệ bởi trời
Cầu được mạnh khoẻ yên vui trong nhà
Điều lành tôi dám tâu qua
Thế gian ai biết, trẻ già ai hay
Kẻ gian đâu biết sự này
Đồng tôi tâu bày tam phủ ba vua
Linh Tiêu Ngọc Hoàng đế đô
Thiên Địa Thuỷ Nhạc, các vua ngự toà
Động đình thuỷ tộc hải hà
Trên trời sấm động mưa sa vội vàng
Gió đưa mây phủ sáng quang
Tối tăm trời đất bên giang bao giờ
Sân rồng nổi đôi lá cờ
Tự nhiên phẳng lặng như tờ bốn phương
Bốn bề vằng vặc như gương
Bảng vàng hốt bạc bước sang ngự lầu
Vua ngự phượng các long lâu
Chư Tiên công chúa đứng đầu Thánh Vương
Trên trời bổng lộc toà vàng
Vua Cha ngự trước các Hoàng ngư sau
Đồng bộ đới cước vào chầu
Hai mươi bảy bộ đứng hầu đôi bên
Trước đền Thánh Mẫu Thuỷ Tiên
Con cả cầm quyền Hoàng cả Xích Lân
Phân minh nghị luận công đồng
Lưỡng ban văn vũ đều cùng quỳ tâu
Lòng thành khẩn nguyện sở cầu
Chúng dân phụng sự quỳ tâu đế đình
Mười phương chư Phật chứng minh
Cứu dân độ thế nhân sinh xa gần
Chữ rằng Thánh giáng lưu ân
Công Đồng lưu phúc thiên xuân thọ trường

                                                                    Còn tiếp...

Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2013

SƠ LƯỢC VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU VÀ TAM,TỨ PHỦ - PHẦN II



MẪU ĐỆ NHỊ ĐỊA TIÊN-LIỄU HẠNH CÔNG CHÚA
Tiên nhân Thần nữ cõi nam thiên
Tam thế giáng sinh sử dõi tuyền
Đại Yên,Vỉ Nhuế dòng Phạm Thị
Tiên Hương Vân Cát ấy lương duyên
Sòng Sơn Phố Cát phen đại chiến
Đông Thành Kẻ sóc nối dây duyên
Anh linh hiển hách phù Nam Việt
Chế Thắng tặng phong tối linh thiêng
Mẫu Đệ Nhị Địa Tiên, Liễu Hạnh Công Chúa (Thánh Mẫu Liễu Hạnh) còn có các danh hiệu khác như Vân Hương Thánh Mẫu, Chế Thắng hoà Diệu Đại Vương, Mã Hoàng Bồ Tát….Thánh Mẫu ngoài danh hiệu Đệ Nhị Địa Tiên còn được tôn xưng là Thiên Tiên Thánh Mẫu.Ngài vốn là Đệ Nhị Quỳnh Hoa Công Chúa trên thiên cung, ba lần giáng sinh trần thế.Sự tích Tam thế của Thánh Mẫu được ghi chép trong sách “Cát Thiên Tam Thế Thực Lục” tại Quảng Cung Phủ Nấp (Nơi Thánh Mẫu giáng sinh lần thứ nhất).
Lần thứ nhất Tiên Chúa phụng mệnh giáng sinh tại làng Vỉ Nhuế, thôn Quảng Nạp, xã Trần Xá, huyện Đại Yên, phủ Nghĩa Hưng trấn Sơn Nam, trong nhà thái ông họ Phạm hiệu là Huyền Viên, thái bà hiệu là Thuần Nhất hai người cùng một quê. Ở đời này Mẫu cũng luôn giữ chữ Trinh, hiếu thảo thờ phụng cha mẹ, sau hết hạn trần gian có xe loan đón rước Mẫu về chốn linh tiêu.
Lần thứ hai do sơ ý đánh rơi chén ngọc mà Tiên Chúa bị giáng xuống cõi trần vào nhà thái công họ Lê tại thôn Vân Cát, xã An Thái, huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng.Thái công họ Lê tên húy là Đức Chính, thái bà hiệu là Phúc Thuần. Tới tuổi trưởng thành Tiên Chúa kết duyên cùng chàng Đào Lang họ Trần ở thôn An Thái (sau đổi là Tiên Hương).Tiên Chúa sinh được một người con trai đặt tên là Trần Nhâm.Ở kiếp này Tiên Chúa tại thế hai mốt tuổi thì về trời.
Lần thứ ba Mẫu giáng trần tại Kẻ Sóc, lấy chồng họ Mai (là tái hợp với hậu thân của Đào Lang), sinh được một con trai (Có tài liệu nói là hai người con trai), được hơn một năm mẫu quay gót trở về thiên cung. Sau Ngọc hoàng ân chuẩn cho Mẫu được trắc giáng xuống cõi trần thường xuyên tiêu dao khắp nơi, được miễn vòng sinh tử luân hồi.Trong dân gian vẫn truyền tụng Thánh Mẫu Liễu Hạnh là một trong tứ bất tử của dân tộc
Sự tích của Thánh Mẫu Liễu Hạnh được ghi chép trong nhiều tài liệu như trong sách “Cát Thiên Tam Thế Thực Lục”,”Vân Cát Thần Nữ”,”Nam Hải Dị Nhân”,”Tiên Phả Dịch Lục”,….Và đặc biệt là trong các bản văn chầu (Dùng để hát thờ vào ngày đản tiệc của Thánh Mẫu) như: Địa Tiên Thánh Mẫu Văn; Cảnh Thư Đường Văn; Mẫu Sòng Văn; Giáng Tiên kỳ Lục Văn…Nhưng hầu hết các văn bản đều chỉ viết từ lúc Thánh Mẫu Liễu Hạnh giáng sinh lần thứ hai tại Phủ Giày.Lần giáng trần lần thứ nhất được biết đến ít hơn.Trong đó có tác phẩm Vân Cát tam thế thực lục quốc âm viết về tam thế của đức Thánh Mẫu bằng các câu thơ Nôm lục bát được giới thiệu sau đây:
VÂN CÁT TAM THẾ THỰC LỤC QUỐC ÂM
---***---

Khi nhàn tựa án thảnh thơi,
Ngẫm xem tam thế luân hồi lạ thay.
Quả tu khéo tại lòng này,
Hoá sinh sinh hoá xưa nay ai tường.
Vẹn sao hai chữ cương thường,
Tiên nhân phật quả lưu phương dõi truyền.
Nhớ xưa ở huyện Đại Yên,
Xã là Trần Xá về miền Nghĩa Hưng.
Đương năm Cảnh Thịnh sơ hưng,
Cải làng Vỉ Nhuế phỏng chừng tam niên.
Thôn Quảng Nạp hiệu Huyền Viên,
Phạm gia tích đức bách niên đã nhiều.
Xưa làm Phó sứ thiên triều,
Khâm sai tra sổ phải điều bất công.
Bút son vâng mệnh đền rồng,
Giáng Trần Xá xã thôn trung đất lành.
Đất này tú khí chung linh,
Lâu đài cổ tích xung quanh cũng kỳ.
Chỉn e tử tức còn trì (chầy),
Trai đàn mong được sau khi nối đời.
Đêm ngày khấn phật cầu trời,
Kim tinh Thái Bạch tới nơi tâu rằng.
Có nhà rày ở dưới trăng,
Thái bà Phạm lão tin nhằm có thai.
Ngọc Hoàng mở sổ ra coi,
Phạm ông ngày trước vốn người thiên cung.
Bởi vì giữ phép không công,
Vậy nên giáng trích vào vòng nhân gian.
Một đời rồi lại tái hoàn,
Nay xin cầu tự thời bàn làm sao.
Có quan Bắc Đẩu Nam Tào,
Sổ cầm chu mặc ghi vào tính danh.
Tâu rằng xin chút gái lành,
Kẻo cơ nghiệp ấy sau dành cho ai.
Đức vua nghe nói êm tai,
Truyền đòi công chúa thứ hai lên chầu.
Khuyên con giáng thế ít lâu,
Hỡi quan văn vũ cùng nhau hiệp bàn.
Tâu rằng đội đức thiên nhan,
Non cao bể rộng khôn toan cưỡng lời.
Công chúa tâu lạy mấy lời,
Hóa sinh sinh hóa kiếp người kiếp tiên.
Kiếp này là kiếp tiền duyên,
Ghi lòng để dạ chép biên đời đời.
Thần thông biến hoá mọi nơi,
Trước Nga Hoàng giáng vốn người tiên cung.
Ngọc nữ thăng lệnh chỉ truyền,
Vâng lời tấu đến điện tiền vua cha.
Khấu đầu lạy trước thềm hoa,
Lạy bà Hoàng hậu chính toà vừa thôi.
Gửi truyền văn vũ mấy lời,
Thờ vua phải giữ lòng thời chỉ trung.
Còn tiên lạy trước ngai rồng,
Tâu rằng cho xuống độ vòng bao nhiêu.
Thấy con nói hết mọi điều,
Bút son đề chữ linh tiêu lên đầu.
Thông minh linh ứng dài lâu,
Tứ phương lai cộng phật đầu Dần niên.
Sênh ca đàn sáo đôi bên,
Dập dìu phượng liễn xuống miền dương gian.
Phạm ông khi ấy thanh nhàn,
Màng màng giấc mộng đoàn đoàn tiên nga.
Khí thiêng sực nức mùi hoa,
Sao mai thấp thoáng trời đà vầng đông.
Thái bà chuyển động tâm trong,
Quế lan ngào ngạt hát sen hồng nở hoa.
Huệ hương dâng khắp đầy nhà,
Giáng sinh mồng sáu tháng ba giờ Dần.
Nhãn quang lóng lánh tinh thần,
Mày ngang vành nguyệt da ngần vóc sương.
Má đào môi hạnh phi phương,
Giá so tố nữ tiên nương khôn bì.
Phú ông xem thấy dị kỳ,
Giáng thần ứng hiện đặt thì Tiên Nga.
Yêu như ngọc dấu như ngà,
Nâng châu rốn bể hứng hoa lưng trời.
Màn the trướng gấm thảnh thơi,
Thâm khuê dưỡng dục khác vời tiên cung.
Ngũ chu thiên tính đà thông,
Thử xem nề nếp cũng dòng phú gia.
Chạnh lòng nghĩ đến gần xa,
Nay tuy đã vậy sau đà sao đây.
Năm lên mười tuổi khôn thay,
Một niềm hiếu thuận nết hay ai tày.
Thung huyên sớm mỏng tối dày,
Quạt nồng đắp lạnh đêm ngày vào ra.
Tôn thân thượng mục hạ hoà,
Lời ăn tiếng nói nhu hoà khoan dung.
Đủ điều ngôn hạnh công dung,
So xem cốt cách khác trong trần này.
Đua chen kẻ tớ người thầy,
Ra vào hầu hạ đêm ngày tựa nương.
Tới tuần tam ngũ phi phương,
Bạn Tần khách Tấn ngổn ngang đầy nhà.
Thái ông ướm hỏi dò la,
Chiêu thân sớm định để già tâm khoan.
Nào ai dưới gối thừa hoan,
Nay con riêng phải lo toan việc nhà.
Chúa rằng đội đức sinh ra,
Ơn đà bể rộng nghĩa đà non cao.
Hổ con chút phận thơ đào,
Hình lâm tử tức tiêm vào phu quân.
Cuộc đời như thể phù vân,
Thân tiên buộc lấy duyên trần làm chi.
Nhớ khi nuôi nấng phù trì,
Nghĩ sao báo đáp ơn nghì cho phu.
Con xin dốc chí đường tu,
Triêu sớm ban tối di du vui cùng.
Mặc ai mối điệp tin ong,
Mặc ai lá thắm chỉ hồng bạn duyên.
Khi xưa phẩm cách người tiên,
Lẽ nào nỡ để hồng liên bùn lầm.
Thái ông nghe nói mừng thầm,
Hay là đức phật Quan âm thân tiền.
Thôi chi nói sự trần duyên,
Dù con trong sạch giá tiên mặc lòng.
Đào viên then khoá kín phong,
Giữ điều trinh tiết kính cung tiên đường.
Vá may canh cửi việc thường,
Rộng ơn thí xả bốn phương dân cùng.
Nền nhân xây đắp dốc lòng,
Khói hương thấu đến cửu trùng cho thông.
Dần dần nhị kỉ ngũ đông,
Thung đường phút đà xe rồng lên chơi.
Ngán thay dưới đất trên trời,
Một người mà gánh hai vai thâm tình.
Báo ơn tứ đức sinh thành,
Gần xa ai kẻ nức danh nữ tài.
Cư tang năm mới được hai,
Huyên đường hạc giá bay khơi lên ngàn.
Thân tiên bao quản tân toan,
Một mình khôn biết rằng bàn sao xong.
Bèn mời lân lý hương trung,
Kẻ thăm người viếng tây đông đầy nhà.
Thôn trung có kẻ lão già,
Thấy người thơ ấu nết na thương vì.
Năm thường dậy sớm luân di,
Hiếu trung hai chữ sau thì ắt nên.
Công chúa quì xuống thưa lên,
Trình rằng ơn nặng dám quên sau này.
Thôn trung thu xếp ra tay,
Hạ tuỳ thượng xướng việc nay chu toàn.
Đưa người yên xuống hoàng tuyền,
Mặc nàng coi sóc báo đền công xưa.
Chăm coi bao quản nắng mưa,
Gọi là chút báo tóc tơ sinh thành.
Thương thay thiên đạo bất bình,
Trăm năm để giận một mình khấu công.
Ba năm lòng những dặn lòng,
Nào ai khuya sớm đà cùng việc đây.
Đến tuần tứ cửu làm trai,
Đại đàn bố thí bẩy ngày bẩy đêm.
Lòng thành thấu đến cửu thiên,
Kim tinh Thái Bạch tâu lên ngai vàng.
Tâu rằng ở dưới dương gian,
Nơi bà công chúa Đại An tâu rày.
Cù lao chín chữ thương thay,
Trông ơn thượng đế xá rày siêu sinh.
Ngọc hoàng việc ấy đã minh,
Đem bộ trắc giáng đế đình mà tra.
Phán rằng đệ nhị Tiên Nga,
Bấy lâu sao vắng đại la quảng hàn.
Triều đình tâu trước thiên nhan,
Tâu còn kỉ nữ tái hoàn tiên cung.
Ngày nay tang tóc đã xong,
Một mình coi sóc ngoài trong xa gần.
Năm qua tháng lại lần lần,
Phong quang đã khác tiền nhân đó rồi.
Công chúa tỉnh giấc bồi hồi,
Tam tinh mộng thấy tới nơi doành doành.
Tâu rằng người ở động đình,
Vâng đem ngọc bảo kim tinh lai phù…

Thánh Mẫu Sự Tích Quốc Âm Ca
Nhiều nhà khoa bảng đã đề câu đối, đề thơ, dẫn lại sự tích thánh mẫu Liễu Hạnh để các thế hệ sau tiếp nối ghi nhớ đây là những bài thơ mang tính sử thi, đã nhập tâm nhiều người ở Phủ Dầy cũng như trong cả nước. Đây là bài thơ của cụ Phó Bảng Kiều Oánh Mậu, người xã Đông Sàng, huyện Phúc Thọ, Tỉnh Sơn Tây, cụ đỗ Phó Bảng năm Tự Đức 33 ( 1880 ) có đệ tam phòng ở xã Kim Thái huyện Vụ Bản tên là Trần Thị Oanh.
Thánh Mẫu Sự Tích Quốc Âm Ca
Làng Vân Hương giáng sinh Thần nữ
Cõi Nam thiên bất tử nổi tên
Vốn xưa đệ nhị cung tiên
Phong lưu công chúa ở trên thiên đình
Đương tiệc thọ khi mang chén ngọc
Quá lòng mừng bỗng chốc rời tay
Phép trời đâu có riêng tây
Hai mươi năm đó xuống đầy trần gian
Năm Thiên Hựu Lê Hoàng thứ nhất
Dấu Giáng Tiên Trần thất thác ra
Rõ ràng vóc ngọc vẻ hoa
Hoa mà biết nói ngọc mà có thơm
Tính linh tuệ cộng thêm nho học
Gồm cầm thi ca khúc đều hay
Hiếu trinh có một người đây
Lầu cao năm thước giá này ai ngang
Thông Giáp Nhị cũng lâng kề đó
Đuốc văn phòng bóng tỏ tình lang
Ba năm chăn gối vội vàng
Hạn kì đã hết thiên đình lại lên
Đường ân ái muôn ngàn xa cách
Lòng sắt son minh bạch còn tâu
Ngọc Hoàng soi sét trước sau
Trần gian lại xuống hoa lâu lại về
Công sinh dưỡng tình quê day dứt
Điệu sắt cầm duyên kết càng sâu
Đôi bên thung tạ huyền sầu
Đào hoa vắng mặt vân du đành lòng
Khi Lãng Uyển, Bồng Doanh xa tới
Khi cửa huyền rừng tía gần chơi
Khi góc bể, khi lên trời
Khi người lão ẩu, khi người mỹ nhân
Khi dưới nguyệt câu thần lẩy điệu
Khi trong hoa cuộc rượu mở hàng
Khi bài lá khi cung đàn
Khi ngay giũa quán khi ngang bên đường
Chùa tỉnh Lạng gặp chàng Phùng sứ
Cảnh Hồ Tây văn tự cùng ai
Đông kinh trở gót tiên hài
Đã nay ngoài phố khi mai trong thành
Khi xe Hạc hoàng đình tới đó
Khi Đông dương ngựa gió ghé qua
Khi Nghệ Tĩnh, khi Thanh Hoa
Khi vào Hoàng Lĩnh, khi ra Thạch Thành
Khi Phố Cát hiển linh đã rõ
Khi Sòng Sơn mới tỏ huyền cơ
Lắm khi hoạ phúc, uy quyền
Phép vua dẫu hiển, phép Tiên càng thần
Kìa Tuyết Lĩnh đẫ chân quy Phật
Nọ tường minh lại thực quy sư
Rộng đường hết sức tu trì
Cứu dân, giúp nước hằng ghi một niềm
Nhà vua thủa dẹp giặc khi trước
Cũng gắng công vì nước non ta
Đại vương có sắc ban ra
Chữ rằng Chế Thế Bảo Hoà Diệu phong
Triều ta lúc hỗn đồng Nam Bắc
Hiển anh linh ra sức âm phù
Gia Long thứ bốn hiệu vua
Tiên Hương tên xã dụ cho về làng
Trên chín bệ đã ban quốc điển
Dưới vạn gia đều hiển thần quyền
Dám xin trắc giáng ơn trên
Quốc dân tý hộ, trào lên xuân đài.
Trong các huyền tích về Thánh Mẫu Liễu hạnh có lẽ trận đại chiến Sòng Sơn là ly kỳ hấp dẫn nhất.Sau đây xin được trích dẫn phần truyện này:
SÒNG SƠN ĐẠI CHIẾN
Thời bấy giờ, công chúa Liễu Hạnh đang sống ở trần thế. Khi thì công chúa giả làm thiếu phụ qua đường, lúc làm cô gái bán hàng để trêu ghẹo thiên hạ. Ai trái ý công chúa đều bị hại. Dân chúng cả vùng Sơn Nam đều lấy làm sợ hãi.Sau đó công chúa đi vào Thanh Hóa, đến miền Sòng Sơn, thấy phong cảnh kỳ tú, bèn ở lại luôn đó. Ngay đêm công chúa giáng lâm, kỳ hào các làng trong vùng đều mộng thấy phải lập tức xây đền thờ công chúa, bằng không cả xứ phải chịu cảnh tàn hại. Tiếp đó, luôn trong năm ngày liền dân làng nhiều người vô cớ lăn ra chết. Người ta đành theo lời báo mộng lập đền thờ công chúa tại Sòng Sơn.Tại vùng này công chúa thường hóa làm một cô gái đẹp bán chè rong. Trai trẻ nho sĩ ai lỡ trêu ghẹo đều bị thiệt mạng. Vì thế trong khắp vùng không một ai dám cả gan tới gần đền thờ. Các hung thần ác quỷ kéo nhau đến làm thuộc hạ rồi thi nhau quấy nhiễu dân chúng. Ban ngày người ta nghe tiếng chiêng tiếng trống, ban đêm tiếng đàn tiếng hát vang lừng. Âm dương lẫn lộn, quỷ với người trà trộn .Trước tình cảnh này, các quan dâng sớ về Triều, nhà vua bèn sai các thầy pháp cao tay đến trừ khử. Song tất cả thầy pháp, chưa đi đến nơi cũng đã đều bị hạ. Triều đình cũng đành bó tay không có cách nào khác đối phó. Từ đó công chúa Liễu Hạnh càng lộng hành: treo ngược ông tiên chỉ lên cành cây bỏ đói đến chết, quẳng cả tượng hình Thành Hoàng xuống giếng. Khắp nơi, đêm ngày hễ nghe thấy tiếng động đáng ngờ là người người vội tránh xa, khép chặt cửa không dám hó hé nửa lời
Hồi bấy giờ, vua Lê, có chúa Trịnh theo hầu, ngự giá về thăm quê tổ tại Lam Sơn, Thanh Hóa. Tùy tùng cùng ông hoàng bà chúa, thể nữ cung tần theo xa giá rất đông. Khi xe vua tới ngang đền Sòng Sơn, công chúa Liễu Hạnh sai âm binh ra chăn đường. Các quan triều, cùng đám cung tần ai không xuống ngựa nghiêng lọng đều bị quật ngã chết giấc. Vua Lê chúa Trịnh, trước việc kỳ lạ, nổi giận nhưng cũng đành quay về kinh đô, rồi sai sứ loan truyền: bất kỳ ai trừ nổi ma quái thì cũng sẽ được ban thưởng vàng bạc chức tước. Nhiều người hưởng ứng lời sứ truyền, nhưng không ai thành công. Nhà vua than thờ: Bây giờ họa chăng có có Thượng Sư Nội Đạo tái sinh mới trừ nổi ác thần cứu nguy cho dân. Một vị cận thần tâu: Thượng Sư còn người con thứ ba, tên là Ngọc Quang, hiện đang tu luyện tại làng Từ Ninh, huyện Hằng Hóa. Vua bèn sai sứ gia mang chiếu chỉ tới mời. Ngọc Quang nhận lãnh chiếu chỉ, nhưng tỏ ý thoái thác nói rằng mình đang dốc lòng học đạo, không còn nghĩ đến truyện tranh đua, và cúi xin nhà vua chỉ định người khác.Bỗng một hôm, nhà vua năm mộng thấy hiện ra một vị thần tâu rằng: Ngọc Hoàng đã có chỉ thị cho phương sĩ phái Nội Đạo đi trừng phạt nữ quái Sòng Sơn, xin bệ hạ cho người đi triệu lần nữa. Tỉnh dậy, vua Lê sai vời chúa Trịnh đến, kể lại lời thần báo mộng. Chúa Trịnh tâu lên vua cử sứ giả vào Thanh lần thứ hai. Gặp Ngọc Quang, sứ giả tha thiết bày tỏ ý định của nhà vua: Vâng lệnh thánh chỉ, tôi vào đây mời ngài ra tay trừ hại cho dân. Nếu ngài từ chối lời vời của Hoàng Đế tức là ngài bỏ mặc dân sống chết trong tay của Nữ quái.Hôm sau Ngọc Quang cho hội họp môn đệ, thông báo lệnh hiệu triệu của nhà vua, rồi quyết định ngày lên đường ra kinh đô, cùng hai anh
Đến Thăng Long, ba anh em cùng vào cung chầu vua. Vua Lê cùng chúa Trịnh mở yến tiệc khoản đãi. rồi ban cho vàng bạc châu báu vàng lụa gấm vóc và mời ba người trổ tài. Ba anh em Ngọc Quang cùng chỉ gậy vào món đồ thưởng qúy giá, tức thì tất cả đều biến thành tro bụi, như khi thu gậy lại tất cả lại trở lại y như cũ. Sau mấy câu thần chú, triều thần bỗng thấy đồi núi trùng trùng điệp điệp hiện chuyển qua sân rồng, ròâi các món ăn mặên trên bàn tiệc biến thành món ăn chay. Vua chúa cùng lấy làm kính phục, tin chắc rằng phen này nhờ ba anh em Ngọc Quang mà nạn yêu quái hại dân sẽ tận diệt, và phong chức thượng tướng thống lãnh ba quân đi trừ yêu quái.Quân sĩ trẩy tới đèo Tam Điệp thì được lệnh hạ trại. Bóng cờ rợp trời, tiếng trống vang xa.Tuy nhiên dân chúng vẫn chưa hết lo ngại.Công chúa Liễu Hạnh nghe tin báo tự nhủ,:Ta là con gái Ngọc Hoàng, sợ gì người trần thế! Kẻ nào dám xúc phạm tới ta ta sẽ xuống tay giết hại không chút thương tiếc.Ngọc Quang cải trang làm khách qua đường, kiếm giắt sau lưng, cỡi ngựa trắng, một mình dạo đi dạo lại trước cửa đền Sòng Sơn. Công chúa Liễu Hạnh từ trên cao nhìn xuống, biết không phải người thường, trong lòng thoáng chút e ngại, bèn trở về đền, ngồi suy nghĩ, chưa vội ra tay.Ngọc Quang xuống ngựa, tuốt gươm vạch một lằn trước cửa đền, rôi dắt ngựa đến uống nước ở dòng suối thiêng. Công chúa Liễu Hạnh thấy thế bèn ra hỏi:
- Quý khách không quản ngại đường xa tới đây, ta hân hạnh đón tiếp một bậc xuất chúng, vậy xin mời người quá bộ vào trong đền
Ngọc Quang đáp : :
- Đã từng gặp nhau ở thiên đình, nay nghe công chúa sắp mắc nạn lớn, nên xin đến tiếp tay công chúa. Từ độ giáng trần, công chúa từng nhiều lần chứng tỏ quyền phép, công chúa trở tay đủ làm ma qủy thần linh kính phục, công chúa nhấc chân thì mây kéo mưa tuôn. Quả là một nữ thần quyền oai lừng danh xuất sắc. Chỉ tiếc là đôi lúc ra oai không chút nương tay, giết hại sinh linh không ít, khiến vua giận chúa tức phải vời đạo sĩ ra tay cự lại công chúa. Tôi e quả bất địch chúng, rồi lỡ xầy truyện không xứng ý vì tay người trần thì không khỏi có điều tai tiếng cho thượng giới. Cho nên tôi mới tới đây để thấy tận mắt phép thuật của công chúa, bằng như công chúa hỏi tới thì xin hết lòng phò trợ.
Công chúa Liễu Hạnh mừng rỡ đáp :
- Ta bị đầy xuống trần đã nhiều năm. Ý ta nào có muốn gây chết chóc khiến thiên hã sợ hãi đâu. Song người trần không rõ phép ta, nhà vua không vinh danh ta, khiến ta phải xuống tay tỏ rõ uy quyền. Giờ đây ta như người ngồi trên lưng cọp, như kẻ bơi giữa dòng sông, biết làm sao đây. Tai họa sắp tới, bằng đạo hữu có lòng trợ giúp, ta xin nghe theo, ơn ấy ta ghi xương khắc cốt. Biết được pháp thuật gì ta sẽ trình đạo hữu rõ, thiếu xót điều chi xin nhờ đạo hữu chỉ dẫn.
Nói rồi công chúa Liễu Hạnh vòng tay trổ các phép thần. Ngọc Quang lấy ra một vuông vải điều phủ lên hai tay của mình, ngầm thu hết phép của công chúa. Công chúa Liễu Hạnh thực lòng không ngờ, trổ tài xong, lên tiếng hỏi Ngọc Quang
- Đạo hữu xem với phép thuật ấy, liệu đủ chống lại thiên hạ không?
Ngọc Quang đáp:
- Phép thuật công chúa thật quả khôn lường! Tôi chưa từng thấy ai có pháp thuật tinh diệu đến mức ấy. Trên thế gian này quả không còn ai theo kịp nổi.
Công chúa Liễu Hạnh sai bày tiệc khoản đãi Ngọc Quang; lại gọi thể nữ ra múa hát giúp vui. Ngọc Quanh ngoảnh mặt nhìn đi, rồi vội vã đứng dậy cáo từ. Công chúa Liễu Hạnh, bỗng giật mình, đập tay xuống bán, đùng đùng nổi giận thét lên
- Ta bị gạt rồi.
Lập tức công chúa Liễu Hạnh ra lệnh cho triệu đủ mặt thần Sông thần Núi ở khắp ba cõi thế gian gấp về tề tựu chờ lệnh. Thế là sông núi thay hình đổi dạng, gió thúc ầm ầm, sông nước dâng cao.Nhật Quan và Nguyệt Quang đứng trên núi cao, thấy vậy cả cười. Ngọc Quang về tới trại, liền ban lệnh cho các thiên tướng đôn đốc quân sĩ, sắp thành hàng ngũ để ra trận. Bát Bộ Kim Cương chỉ huy cánh quân tiền đạo. Hắc hồ thống lĩnh tả quân, Bạch Xà chỉ huy hữu quân. Toán trung phong do các thần Lục Đinh Lục Giáp điều động. Mười hai vị thiên tướng theo sau hậu tập. Ba phát súng lệnh nổ vang, đại quân theo cờ tiến lên, vây chăt đền Sòng Sơn của công chúa Liễu Hạnh.Luôn trong ba ngày liền gió lớn không ngừng, mưa tuôn xối xả. Trên rứng cây cối trốc gốc. Dưới sông dưói biển sóng cuộn ngập trời. Trong làng trong xóm nhà cửa bị gió cuốn bay, Súc vật xổ chuồng tán loạn, người ngưòi hoảng sợ tìm chỗ ẩn núp. Sinh linh chết hại không sao kể xiết. Máu đỏ chẩy ngập sông hồ.Hàng quân tiền đạo của công chúa Liễu Hạnh tan vỡ. Các hung thấn ác quỷ chỉ huy bỏ trốn vào rừng sâu. Công chúa Liễu Hạnh và đám tùy tùng phải rút vào trong đền
Sáng ngày hôm sau, Ngọc Quang ngồi trên bành voi trắng chín ngà, cùng các thiên tưóng tiến lên áp công, dùng lưới sắt vây kín khu đền. Hai tiên nữ Quỳnh Hoa và Quế Hoa, hầu cận công chúa vượt vòng vây trốn thoát. Ba anh em Ngọc Quang ra lệnh thiêu hủy tất cả các đền miếu thờ công chúa Liễu Hạnh trên khắp nơi trong nước. Lửa cháy mười ngày mới tắt...Không còn biết trông cậy vào ai khác, công chúa Liễu Hạnh ngẩng nhìn trời rớt nước mắt. Tiếng chiêng tiếng trống thúc quân mỗi phút một gần. Công chúa Liễu Hạnh cải trang thành một nam tử vượt qua vòng vây chạy trốn. Quân lính đuổi theo. Kiệt sức công chúa Liễu Hạnh hoá thân thành một con rồng trốn xuống lòng giếng sâu.Ngọc Quang cho giăng lưới bít mọi lối thoát, rồi dùng móc đồng bắt được công chúa giải vèâ kinh đô. Ba anh em Ngọc Quang thân dẫn công chúa vào sân rồng. Đức Phật Nam Hải Quán Thế Âm thấy tình thế nguy ngập của công chúa Liễu Hạnh, bèn cỡi mây xuống cứu. Ba anh em Ngọc Quang thấy mây năm sắc trên trời vội vàng cúi chào. Từ trên xe mây, Đức Phật Nam Hải Quán Âm nhắn nhủ:
- Công chúa Liễu Hạnh vốn là con gái Ngọc Hoàng, lỗi lầm dầu nặng, nhưng vẫn còn phương hối cải, vậy lần này các ngươi hãy thả công chúa để công chúa theo ta tu tâm sửa tính để cải tà quy chánh
Công chúa Liễu Hạnh, tay chỉ Ngọc Quang mà tâu với Đức Quán Âm .
- Con chót lỡ lầm, từng có ý sám hối, nhưng người kia không chút động từ tâm, chứ con đâu dám ngang nhiên chống đối. Xin đức Phật Nam Hải Quán Âm đoái thương cứu con thoát khỏi vực sâu
Ngọc Quang nói:
- Công chúa quyết tâm như vậy, xin phát nguyện và xin Đức Quán Âm chứng giám.
Công chúa Liễu Hạnh tạ từ
- Ta xin cảm tạ người, Lầm lỗi chỉ một lần, từ nay ta sẽ náu mình nơi cửa thiền mà noi theo chánh đạo.
Ngọc Quang truyền dâng công chúa một tấm áo cà sa. Công chúa theo xe mây Đức Phật Quán Âm khuất dạng.
Ghi Chú:Phần truyện trên là huyền tích về Công Chúa Liễu Hạnh truyền miệng trong giáo chúng theo phái Nội Đạo.

                                                                         Còn tiếp...

Thứ Hai, 20 tháng 5, 2013

SƠ LƯỢC VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU VÀ TAM,TỨ PHỦ - PHẦN I



1: TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU VÀ TAM,TỨ PHỦ:Đã từ lâu tâm linh, tín ngưỡng đã đóng vai trò rất quan trọng đối với người dân Việt.Trong đó tín ngưỡng thờ Mẫu là tập tục phổ biến và có từ lâu đời. Đó là tập tục thờ các vị nữ thần có từ thời nguyên thuỷ với các nữ thần đại diện cho thiên nhiên như Mẹ Đất, Mẹ Nước, Mẹ Lúa… đến các vị nữ anh hùng , các vị Công Chúa, Hoàng Hậu, hay bà Tổ cô của dòng họ, bà Tổ nghề của một làng nghề… trong dân gian.Các vị nữ thần thường được nhân gian suy tôn là Thánh Mẫu .Đó vừa là vị thần có quyền năng màu nhiệm vừa là người mẹ bao dung che chở cho đàn con thơ, vừa huyền bí lại vừa gần gũi.

Trong tín ngưỡng thờ tam, tứ phủ thì Thánh Mẫu được tôn thờ là vị thần chủ quyền năng cai quản toàn vũ trụ.Theo quan điểm đó vũ trụ được chia ra làm ba miền (ứng với tam phủ) hoặc bốn miền (ứng với tứ phủ).Tam phủ gồm có thiên (trời) ,địa (đất) , thuỷ (nước).Tứ phủ thì có thêm 1 miền nữa đó là nhạc (núi rừng).Tương ứng với đó là bốn vị Thánh Mẫu :

1.Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên ,Cửu Trùng Thanh Vân Công Chúa


2.Mẫu Đệ Nhị Địa Tiên, Liễu Hạnh Công Chúa


3.Mẫu Đệ Tam Thuỷ Cung, Xích Lân Công Chúa


4.Mẫu Đệ Tứ Nhạc Tiên, Sơn Lâm Công Chúa

Sự sắp xếp theo thứ tự trên của các phủ ( Thiên, Địa, Thuỷ, Nhạc) có lẽ theo lịch sử xuất hiện của tam, tứ phủ.Theo quan điểm đó thì tam phủ có truớc và tứ phủ có sau với sự ra đời của nhạc phủ.Trong các khoa cúng và các bản chầu văn ngày nay hầu như đều ghi thứ tự tứ phủ là Thiên, Địa, Thuỷ, Nhạc.Song song với đó quan niệm tứ phủ với một trật tự khác cũng rất phổ biến đó là Thiên ,Nhạc ,Thuỷ , Địa với danh hiệu của bốn phủ như:

1.Đệ Nhất Thượng Thiên


2.Đệ Nhị Thượng Ngàn


3.Đệ Tam Thoải Phủ


4.Đệ Tứ Khâm Sai (Đệ Tứ Địa Phủ)

Quan điểm này ngày nay rất phổ biến và nhiều người không còn biết đến sự sắp xếp trật tự tứ phủ như xưa kia nữa.Quan niệm thứ tự của tứ phủ như vậy cũng rất hợp lý theo mặt không gian từ cao xuống thấp.Cao nhất là tầng trời (Thiên); sau đó đến vùng cao nguyên rừng núi ( Nhạc); sau đến vùng đại dương sông nước (Thuỷ hay còn đọc chệch là thoải),rồi mới đến vùng địa phủ.Tứ Phủ được đặc trưng bởi bốn màu :Màu đỏ (thiên phủ); Màu xanh (nhạc phủ) ; Màu trắng (thoải phủ) ; Màu vàng (địa phủ)Tín ngưỡng tam tứ phủ dưới ảnh hưởng của đạo giáo (Trung Hoa) gồm có rất nhiều vị thần như Vua Đế Thích, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Thập Điện Minh Vương, Bát Hải Long Vương….Các vị thần được nhắc đến khá đầy đủ trong bản văn Công Đồng.Tuy nhiên với tín ngưỡng bản địa thờ các vị thần nước Nam thì các vị thần của đạo giáo cũng khá mờ nhạt, đa số người ta chỉ biết tới Ngọc Hoàng Thượng Đế (Vua Cha Ngọc Hoàng) và Bát Hải Long Vương (Vua Cha Động Đình).Còn lại các vị thánh đa số là các vị thần bản địa và được chia làm các hàng bậc rõ rệt như sau:

-Cao nhất Tam Toà Thánh Mẫu ( Nội dung chi tiết được trình bày ở phần sau)


-Hàng Quan Lớn


-Hàng Thánh Chầu (Chầu Bà )


-Hàng Thánh Hoàng (Ông Hoàng)


-Hàng Thánh Cô (Tiên Cô)


-Hàng Thánh Cậu (Cậu Hoàng)


Mặt khác tín ngưỡng thờ Mẫu Tam, Tứ Phủ còn chịu ảnh hưởng của Phật giáo, đa số các chùa miền Bắc đều có thờ Mẫu với quan điểm “tiền Phật, hậu Mẫu” .Ngoài ra tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ Phủ còn kết hợp thờ với các tín ngưỡng dân gian khác như tín ngưỡng thờ Trần Triều, thờ các vị thần địa phương (Chủ yếu là nữ thần), thờ ngũ hổ, thanh xà bạch xà,thổ công,thần núi, ….

Nói đến tứ phủ (cũng như tam phủ) là nói đến toàn vũ trụ.Vì thế khi nói Tứ Phủ Thánh Chầu,Tứ Phủ Thánh Hoàng….người ta liên tưởng tới toàn bộ chư thánh Chầu,Thánh Hoàng…chứ không phải đích danh chỉ một vài vị.Tam Phủ Công Đồng, Tứ Phủ Vạn linh muốn nói đến toàn bộ chư thần, với sự linh diệu của tín ngưỡng thờ Mẫu

Như vậy tín ngưỡng thờ Tam, Tứ Phủ có một quan niệm rất bao quát, không chỉ thờ cố định số lượng các vị thần mà là tôn thờ toàn vũ trụ.Và tất cả cũng có khi đơn giản gần gũi đó chỉ là một vị thần ,đó là Thánh Mẫu.Thánh Mẫu là

người mẹ luôn che chở dạy dỗ, thương yêu muôn loài.Tuỳ vào căn duyên mà biến hiện ,hóa thân phù đời giúp nước.Vì thế khi đặt câu hỏi có bao nhiêu vị Thánh Mẫu thì chúng ta có thể trả lời có muôn vàn vị Thánh Mẫu, nhưng cũng có thể trả lời là chỉ có một vị Thánh Mẫu duy nhất ,đó chính là điều kỳ diệu của tâm linh, như năm chữ : vạn pháp duy tâm tạo vậy





Tam Toà Thánh Mẫu
Như đã trình bày ở trên tứ phủ có bốn vị thánh Mẫu
- Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên ,Cửu Trùng Thanh Vân Công Chúa
- Mẫu Đệ Nhị Địa Tiên, Liễu Hạnh Công Chúa
- Mẫu Đệ Tam Thuỷ Cung, Xích Lân Công Chúa
- Mẫu Đệ Tứ Nhạc Tiên, Sơn Lâm Công Chúa
Bốn vị Thánh Mẫu cai quản tam tứ phủ nhưng Tam Toà Thánh Mẫu lại chỉ có ba vị, vậy ba vị đó là những vị nào.Đó là điều mà chúng ta cần xem xét với các quan điểm khác nhau:
1.Quan điểm thứ nhất:
Cửu trùng Thanh Vân Công Chúa được thờ riêng ngoài trời với danh hiệu Mẫu Bán Thiên còn Tam Tòa Thánh Mẫu gồm ba vị :
- Mẫu Liễu Hạnh vừa là thiên thần vừa là nhân thần thông tri tam giới quản cai tiên cung , ngôi Đệ Nhất Thiên Tiên
- Sơn Lâm Công Chúa – Lê Mại Đại Vương quản trưởng sơn trang, ngôi Đệ Nhị Thượng Ngàn
- Xích Lân Công Chúa quản cai thuỷ cung Ngôi Đệ Tam
Đó là quan điểm phổ biến nhất trong việc thờ tự hiện nay Tam Toà Thánh Mẫu với ba ngôi vị được xếp theo thứ tự thiên nhạc thoải (Từ trên cao xuống thấp về mặt không gian)
2.Quan điểm thứ hai:
Tam toà Thánh Mẫu gồm ba vị :
- Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên ,Cửu Trùng Thanh Vân Công Chúa
- Mẫu Đệ Nhị Địa Tiên, Liễu Hạnh Công Chúa
- Mẫu Đệ Tam Thuỷ Cung, Xích Lân Công Chúa
Mẫu Đệ Tứ Lê Mại Đại Vương được thờ riêng ở cung Sơn Trang đó cũng là quan điểm khá phổ biến, nhất là trong khi hát văn thỉnh Tam Toà Thánh Mẫu trong nghi lễ hầu bóng.




3.Quan điểm khác
Ngoài quan niệm tam toà là ba trong bốn vị Mẫu kể trên thì còn có quan niệm khác bao quát hơn.Đó là tam toà Thánh Mẫu chính là cả bốn vị Mẫu.Bởi lẽ, xét về tâm linh thì bốn vị Mẫu chính là đại diện cho một vị Thánh Mẫu duy nhất đó là người mẹ của tâm linh.Tam toà không chỉ nói về số lượng ,số đếm thông thường mà còn nói về sự bao quát, đầy đủ mà người xưa đã xây dựng.Số ba có thể nói là một số thiêng chúng ta thấy có Tam giới (Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới), Tam thời (Quá khứ, Hiện tại, Tương lai), Tam vô lậu học (Giới, Định, Tuệ)…Ngoài ra thì người phương đông cũng thường dùng số lẻ mà không dùng số chẵn.Với quan niệm số lẻ là sự cân bằng âm dương (số lẻ là tổng của số lẻ và số chẵn)…

Xét về mặt lịch sử có lẽ tam toà Thánh Mẫu xuất phát từ tục thờ tam phủ ứng với ba vị Mẫu Thiên Địa Thoải, mặc dù tín ngưỡng sau này đổi thành tứ phủ nhưng tam toà Thánh Mẫu vẫn không đổi.Đó là biểu tượng của tam thân Thánh Mẫu, là biểu tượng của quyền năng thâu tóm toàn vũ trụ ,mà cũng có thể đơn giản đó là biểu tượng của người mẹ bất diệt trong lòng người dân Việt Nam
Ngẫm câu sinh ký tử quy
Chữ sinh kia có ra chi mới là
Sinh cứu được muôn nhà hạnh phúc
Tiếng thơm bay khắp cả nơi nơi
Sắc thân tuy đã qua đời
Tử mà bất tử muôn người ca vang
Pháp thân tựa hào quang sáng tỏ
Soi loài người soi cả càn khôn
Anh linh thác vẫn như còn
Ngàn năm bất tử cháu con tiên rồng
(Trích văn Mẫu Địa Tiên – Giáng Tiên Kỳ Lục)



MẪU ĐỆ NHẤT THIÊN TIÊN- THANH VÂN CÔNG CHÚA
Trong một khoa cúng Thánh Mẫu có đoạn cung thỉnh Mẫu
Cung thỉnh đệ nhất thiên tiên cửu trùng thiên thanh công chúa,
Lục Cung Vương Mẫu Công Chúa Ngọc Bệ Hạ
Trong bản văn Công Đồng có đoạn
Cửu Trùng Thánh Mẫu thiên đình
Bán Thiên Công Chúa quế quỳnh đôi bên
Hội bạn tiên khăn điều áo thắm
Chốn Quảng Hàn cung cấm vào ra
Hay trong văn Cửu Trùng Thánh Mẫu có đoạn
Lưng ong tóc phượng rà rà
Áo xông hương xạ hài hoa chân giày
Cửu trùng ngự chin tầng mây
Quản cai các bộ tiên nay thượng đình
Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên còn có các danh hiệu khác như Mẫu Thượng Thiên, Thiên Thanh Công Chúa, Thanh Vân Công Chúa, Cửu Trùng Thánh Mẫu (Mẫu Cửu), Lục Cung Vương Mẫu,Mão Dậu Công Chúa….,.Nhiều ý kiến cho rằng Cửu Trùng Thánh Mẫu được đồng nhất với Cửu Thiên Huyền Nữ (bên Trung Hoa).Cửu Thiên Huyền Nữ bên Trung Hoa được xây dựng với một hình tượng nữ thần Linh thiêng với các sự tích kì bí.Còn trong tâm linh người Việt, đơn giản Mẫu Cửu Trùng Thanh Vân là vị Thánh Mẫu ngự nơi chín tầng mây,là vị nữ thần quyền hành cai quản tiên cung, cai quản lục cung sáu viện (Lục Cung Vương Mẫu).Ngoài ra Mẫu Cửu Trùng Thanh Vân còn có danh hiệu khác là Bán Thiên Công Chúa (Mẫu Bán Thiên).Hầu hết các đền phủ hay những điện thờ tại gia đều có ban thờ Mẫu Bán Thiên ngoài trời.

                                                                                              Còn tiếp...

Thứ Bảy, 15 tháng 12, 2012

TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU VÀ TAM,TỨ PHỦ -3


6.GIỚI THIỆU CÁC VỊ THÁNH QUA MỘT SỐ BỨC TRANH THỜ
*Tranh Tứ Phủ Công Đồng




Tứ phủ công đồng là bức tranh thờ chung tất cả các vị thánh tứ phủ ( công: chung, đồng là cùng).Tranh vẽ các vị thánh đại diện cho các hàng bậc như sau:
- Trên cùng là đức quán thế âm bồ tát, ngài đại diện cho Tam bảo : Phật, Pháp, Tăng trong đạo Phật. Theo huyền tích lưu lại thì Vân Hương Thánh Mẫu ( Mẫu Liễu Hạnh) quy y tam bảo và là đệ tử của đức Phật sau này ngài nên chính quả được tương truyền là Mã Hoàng Bồ Tát. Trong các đền thờ có thể thờ phật mẫu chuẩn đề, Phật Thích Ca, hay tam thế Phật.. làm đại diện
- Hàng thứ hai :  là Đức Ngọc Hoàng thượng đế ( ngồi giữa), hai bên là hai quan hầu cận ( thường là quan nam tào, bắc đẩu) .Có nhiều nơi thờ tam phủ ba vua (ba vị vua cha) là ba vị vua ứng với tam phủ thiên ,địa ,thoải là ngọc hoàng thượng đế ( thiên phủ), Diêm vương ( địa phủ), bát hải long vương( thoải phủ) , thông thường trong tam vị vua cha thì vua cha ngọc hoàng và vua bát hải là có ghi chú thích danh hiệu còn vị vua thứ ba thường để trống và không có chú thích gì, Theo phúc yên thì vị này có thể coi là địa phủ thần vương ( diêm vương) hay nhạc phủ thần vương ( nhạc phủ) đều được. Nhiều người cho rằng các vị vua này là xuất phát từ đạo giáo bên Trung Hoa ( có người còn cho rằng tam vị vua thờ là tam thanh: thái thanh, thượng thanh, ngọc thanh) nhưng rõ ràng Tam vị Vua Cha là các vị thần ứng với tín ngưỡng thờ tam phủ, tứ phủ và đã được Việt hóa khá nhiều. Vua Động Đình Hồ Bát Hải Long Vương được thờ ở đền Đồng Bằng Thái Bình, Vua cha Ngọc Hoàng được dân gian gọi với tên dân dà là ông trời ( ông giời)....Các vị Vua cha tuy có thứ bậc cao hơn Thánh Mẫu nhưng lại không có sức ảnh hưởng và ngôi vị thực sự trong tâm linh người Việt. 
Hàng thứ ba :  là tam tòa Thánh Mẫu: Mẫu Đệ Nhất (áo đỏ), Mẫu Đệ Nhị (áo xanh), Mẫu Đệ Tam (áo trắng).
Hàng thứ tư :  là ngũ vị tôn quan : Quan Đệ Nhất ( áo đỏ), Quan Đệ Nhị ( áo xanh), Quan Đệ Tam ( áo Trắng), Quan Đệ Tứ (áo vàng), Quan Đệ Ngũ (áo xanh da trời đậm)
Hàng thứ năm :  là tứ phủ thánh Chầu với các vị đại diện là Chầu Đệ Nhất ( áo đỏ), Chầu Đệ Nhị ( áo xanh), Chầu Đệ Tam ( áo trắng), Chầu Đệ Tứ (áo vàng), Chầu Lục (  phía ngoài cùng bên phải), Chầu Bé ( phía ngoài cùng bên trái)
Hàng thứ sáu:  là tứ phủ thánh hoàng với đại diện là ông Hoàng Cả ( áo đỏ), Hoàng Bơ ( áo trắng), Hoàng Bảy ( áo xanh lam đậm). Hoàng Mười ( áo vàng)
Hàng thứ bảy :  là tứ phủ thánh cô ( bên trái) và tứ phủ thánh cậu ( bên phải).        + Phía bên trái có các vị đại diện là Cô Bơ ( áo trắng), Cô Tư ( áo vàng), Cô Chín (áo hồng) và Cô Bé Thượng Ngàn ( áo chàm xanh). 
+ Phía bên phải có các vị đại diện là Cậu Cả ( áo đỏ), Cậu Bơ ( áo trắng), Cậu Tư ( áo vàng), và Cậu Bé ( áo xanh)

Qua bức tranh ta thấy các vị thánh đại diện ở mỗi hàng đều tương ứng với tứ phủ (một cách tương đối) :
Thiên phủ ( màu đỏ hoặc hồng)
Nhạc Phủ ( màu xanh lá cây, xanh chàm..)
Thoải Phủ ( màu trắng)
Địa Phủ ( màu vàng)

Tín ngưỡng thờ Mẫu , tam, tứ phủ là tín ngưỡng tôn thờ toàn vũ trụ ( thiên địa thủy nhạc) có thờ cả nam thần-nữ thần;    thiên thần- nhân thần  ; Các vị hiển tích ở miền xuôi cũng như miền ngược..... Cao hơn hết là Thánh Mẫu , người mẹ của tâm linh luôn có lòng bao dung độ lượng thương xót chúng sinh. Cửa Mẫu luôn rộng mở để chờ đón chúng ta, những khi vui hãy tìm đến Mẹ, lúc ta buồn hãy mở lòng tâm sự với Mẹ, Lúc khốn khó lại tìm đến mẹ để cầu xin mẹ che chở giúp đỡ chúng ta. Hãy an tâm trong cuộc sống bởi ta đã có mẹ, luôn có mẹ và mãi mãi có Mẹ. Mẹ là tất cả:

Mỗi người mỗi nước mỗi non
Đã về cửa mẹ như con một nhà...


*Tranh Tam Phủ Công Đồng
Tranh thờ tam phủ 
Trong bức tranh:
- phía trên cùng là Quán Âm Bồ Tát ( dân gian hay gọi là Phật Bà Quán Âm), hai bên có kim đồng ngọc nữ hầu cận
- hàng thứ hai là tam phủ ba vua ( tam vị đức vua, ba vị vua cha..) gồm
  + Thiên Phủ Thần Vương ( áo đỏ)
  + Nhạc Phủ Thần Vương  ( áo xanh)
  + Thoải phủ long vương ( áo trắng)
      và hai vị quan hầu cận
- hàng thứ ba là tam tòa Thánh Mẫu:
  + Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên ( áo đỏ)
  + Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn ( áo xanh)
  + Mẫu Đệ Tam Thoải Cung ( áo trắng)

Tam phủ gồm ba phủ ( thượng thiên- thượng ngàn -thoải phủ).
*Một số bức tranh thờ khác


Tranh tứ phủ công đồng


 Tranh Ngọc Hoàng và các vị thần  theo đạo giáo Trung Hoa


BA VỊ TAM THANH


Thánh Hoàng cuỡi tam đầu cửu vĩ    




 Chầu Lục và các cô hầu cận




 Chầu Bé ( Đền Bắc Lệ)  


Cô Bơ Thoải

Sưu tầm từ:http://hatvan.tk/