Translate

Thứ Bảy, 10 tháng 8, 2013

PHÁP KHÍ CỦA MẬT TÔNG

Pháp khí là những dụng cụ dùng để thực hành các loại pháp sự, để dân cúng lên chư Phật hoặc các đạo tràng nghiêm trang, hoặc làm dụng cụ trợ ích trong tu chứng Phật pháp. Pháp khí của Phật giáo Tây Tạng đại khái có thể chia làm sáu loại lớn là kính lễ, tán tụng, cúng dường, trì nghiệm, hộ thân và khuyến giáo.

    Pháp khí hay còn gọi là Phật khí, là dụng cụ trong tu chứng Phật pháp,  giúp người tu hành thực hiện các nghi thức Phật giáo và sinh hoạt Phật pháp. Những dụng cụ được sử dụng trong các Phật sự như tu pháp, cúng dường, pháp hội, hay những vật dụng mà giáo đồ Phật giáo thường mang theo người như tràng hạt, tích trượng, đều được gọi là pháp khí .
  
    Phật giáo Tây Tạng sở hữu một lượng pháp khí phong phú, được làm từ nhiều vật liệu khác nhau, chủ yếu đúc bằng vàng, bạc, đồng, tạo hình sâu sắc, mỗi loại pháp khí mang một hàm nghĩa tôn giáo khác nhau, mang đậm màu sắc thần bí. Về cơ bản pháp khí có thể chia làm sáu loại lớn là kính lễ, tán tụng, cúng dường, trì nghiệm, hộ thân, khuyến giáo. Như cà sa, vòng cổ, kha-ta là pháp khí kính lễ; chuông, trống, sáo xương, vỏ ốc, đàn lục huyền, kèn thuộc loại pháp khí tán tụng; tháp, đàn thành, bát bảo, thất bảo, đàn cúng, lọng hoa thuộc loại pháp khí cúng dường; Tràng hạt, mõ, chùy kim cương, bình quán đỉnh, bát sọ người thuộc loại pháp khí trì nghiệm; Phật hộ pháp, bùa bí mật là pháp khí  hộ thân; đèn mani, bánh xe mani, đá có khắc hoặc viết chân ngôn sáu chữ thuộc loại pháp khí khuyến giáo.

Chuông Chày Kim Cang

alt
Chuông Chày Kim Cang
Chày và chuông cũng là những pháp khí không thể thiếu trong các pháp đàn, các nghi quỹ tu trì của Mật Tông. Chày và chuông thường được làm bằng bạc hoặc đồng. Vì do những rung động của những phân tử kim loại này có ảnh hưởng tốt tới khí mạch trong cơ thể con người.
Chuông: tượng trưng cho phương tiện.
Chày: tượng trưng cho trí tuệ.
Dao Phurba (Kilaya)


alt
Dao Phurba (Kilaya)
Kila hay Kilaya là một con dao găm có dạng tam giác, là đại diện cho thực tế tận cùng của ba cánh cửa giải thoát - tính trống rỗng, sự độc nhất, vô sở cầu - là sự đồng nhất của Tam Thân Phật, các năng lực này được huy động hết tất cả vào tại một điểm để chiến thắng tất cả mọi tội lỗi và chuyển hoá nó thành tốt lành.
Vajrakilaya, hay kila, có nghĩa là một thứ gì đó sắc nhọn, một thứ dùng để đâm, chọc xuyên qua các thứ khác, đại loại như là một con dao găm. Một con dao găm mà nó quá bén đến mức có thể đâm xuyên mọi thứ, trong khi không thể có cái gì đâm xuyên qua được. Sự sắc bén và năng lượng xuyên thủng mọi thứ này là những gì được sử dụng trong thực hành và là phương pháp quan trọng nhất trong những phương tiện vô lượng không thể tính đếm của Kim Cang Thừa.
Dao phurba và hành giả thực hành pháp này ở đâu thì nơi đó sẽ được an bình, tránh được các não hại, ma chướng. Sự thực hành các pháp bí mật lại sớm được thành tựu do oai lực bất khả tư nghì của pháp khí + đàn pháp này.
Tương truyền ngài Liên Hoa Sanh (Guru Rinpoche) cũng đã từng thực hành đàn pháp kilaya với pháp khí này để thành tựu
Vajrakilaya là một trong những bổn tôn phổ biến nhất được biến đến khi dùng để tiêu diệt những chướng ngại. Guru Rinpoche đã đạt được giác ngộ thông qua sự thực hành Yangdag Heruka, tuy nhiên trước đó ngài đã phải thực hành Vajrakilaya để dẹp, cũng như làm sạch những chướng ngại, và sau đó, thông qua đó, ngài thực hiện những phần còn lại và đạt được những gì ngài mong muốn. Do vậy, Vajrakilaya được biết đến thông qua sự dọn sạch những chướng ngại.
Vajrakilaya được biết đến như là những hiện thân của tất cả mọi hoạt động của chư Phật. Khi nói đến Vajrakilaya, thì chúng ta còn được biết đến ngài như là một hoá thân phẫn nộ của Vajrasattva (Kim Cang Tát Đoả) 

Trống Damaru

alt
Trống Damaru
Trống Damaru là loại trống hai mặt từ Ấn Độ và Tây Tạng. Trống thường được làm từ gỗ, với mặt trống làm bằng da. Đôi khi trống có thể được làm từ xương sọ. Có nhiều loại trống có cái nhỏ khoảng chừng gần 10 cm cho đến cái lớn có thể tới 30cm. Sử dụng trống damaru bằng một tay. Lắc trống bằng cử động của cổ tay. Trống Damaru được dùng trong các nghi thức của Phật Giáo Tây Tạng, đặc biệt là với sự thực hành Chod.
Trống Damaru rất nổi tiếng trong Ấn Độ. Nó liên quan tới thần Shiva ở dạng Nataraja đang trình diễn điệu vũ của tanvada. Âm thanh của damaru đại diện cho âm thanh và nhịp điệu nguyên thủy. 

alt
Cờ Tây Tạng
Cờ Tây Tạng
Những là cờ nguyện cầu bay phấp phới trong gió có thể được tìm thấy cùng với những cọc đá mani bảo trên mái nhà, dọc đường núi, băng qua sông và những nơi linh thiêng khác
Cờ cầu nguyện thường được làm bằng vải hình vuông bằng các màu màu trắng, xanh dương, vàng, xanh lá và đỏ. Cờ được trang hoàng bởi những hình ảnh, thần chú và các lời cầu nguyện. Thông thường tại tâm của lá cờ cầu nguyện này, đó là hình ảnh của con ngựa gió là đại diện cho Tam Bảo của Phật Giáo. Ở bốn góc của lá cờ là những linh thú như là Garuda (Kim Xí Điểu), Rồng, Cọp và Sư Tử Tuyết đó là bốn linh thú đại diện cho bốn quyền năng: Trí tuệ, quyền năng, sự tự tin và vô úy
Thỉnh thoảng ta có thể thấy các biểu tượng cát tường của Phật Giáo ở các góc cạnh của lá cờ. Các khoảng trống ở giữa được in vào các hình ảnh, lời cầu nguyện và thần chú . Có 2 loại cờ cầu nguyện, loại ngang được gọi là Lungta và loại dọc được gọi là Darchor. 
Cờ ngang thì hình vuông và được nối với nhau tại cạnh đỉnh trên cùng bằng sợi dây dài. Cái ít phổ biến hơn là cờ dọc thì thường là những lá cờ vuông riêng biệt hoặc nhóm những lá cờ vuông được thêu trên cọc được trồng ở mặt đất hay trên mái nhà.
Người Tây Tạng tin rằng các lời nguyện cầu và thần chú sẽ được thổi tới các cung trời như là những phẩm vật cúng dường tới các hộ thần của họ và đem lại thật nhiều lợi lạc cho những ai treo cờ, cho hàng xóm của họ, và cho tất cả chúng sinh, thậm chí là các loài chim bay trên trời. 
Tuy nhiên, nếu cờ được treo sai ngày, chúng sẽ chỉ đem lại những kết quả tiêu cực. Và càng được treo lâu bao nhiêu, thì chướng ngại được sinh ra sẽ lớn hơn. Cờ cũ được thay bởi cờ mới thường niên vào Tết của Tây Tạng.
Vật khí dùng cúng dường Mandala

alt
Vật khí dùng cúng dường Mandala
Trong tu học Mật Tông, thì tích lũy hai bồ tư lương phước trí là việc cực kì trọng yếu. Chính sự tích tập cùng lúc 2 thứ này trong pháp tu là sự khác biệt chính yếu làm cho Mật Tông trở thành pháp tu mà mọi người hay gọi nôm na là “tu tắt” – do sức nhanh chóng trong việc tích tập đầy đủ hai tư lương này.
Nói về phương pháp tích tập phước đức, thì trong Mật Tông có rất nhiều pháp. Nhưng trong các pháp, pháp đơn giản và đem lại lợi lạc nhiều nhất có thể nói đến pháp cúng dường Mandala. Pháp cúng dường Mandala được đề cập nhiều trong pháp tu ngondro dự bị trong tất cả mọi dòng truyền thừa của Mật Tông Tây Tạng.
Pháp cúng dường Mandala khi thực hiện thì dùng đồ cúng dường mandala. Vừa cất lời tụng, tay vừa rãi các hạt gạo, cát, hoặc đá quý….lên từng vòng, theo thứ lớp để tạo thành mandala. Ở đây sự cúng dường này không chỉ mang ý nghĩa là chỉ cúng dường gạo, cát hoặc đá quý…mà là sự dâng hiến lên cho Bổn Sư, cho dòng truyền thừa, cho Tam Bảo tất cả những thứ tốt đẹp nhất mà mình sở hữu. 
Ngoài phước báu lợi lạc do sự cúng dường này, thực cúng dường mandala còn là một phương pháp tuyệt vời để cắt bỏ tâm chấp trước, chấp ngã….

alt
Kèn ốc loa
Kèn ốc loa
Kèn ốc loa thường được làm bằng vỏ ốc. Âm thanh được tạo ra của kèn ốc loa khi thổi vào tượng trưng cho âm Om là âm thanh khởi đầu của vũ trụ ( theo quan niệm của Phật Giáo và Hindu giáo). Trong kinh, kèn ốc loa còn được xem như Pháp loa là biểu tượng cho chánh pháp được lưu truyền khắp nơi do sức vang rền, chấn dộng không gian của nó. 
Theo Mật Tông Phật Giáo thì Kèn ốc loa là một trong 8 thứ quý báu để cúng dường cho Bổn Tôn (hay còn được gọi là Bát Cúng Dường - bao gồm có nước, rượu, hoa, ánh sáng - nến, trầm, nước hoa, trái cây và Kèn ốc loa). Kèn ốc loa cũng là thứ bảo vật mà ta thường thấy ở trong Bát Báu Kiết Tường mà Chakravatin ( Chuyển Luân Thánh Vương) thường hay sử dụng.
Mạn đà la Kalachakra - Kim Cang Thời Luân

alt
Một Mạn đà la ( Mandala) Kalachakra - Kim Cang Thời Luân
Biểu tượng Kalachakra (Kim Cang Thời Luân) là sự kết hợp của 10 chủng tự mật tông kết hợp với nhau. Là biểu tượng cho 10 quyền lực của Phật (thập lực). Là tinh hoa của tất cả tinh hoa.

Tương truyền rằng biểu tượng này còn là đại diện cho bàn thờ thập phương chư Phật. Nếu không có bàn thờ, nếu không có hình ảnh, tôn tượng của chư vị. Thì chỉ cần thờ hình ảnh của biểu tượng này, cũng xem như là đã có bàn thờ hướng tới thập phương chư Phật. Công năng, diệu dụng của Kalachakra thật không thể nghĩ bàn và diễn tả hết được.
Nơi nào có biểu tượng kalachakra, nơi đó sẽ không bị nạn về đất, nước, gió, lửa và được cát tường.

Trống Chod

alt
Trống Chod
 Một trong pháp môn hành trì của Mật tông nổi tiếng là Chöd để dứt trừ chấp ngã, theo đó hành giả đi vào trong nghĩa địa lúc 12 giờ đêm và xướng tụng bài kệ. Chöd trong khi bàn tay phải thì quay một cái trống lớn.
Kèn Kangling
Chiếc còi làm bằng xương xương đùi làm thoát ra âm thanh như muốn xé nát không gian .

alt
Kèn Kangling
RÌU KIM CƯƠNG

      Với hình dáng tương tự như một loại rìu dùng trong chiến đấu thời cổ đại, ngụ ý Phật pháp là không thể xâm phạm. Thể hiện sự bảo vệ đối với Phật pháp. Như tạo hình các vị Không Hành Mẫu(Dakini) đầu hổ, Không hành mẫu đầu sư tử, Đại Uy Đức Kim Cương (Vajrabhairava) trong Phật giáo Tây Tạng đều mang rìu kim cương.

      Ngoài rìu, rìu cong cũng là một loại pháp khí của Mật Tông, với vẽ ngoài tượng trưng cho chùy kim cương, nhưng phần đuôi có hình chóp nhọn. Ở chính giữa gắn vào một cán dài, pháp khí này thường thấy trong các bức họa Thang-kar, thế nhưng số liệu rùi cong trên thực tế rất ít ỏi. Rìu cong tượng trưng cho đức nhiếp triệu của Như Lai, đưa tất thảy chúng sinh vào trí tuệ Phật.

alt
RÌU KIM CƯƠNG

TRỐNG GABBRA

      Trong tiếng Phạn, gabbra có nghĩa là đầu lâu. Loại trống này được làm bằng hai nắp sọ người ghép lại với nhau,bịt bằng da khỉ, tang trống thắt lại, bên dưới có gắn cán nhỏ và dây lụa, bên tang trống buộc thêm hai cục xương nhỏ. Khi lắc trống. Hai cục xương nhỏ đập vào mặt trống phát ra âm thanh. Loại trống này thường được sử dụng trong khi tu pháp, nhằm ca ngợi công đức của chư Phật Bồ Tát, thường được sử dụng phối hợp với chuông kim cương, chùy kim cương.

MÀN KINH

      Đây là một pháp khí hết sức phổ biến tại vùng Tây Tạng, thường được đặt trên nóc nhà, chân núi, bờ sông, ven đường, chùa chiền tu viện. Bên trên có chép kinh Phật, mỗi khi gió thổi vào màn kinh cũng như tụng được một lượt kinh, truyền đạt tâm nguyện của con người đến với chư Phật Bồ Tát để cầu xin sự phù hộ.
BÁT GABBRA
Tức là bát sọ người, một đồ đựng có hình chiếc bát được làm từ bát được làm từ nắp hộp sọ người, phần lớn được chế tác từ nắp hộp sọ của cao tăng đại đức căn cứ vào di chúc của họ. Miệng bát và lòng bát được khảm bạc, bên dưới có trôn đế bằng kim loại, người Tây Tạng còn thêm nắp kim loại cho bát. Bát sọ người cũng là một pháp khí được dùng trong nghi thức quán đỉnh, thượng  sư Mật Tông đựng nước hoặc rượu trong bát, sau đó nhỏ lên đầu người thụ pháp, với ngụ ý đem lại sự gia trì.

alt

BÁT GABBRA
 

alt

KHATA

      Một vật dụng bày tỏ sự tôn kính trong Phật giáo Tây Tạng. Đây là một tấm lụa mỏng hình chữ nhật, có các màu trắng, đỏ, vàng, xanh lam, dài từ ba thước đến hơn trượng. Màu sắc và độ dài của khata có thể thay đổi tùy theo thân phận của người được nhận, địa vị càng tôn kính thì khata càng dài. Khata màu trắng là cao quý nhất, tượng trưng cho sự thuần khuyết, cao thượng

alt

THANG-KAR
 THANG-KAR

      Một loại tranh Phật được bồi trục, một trong những loại hình nghệ thuật đặc thù của Phật giáo Tây Tạng. Việc bảo quản cất trữ tranh thang-kar cần tuân theo những quy tắc nhất định, phải cuốn tranh theo chiều từ dưới lên trên, nếu làm ngượi lại sẽ làm bất kính, phỉ báng thánh thần. Thang-kar được dùng trong tu hành chủ yếu với tư cách là đối tượng quán đỉnh và chiêm bái.

http://www.nyingma.com/ogyan-cho-khor-ling/images/torma-making.jpg
Làm TORMA

http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/7/74/Torma.jpg
TORMA

Một loại đồ ăn làm bằng bột mì, bột mạch chín, dùng để cúng tế chư Phật Bồ Tát, Bản tôn, các vị thần, hoặc bố thí cho vong hồn. Cũng có khi dùng trong quán đỉnh, tượng trưng cho sự  gia trì của thần Bản tôn đối với đệ tử.

BÁNH XE MANI ( KINH LUÂN)
      Đây là một loại pháp khí được giáo đồ Phật giáo sử dụng trong tụng niệm, có hình trụ tròn, có thể quay quanh một trục ở chính giữa. Trong hình trụ này dán các tấm giấy chép kinh văn. Người cầu nguyện vừa xoay bánh xe mani vừa tụng chân ngôn sáu chữ Om mani padme hum (Án ma ni bát di hồng ), nhằm ca tụng chư Phật. Bánh xe mani cần phải xoay theo chiều đồng hồ, xoay được một vòng tượng trưng cho đọc một lượt thần chú.




alt

BÁNH XE MANI
http://images.exoticindiaart.com/ritual/khorten_tibetan_prayer_wheel_zr42.jpg
BÁNH XE MANI

http://images.dvt.vn/Images/Uploaded/Share/2011/03/23/a12b67f767565bfa33b989082f039fe2.jpg
BÁNH XE MANI đặt nơi "công cộng" cho mọi người quay để cầu nguyện

BÁNH XE MANI

http://farm5.static.flickr.com/4118/4789182158_5a145d6549.jpg
BÁNH XE MANI - vòng luân hồi miên viễn

http://farm6.static.flickr.com/5213/5384238118_37c930e257.jpg
BÁNH XE MANI

http://lh4.ggpht.com/_1z2sSfHMx8Y/SS-Ek7sZ5ZI/AAAAAAAAFVI/pBQsx_jVveU/s800/Om_Mani_Padme_Hum144313.jpg
BÁNH XE MANI

http://www.trekking4women.co.nz/images/nepalContentImages/Jomsom/100%20year%20old%20Prayer%20Wheel%20Marpha%20Annapurna%20Circuit.jpg
BÁNH XE MANI

http://thienviendaidang.net/images/news/OmManiPadmeHum2.jpg
BÁNH XE MANI
CHỦNG LOẠI VÀ CÔNG DỤNG CỦA PHÁP KHÍ

CHỦNG LOẠI PHÁP KHÍ

      Pháp khí là những vật dụng dùng trong tu chứng Phật pháp, về cơ bản có thể chia làm sáu loại, là kính lễ, tán tụng, cúng dường, trì nghiêm, hộ thân, khuyến giáo.

      Kính Lễ: Khata (kha-gtags) : dâng lụa khata dể thể hiện lòng tôn kính với chư Phật.

      Cúng dường: đèn nến : dùng của cải và vật chất và tấm lòng thanh tịnh dể cúng dường chư Phật.

      Tán Tụng: Sáo xương : dùng âm thanh dể mời gọi chư tôn, thức tỉnh chúng sinh.

      Hộ Thân: Hạt ô: mang theo Phật. Bồ Tát bên mình để hộ thân.

      Khuyến Giáo: Đá mani: dùng chân ngôn của chư Phật để khuyến giáo chúng sinh cầu phúc cho chúng sinh.

      Trì Nghiệm: Bình Quán Đỉnh: dụng cụ dùng trong tu trì, tạo phúc, trấn tà ma.
CÔNG DỤNG CỦA PHÁP KHÍ
     Trong quá trình tu luyện, người tu hành nhờ vào sự trợ giúp của pháp khí để tăng cường trí tuệ và linh cảm, nhanh chóng đạt đến chứng ngộ.  Pháp khí cũng chính là cầu nối để liên kết người tu hành cới chư Phật và chúng sinh.
Mời quí vị lắng nghe nhạc thiền
Om mani padme hum (Án ma ni bát di hồng ) 

Om mani padme hum (Án ma ni bát di hồng )


alt
Lục tự đại minh chú: Um Mani Padme Hum – Án Ma Ni Bát Di Hồng
Đức Đạt-lai Lạt-ma thuyết giảng
http://thienviendaidang.net/images/news/OmManiPadmeHum1.gif
Trì tụng minh chú Om mani padme hum [Án ma ni bát di hồng] là một việc rất tốt. Tuy vậy, khi tụng chú cần phải nhớ nghĩ đến ý nghĩa của lời chú, vì sáu âm này mang ý nghĩa thâm sâu quảng đại vô cùng. Âm thứ nhất, OM, là tổng hợp của ba mẫu tự A, U và M, tượng trưng cho thân miệng ý ô nhiễm của người tụng chú, đồng thời cũng tượng trưng cho thân miệng ý thanh tịnh của Phật đà.
Ảnh : Mặt trên của một Mani có 6 chữ là : Om mani padme hum
http://www.lieuquanhue.vn/thumbnail.php?file=om_mani_padme_hum_main_256445312.jpg&size=article_medium
Có thể nào chuyển thân miệng ý ô nhiễm thành thân miệng ý thanh tịnh được không? hay đây là hai phạm trù hoàn toàn tách biệt? Tất cả chư Phật đều là đã từng là chúng sinh, nhờ bước theo đường tu nên mới thành đấng giác ngộ; Phật Giáo không công nhận có ai ngay từ đầu đã thoát mọi ô nhiễm, mang đủ mọi tánh đức. Thân miệng ý thanh tịnh đến từ sự tách lìa trạng thái ô nhiễm, chuyển hóa ô nhiễm thành thanh tịnh. Chuyển hóa bằng cách nào? Phương pháp tu được nhắc đến qua bốn âm kế tiếp. MANI [ma ni], nghĩa là ngọc báu, tượng trương cho phương tiện, là tâm bồ đề, vì chúng sinh mà nguyện mở tâm từ bi, đạt giác ngộ. Cũng như viên ngọc quí có khả năng xóa bỏ cảnh nghèo, tâm bồ đề cũng vậy, có khả năng xóa bỏ sự bần cùng khó khăn trong cõi luân hồi và niết bàn cá nhân. Như ngọc như ý có khả năng chu toàn mọi ước nguyện của chúng sinh, tâm bồ đề cũng vậy, có khả năng chu toàn mọi ước nguyện chúng sinh.
Hai chữ PADME [bát mê], nghĩa là hoa sen, tượng trưng cho trí tuệ. Hoa sen từ bùn mọc lên nhưng lại không ô nhiễm vì bùn. Tương tự như vậy, trí tuệ có khả năng đặt người tu vào vị trí không mâu thuẫn ở những nơi mà người thiếu trí tuệ đều sẽ thấy đầy mâu thuẫn. Có nhiều loại trí tuệ, trí tuệ chứng vô thường, trí tuệ chứng nhân vô ngã (con người không tự có một cách độc lập cố định), trí tuệ chứng tánh không giữa các phạm trù đối kháng (nói cách khác, giữa chủ thể và khách thể) và trí tuệ chứng sự không có tự tánh. Mặc dù có nhiều loại trí tuệ, nhưng chính yếu vẫn là trí tuệ chứng tánh Không.
Trạng thái thanh tịnh có được là nhờ sự kết hợp thuần nhất giữa phương tiện và trí tuệ, được thể hiện qua âm cuối, HUM [hồng]. Âm này ứng vào trạng thái bất nhị, không thể phân chia. Trong hiển thừa, phương tiện và trí tuệ bất nhị có nghĩa là phương tiện ảnh hưởng trí tuệ, và trí tuệ ảnh hưởng phương tiện. Trong mật thừa, sự hợp nhất này ứng vào một niệm tâm thức trong đó phương tiện và trí tuệ đồng loạt hiện hành. Nói về chủng tự của năm vị Thiền Phật, HUM là chủng tự của Bất Động Phật [Akshobhya], sự đứng yên không gì có thể lay chuyển nổi.
Vậy Lục Tự Đại Minh Chú, Om mani padme hum, có nghĩa là dựa vào đường tu kết hợp thuần nhất phương tiện và trí tuệ mà người tu có thể chuyển hóa thân miệng ý ô nhiễm của mình thành thân miệng ý thanh tịnh của Phật. Thường nói người tu không thể tìm Phật ở bên ngoài, tất cả mọi nhân tố dẫn đến giác ngộ đều sẵn có từ bên trong. Đức Di Lạc Từ Tôn có dạy trong bộ Tối Thượng Đại Thừa Mật Luận (Uttaratantra) rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh trong tâm. Chúng ta ai cũng mang sẵn trong mình hạt giống thanh tịnh, cốt tủy của Như Lai (Tathatagarbha – Như lai tạng), đó là điều cần nuôi nấng phát triển đến mức tột cùng để bước vào địa vị Phật đà.
   Hồng Như Việt dịch
   Quang Võ biên tập
 
http://hoibongsen.com/diendan/image.php?u=10858&type=sigpic&dateline=1277634982

http://im.in.com/connect/images/profile/b_profile4/Suhasini_Mani_Ratnam_300.jpg
Forum Energy Human and Spiritual 
Diễn Đàn Nhân Điện và Tâm Linh
http://ue.vnweblogs.com
http://ue.vnweblogs.com/category/18513/39499

Thứ Hai, 5 tháng 8, 2013

BÍ MẬT CỦA MẬT TÔNG ĐẠI THỦ ẤN VÀ KINH MẠCH .

 
BÍ MẬT CỦA MẬT TÔNG ĐẠI THỦ ẤN VÀ KINH MẠCH .

Ba món báu mật của Đạo Giáo là TINH – KHÍ – THẦN ; Ba món vật quí giá của Phật Giáo Hiển Tông là PHẬT – PHÁP – TĂNG ; Ba món vật quí báu của Phật Giáo Mật Tông là KHÍ – MẠCH – MINH ĐIỂM .
Mật Tông chú trọng sự luyện tập của cá nhân về Ý và KHÍ ; Từ sự luyện tập ĐIỂM trở thành KHÍ , và từ KHÍ chuyển vận KINH MẠCH , từ đó sinh ra NỘI HỎA ( lửa bên trong ) , từ nội hỏa sản sinh ra QUANG MINH ( sự chiếu sáng ) , từ quang minh hòa nhập vào biển VŨ TRỤ QUANG , đạt đến cảnh giới của PHẬT QUẢ , đó là sự liên hệ quan trọng , giữa ĐẠI THỦ ẤN và KINH MẠCH .
KINH MẠCH là gì ? người xưa có nói : Kinh mạch giả , hành khí huyết , thông âm dương . Trong cơ thể của con người , kinh mạch là những con đường , để khí huyết lưu thông đi nuôi cơ thể .
Sự tu luyện của Đạo gia phái Côn Luân , chú trọng đến phương pháp Thông Tam Tiêu – là Thượng Tiêu , từ̉ hoành cách mô trở lên , trung tiêu là từ hoành cách mô xuống đến bụng , hạ tiêu là từ bụng xuống đến chân .
Kinh mạch được chia ra làm 12 đường kinh mạch là : 1.- Thủ thái dương phế kinh . 2.- Thủ âm minh đại trường kinh . 3.- Túc âm minh vị kinh. 4.- Túc thái dương tỳ kinh.5.- Thủ thiếu dương tâm kinh.6.- Thủ thái âm tiểu trường kinh .7.- Túc thái âm bàng quang kinh.. 8.- Túc thiếu dương thận kinh . 9.- Thủ khuyết dương tâm bào kinh.10.- Thủ thiếu âm tam tiêu kinh.11.-Túc thiếu âm đảm kinh.12.- Túc khuyết dương can kinh.
Kỳ kinh bát mạch gồm có : 1.- Nhâm mạch . 2.- Đốc mạch . 3.- Xung mạch.4.- Đới mạch.5.- Dương duy mạch.6.- Âm duy mạch.7.- Dương kiểu mạch.8.- Âm kiểu mạch .
Sự tu luyện cuả Đạo gia , vận khí trong 12 kinh mạch , gọi là sự vận hành khí trong Đại Châu Thiên , còn sự vận hành khhí trong kỳ kinh bát mạch gọi là Tiểu Châu thiên .
Phương pháp Đại Thủ Ấn của Mật Tông , không phân chia phức tạp như Đạo gia .
Mật tông đem những Tùng Thần kinh , Chủ yếu là Kinh Mạch chia ra làm 7 trung tâm , phân chia như sau : 1.- Đỉnh đầu .2.- Giữa chân mày.3.- Ở cổ.4.- Ở giữa ngực ngang tim.5.- Ở bụng.6.- Sinh thực khí . 7.-Ở xương cùng.
Đem nội hỏa gọi là châm lửa , đem mạch phân làm Tả mạch – Hữu mạch và Trung mạch . Do đó, 7 trung tâm và 3 mạch cuả Mật Tông và 12 kinh cùng Bát mạch của Đạo giáo , đại thể căn bản là giống nhau.
Đại Thủ Ấn nói về vận hành khí huyết , thông kinh mạch , nước cam lồ thấm nhuần tạng phủ , thấm nhuần gân cốt, điều hòa Thủy,Hỏa , Phong , Thổ . Những tác dụng trên , đều giống cách luyện tập của Đạo gia trung Hoa .
Phương pháp thông quan của Mật tông là đầu tiên đả thông kinh mạch , sau đó hội tụ lửa thành một điểm , sau đó châm lửa đốt thành ánh sáng ; phương pháp nầy giống như phương pháp của Đạo gia là : luyện Tinh hóa Khí , luyện khí hóa Thần , luyện Thần hoàn Hư , Luyện Hư hoàn Đạo .
Ba điểm bí mật của Mật Tông Đại Thủ Ấn là : 1 .- Quán tưởng . 2.- Thất chi thiền tọa.3.- Chú Âm tức là thu nạp hít thở và niệm chú .
Tam quán của Đại thủ Ấn là : Không quán – Giả quán và Trung quán .
Không quán là quán tưởng vạn pháp tự thể là không có ; Giả quán là vạn pháp do duyên sanh hư tướng , sanh sanh diệt diệt . Trung quán là vạn pháp không thiệt , không giả , trung đạo , tức là áp dụng vạn pháp cho đúng lúc đúng thời , đúng Thời và Vị theo như tinh hoa cuả Kinh Dịch vậy .
Tập luyện Tam quán cuả Đại Thủ Ấn , có thể giúp Hành giả phá vở Ba điều mê hoặc , chứng đắc Tam trí và thành tựu Tam Đức , cuối cùng vĩnh viễn thoát được Ma đạo.
Ngoài ra còn có sự quán tưởng huyệt Đan điền là Nội quán , còn Ngoại quán , Hành giả có thể nhìn chân dung , Pháp tướng uy nghiêm , hình ảnh vị Thầy của mình , làm đối tượng để quán tưởng ; Hành giả nhìn vài giữa chân dung , ngay chân mày cuả Thầy mình một cách mảnh liệt và tưởng tượng từ đó phóng ra , một luồng ánh sáng trắng , phóng đến giữa chân mày của mình. Đây là phương pháp tập trung tinh thần , đem tạp niệm biến thành nhất niệm , tập như thế một thời gian , hành giả có thể tiến đến ,tập nội quán , quán tưởng tại đan điền . Khi hành giả tập trung chú ý đến huyệt Đan điền , thì ánh sáng sẽ hiện ra . Ngoại quán , quán tưởng lấy chân dung uy nghiêm vị Thầy của mình làm đối tượng để quán tưởng ; còn Nội quán , quán tưởng của Đạo gia, thì đầu tiên quán tưởng huyệt đan điền , sau đến huyệt mạng môn , thứ ba quán tưởng huyệt Dủng Tuyền ở chân , thứ tư huyệt Bách hội , sau đó quán huyệt Mi tâm , giữa chân mày .
Còn nguyên tắc Đại Thủ Ấn của Mật Tông , đầu tiên quán tưởng Đan điền , sau đó đến trung tâm ở bụng , đến trung tâm tim , thứ tư ở cổ , thứ năm mi tâm và chót hết đến đỉnh đầu .
Trong lúc quán tưởng , không được căng thẳng thần kinh , hay chú ý quá sức , mà cần phải thư thả tự nhiên , không gấp rút ....
Về phương pháp quán tưởng để làm phát sinh luồng nhiệt năng nội hỏa , thì hoàn toàn nhờ vào sự hít thở và tưởng tượng ; khi hít không khí vào, thì tưởng tượng màu trắng , khi đến đơn điền biến thành màu đỏ , khi thở không khí ra , không khí biến thành màu đen . Việc tưởng tượng màu sắc có ý nghĩa như sau : Tưởng tượng ánh sáng trắng là biểu hiện cuả sự hấp thụ thanh tịnh quang minh ; màu đỏ là sự phát sinh nội hỏa ; màu đen là sự phế thải ra khí dơ và nghiệp chướng, hoặc có thể thay màu đen thành màu lam hay xanh cũng được .
Phương pháp quán tưởng nội hỏa :
Đầu tiên tưởng tượng một điểm tròn màu đỏ , tại huyệt đan điền , cách dưới rốn 4 ngón tay , huyệt nầy là điểm giao thoa của Tam mạch , tả hữu và trung mạch ; Điểm đỏ nầy được tưởng tượng như một đốm lửa nóng như than hồng trong lò , đỏ rực tỏa ra hơi nóng , sau đó hít một hơi dài , vận khí đi vào hai mạch tả hữu , để đi đến huyệt đan điền , thổi cho điểm lửa ở đây , mổi lúc càng nóng hơn ; khi thở ra hành giả tưởng tượng , thở ra không khí màu đen , hít thở như vậy , một vòng gọi là một tức ; cứ 10 tức thì cục lửa hóa ra to lớn hơn và thăng lên một trung tâm lực cao hơn ,tức từ đan điền đi lên trung tâm tim , cổ, mi tâm .....Hít vào đếm 6 nhịp , ngưng 2 , thở ra 6 , ngưng 2 là xong một chu kỳ .
Khi tập lên cao , Thủ Ấn , Thân Ấn có thể biến thành quán tưởng ; Chú ngữ biến thành Thu Nạp hít thở ; và hít thở có thể hóa thành khí để quán tưởng ; đó là sự hợp nhất của Tam Quán .


BÍ MẬT BÊN TRONG CƠ THỂ CON NGƯỜI
VÀ ẤN QUYẾT MẬT TÔNG
Tam mật trong Mật Tông là : Thân Mật – khẩu Mật và Ý Mật . Ý nghĩa nội tại của tam mật được giãi nghĩa ở ba cấp bậc luyện tập cao thấp khác nhau .
Nói riêng về thân mật , qui nạp lại có hai ý nghĩa : 1.- Bí mật thân thể của con người và vũ trụ , trời đất có một sự tương quan liên lạcvới nhau rất mật thiết . Nhưng vì đa số con người , không có luyện tập , để có đại trí tuệ , và không được thông qua sự luyện tập hợp lý , nên vĩnh viễn không thể phát huy được , sự tác dụng hổ tương nầy và không khai mở được sự bí mật tương quan của cơ thể con người cùng vũ trụ . 2.- Mật Tông nhận thấy rằng , có nhiều phương pháp luyện tập , truyền thống bí mật , được lưu truyền từ ngàn xưa , có thể giúp con người nhanh chóng , luyện tập trong một khoảng thời gian ngắn , có thể giúp con người liên lạc , cảm ứng được Thần Linh , và kết hợp con người và vũ trụ lại làm một , tiến đến đưa con người đến quả vị Thánh và Phật .
Nhưng từ phạm vi đạo lý và luyện tập Mật Tông của Nhật Bản và Mật tông của Tây Tạng , có những điểm căn bản khác nhau . Phía Mật tông Nhật Bản , sự kết hợp Tâm Thức và Tâm Lý , giữa sự quán tưởng , cùng một cách thức tập luyện nào đó , để kết hợp thành những hình ấn quyết khác , thông qua sự tập luyện ; hành giả có thể thâu đạt được những tiềm năng huyền bí , rất đáng được nghiên cứu và học tập . Về phía Mật Tông Tây Tạng , ngoại trừ uy lực của Ấn Quyết , còn có khí lực của thân người , kinh mạch , tuyến nội tiết của thân người , đều có khả năng bí mật , giúp cho con người TỨC THÂN THÀNH PHẬT , THIÊN NHÂN TƯƠNG THÔNG , HỢP NHẤT VỚI NHAU ; Có thể nói là rất gần với sự tập luyện khí và kinh Mạch của Đạo gia Trung Hoa .
Những kẻ bàng quan , những kẻ không hiểu biết , khi xem qua những Ấn Quyết của Mật Tông , có thể hiểu lầm là những trò đùa của ảo thuật . Nhưng thật ra , đó là những khoa học bí mật cao cấp về nhân thể quang học và Nhân Thể Điện và Hóa Học , sẽ được khoa học giải thích nội dung bí mật của nó trong một ngày gần đây .

SỰ LIÊN QUAN GIỮA KHÍ LỰC KINH MẠCH
CỦA HAI BÀN TAY – CHÂN ĐƯỢC XỬ DỤNG
TRONG LÚC BẮT ẤN QUYẾT .

Ấn quyết là sự chứng nghiệm của cổ nhân để lại ; trong khi luyện tập , dùng hai bàn tay để bắt ấn , thì ta sẽ chứng nghiệm và cảm nhận được luồng khí lực , được phát ra rất mạnh từ hai bàn tay , và ta chỉ cần luyện tập trong một khoảng thời gian ngắn là có thể đạt được hiệu quả .
Dùng phương pháp Tam Mật Tương Ứng , mà hằng tâm tập luyện , các ấn quyết một cách tuần tự , chỉ trong một thời gian tập luyện liên tục ; đến khi khí lực trong cơ thể , đã nhờ sự tập luyện , mà tích tụ đầy đủ mạnh ; thì ta có thể vận dụng làm chuyển động toàn khí lực , trong toàn thân ra ngoài hai bàn tay đang bắt ấn quyết , sẽ khiến ấn quyết đang bắt , sẽ phát ra một luồng khí quang sáng rực.
Sau đây là sự liên hệ giữa thủ ấn và kinh mạch :
Bàn tay trái gọi là Thiện Niệm Thủ , còn gọi là Chỉ thủ – bàn tay đình chỉ , ngưng – hay còn gọi là Tam muội Thủ . Bàn tay mặt gọi là Bi Niệm thủ , còn có tên là Quán thủ , Bát Nhả . Mổi bàn tay gọi là Kim Cang Chưởng . Mười ngón tay thường được gọi là Thập Luân Viên Mản , lại còn có tên là Thập Độ , Thập Địa , Thập Giới , Thập Ba La Mật ; Mười đầu ngón tay được gọi là Thập Ba La Mật Phong – tức là mười đỉnh của mười ngọn núi cao . Ngón cái tay trái có tên gọi là Trí , ngón trỏ là Lực , ngón giữa là Nguyện , ngón áp út là Phương , ngón út là Huệ . Ngón cái tay mặt là Thiền , ngón trỏ là Tiến , ngón giữa là Nhẩn , ngón áp út là Giới , ngón út là Thí .
Sau khi luyện tập thủ ấn , đã phát động được nội khí , ta có thể vận động 10 ngón tay và 10 ngón chân , để nội khí trong 12 kinh mạch và kỳ kinh bát mạch , được vận hành , khiến cho khí huyết trong cơ thể được lưu thông tốt , đẩy mạnh quá trình biến dưởng , thông qua đó giúp cho cơ thể chống được bệnh tật và sự tấn công của ngoại giới .
Sự lay động các ngón tay ,hay sự khâu vòng các ngón tay lại với nhau , có thể làm cho nội khí vận hành trong cơ thể , sản sinh ra sự kích động , làm cho cơ thể tự rung động , ngả nghiêng và kích động mảnh liệt .
Trong lúc luyện công bắt ấn , các luồng khí lực trong cơ thể , được phát ra theo đầu các ngón tay như sau :
- Ngón cái phát ra khí lực của Thái Âm Phế kinh.
- Ngón trỏ phát ra khí lực của Dương minh Đại Trường Kinh .
- Ngón giữa phát ra khí lực của kinh tâm Bào Lạc .
- Ngón út phát ra khí lực của Tiểu Trường Kinh và Tâm Kinh .
Trong lúc luyện công bắt ấn , các luồng khí lực trong cơ thể , được phát ra theo đầu các ngón chân như sau :
- Ngón chân cái phát ra khí lực của Tỳ Kinh.
- Ngón chân trỏ phát ra khí lực của Can Kinh.
- Ngón chân giữa phát ra khí lực của Vị Kinh.
- Ngón chân áp út phát ra khí lực của Đảm Kinh .

Phàm lệ khi các ngón tay bắt ấn , khâu vòng vào nhau , thì có công năng luyện khí nội tại bên trong của cơ thể ; còn khi các ngón tay nào duổi thẳng , thì có công năng phóng phát khí lực từ bên trong ra ngoài . Do đó, Khí lực nội luyện là Bổ , còn khí lực được phóng ra ngoài là Tả . Vì thế, tùy theo tình hình sức khõe của mổi người , mà bắt ấn Bổ hoặc Tả , để luyện tập – Cơ thể yếy thì Bổ và ngược lại , cơ thể quá dư thừa khí lực thì Tả .
Sự Bổ Tả của khí lực dùng trong các ấn quyết trong lụ́c luyện tập là :
KIM CANG TAM CÔ ẤN : Hai đầu ngón cái và ngón trỏ của mổi bàn tay nối lại vòng tròn , còn các ngón còn lại duổi thẳng ra , hai bàn tay để trước bụng , tay mặt để bên , trên tay trái để bên dưới , ấn nầy dùng để làm bổ khí lực của Thái Âm Phế Kinh và Đại Trường Kinh . Đồng thời bài tiết , phế thải khí lực dư thừa hay thải trược khí của ngón giữa là Tâm Bào Kinh , ngón áp út Tam Tiêu Kinh và ngón út Tiểu trường Kinh .

QUAN ÂM CAM LỘ ẤN : Hai đầu ngón cái và ngón giữa khâu vòng lại , các ngón còn lại duổi thẳng lên , bàn tay để trước ngực . Dùng để tập luyện làm bổ cho khí lực của ngón cái là Thủ Thái Âm Phế Kinh , ngón giữa là Tâm Bào Lạc Kinh , đồng thời làm phóng khí lực hoặc làm bài tiết phế thải khí lực dư thừa hay trược khí của ngón trỏ Đại Trường Kinh , Ngón áp út Tam Tiêu Kinh và ngón út Tiểu trường Kinh và Tâm Kinh .

KIẾT TƯỜNG ẤN : Đầu ngón cái và ngón áp út đeo nhẩn khâu vòng chạm vào nhau , các ngón khác duổi thẳng lên . Được tập luyện để làm bồi bổ khí lực của Thủ Thái Âm Kinh và ngón áp út là Tam Tiêu Kinh , làm phóng khí lực của ngón trỏ là Đại Trường Kinh, ngón giữa là Tâm Bào Lạc Kinh , ngón út là Tiểu Trường Kinh và Tâm Kinh .


NGŨ HÀNH ẤN ĐƯỢC DÙNG TRONG VÕ THUẬT .

Khi giáp trận chiến đấu , nhà Võ Thuật Gia có thể dùng các ngón tay , đan xỏ vào nhau , để bắt thành Ngũ Hành Ấn : Địa – Thủy – Hỏa – Phong – Không . Để nhờ đó , họ có thể tập trung sự chú ý vào trong các ấn quyết nầy , để điều chỉnh năng lượng tâm thức của mình , lên đến các cảnh giới cao , chuẩn bị các thái độ cần phải có , để làm nền tảng , cho các kỷ thuật , hoặc các đòn thế thích hợp với tình hình chiến đấu cần đến .
Ấn quyết trong võ thuật được các sát thủ Ninja Nhật Bản xử dụng trong các cuộc chiến đấu . Những ấn quyết nầy được tuyển chọn cẩn thận từ các hệ thống Yoga của Ấn Độ , và từ các phái Mật Tông của Phật Giáo .
Các ấn quyết nầy được xử dụng , như một kỷ thuật để làm nền tảng , cho sự tập trung tất cả ý chí , cùng phát huy tận dụng toàn thể , năng lực tiềm ẩn của nhà Võ Thuật Gia , để dùng trong một cuộc chiến đấu sinh tử .
Ngũ Hành Ấn Quyết là đại biểu cho Đất , Nước , Lửa , Gió và Không Đại , là những ấn quyết cơ bản , bắt đầu cho 81 ấn quyết , hiệu quả trong tương lai .
81 ấn quyết được lần lượt đan quyện vào nhau , tùy hoàn cảnh và tình thế cần đến , Nhà võ thuật gia có thể làm yên lặng tâm thức của mình , và xử dụng Ngũ Hành Ấn , để mang tâm thức của mình lên cảnh giới cao hơn ( giống như lên đồng ), để tạo những thay đổi trong cơ thể theo ý muốn , như làm giảm áp suất của máu , làm tim đập chậm lại , tập trung toàn thể sự chú ý vào một vấn đề quan trọng nào cần giải quyết ; có thể kéo dài sự tỉnh táo trong một thời gian dài và có thể nín thở từ 3 phút trở lên .
Ấn quyết có thể giúp Nhà Võ Thuật Gia , xử dụng tâm thức của mình một cách hoàn hảo trong mọi hoàn cảnh , dấn thân trong các sứ mạng nguy hiểm .
Những sự tập luyện của phái Mật Tông Nhật Bản ( MIKKYO ) , có thể giúp cho Nhà Võ Thuật Gia , phát triển những quyền năng tâm linh và những sức mạnh siêu hình , dùng để hổ trợ cho các giác quan và những đòn thế trong việc chiến đấu .
Ngoài ra , các sát thủ Ninja cuả các quốc gia Đông phương còn xử dụng cả Cửu Tự Ấn Quyết của Mật Tông trong sự tập luyện và dùng cả trong chiến đấu nửa .

Cửu tự Ấn quyết thường dùng chung với Thập Tự Quyết :

Cửu Tự Ấn Quyết là :

LÂM – BINH – ĐẤU – GIẢ – GIAI- TRẬN – LIỆT – TIỀN .

Thập Tự Quyết : là bùa Tứ Tung Ngũ Hoành vẽ đan xỏ vào nhau . Thập Tự Quyết dùng để ếm các sự xâm phạm của ma quỷ , cùng những hiểm nguy có thể xảy đến cho nhà Võ Thuật Gia , bằng cách liên tục bắt Cửu Tự Ấn , xong dùng kiếm ấn tay mặt , vẽ Thập Tự Quyết trong lòng bàn tay trái , xong nắm lại và thổi phù vào đó , đồng thời bàn tay phóng bùa nầy , vào nơi chổ mình muốn yếm hay vào nơi bị bệnh của bệnh nhân trong khi trị bệnh bằng khí công ngoại cảm cho người khác .

Viên Thành sưu tầm


http://phapdang.com/index.php?mod=newsdetail&ID_tintuc=387
Posted on 17/11/2010 by Đỗ Đức Ngọc
VAI TRÒ CỦA VIỆC “KẾT ẤN”
TRONG KHÍ CÔNG & TĨNH TỌA TỰ CHỮA BỆNH

Sức Sống Mới (Theo sahajayoga-vietnam.org)
Hầu hết kinh điển Mật Tông đều nhấn mạnh rằng: Những mật chú đều là những chân ngôn của chư Phật và chư Bồ Tát có giá trị nhiếp tâm và truyền giảng vô lượng. Mật Chú giúp đỡ cho chúng sinh xa lìa tham, sân si, là những độc hại trong việc tu hành. Việc trì tụng những mật chú sẽ tiêu trừ các tai ương, giải cứu những ách nạn, đưa con người thoát khỏi cảnh giới sa đoạ. Thành thử, kiên tâm trì tụng với tất cả tâm thành, kết quả tốt đẹp không biết đâu lường được.
Kinh Chuẩn Đề Đà Ra Ni của Mật Tông dạy những phương pháp trì tụng và nói về công năng của việc trì tụng những Chân ngôn. Có đến 10 bộ kinh dạy về Chân ngôn, từ thấp đến cao, mà trong ứng dụng bất cứ trình độ nào cũng tu tập được. Khi trì tụng lâu, sẽ được ứng hiện trong mộng tưởng.
Kinh Chuẩn Đề dạy rằng: “Tu tập vững vàng sẽ tạo mộng lành. Hoặc mộng thấy chư Phật, Bồ Tát, Thánh Tăng, Thiên Nữ. Hoặc mộng thấy tự thân bay lên hư không một cách tự tại. Hoặc vượt qua biển lớn, hoặc trôi nổi trên sông Giang Hà, hay lên lầu các, hoặc lên cây cao hoặc trèo lên núi tuyết, hoặc chế ngự được voi, sư tử, hoặc thấy nhiều hoa thơm cỏ lạ. Cũng có thể mộng thấy là vị tu hành, sa môn. Hoặc nuốt bạch vật, nhả ra hắc vật. Hoặc thâm nhập vào tinh tú, thiên hà…”. Trong khi trì tụng kinh điển này, thường phát ra ánh sáng lạ kỳ, do Phán nhãn mang lại. Có người thấy lạc vào cõi Tịnh Độ, cảnh giới giải thoát hoàn toàn. Cũng có người thấy được kiếp trước của mình.
Nội dung
Bộ kinh trên có giành phần lớn để nói về các Thần Chú: bản văn Thần Chú và công năng của Thần Chú. Thần Chú không sử dụng tùy tiện được. Phải có đức giác ngộ mới đọc Thần Chú có hiệu quả. Mật Tông nói về trường hợp nhiều đạo sĩ dùng những Thần Chú không đúng hướng gây tác hại: chẳng những không đạt được kết quả theo ý muốn, mà còn gây thêm những nguy hiểm khôn lường được. Nội dung các Thần chú này được phân chia ra 9 phẩm. Mỗi phẩm có sức nhiếp phục và sở cầu khác nhau:
Nội dung 3 phẩm đầu
Hạ Phẩm: nếu thành tựu hạ phẩm của Thần Chú, thì có thể năng nhiếp phục tất cả tứ chúng, phàm có sở cầu điều gì thì đạt được, sai khiến được nhiều hạng, kể cả Thiên Long cũng thuần phục. Những Thần Chú này lại còn có thể hàng phục được 45 loại trong các “trùng thú” và “quỷ mị”.
Trung Phẩm: Khi thành tựu được việc dùng Thần Chú của Trung Phẩm, sẽ có công năng sai khiến được tất cả Thiên Long, Bát Bộ, khai mở những “bảo tàng” dấu kín. Cũng có thể đi vào trong Tu La Cung, Long Cung… bất cứ trong trường hợp nào.
Thượng Phẩm: Nếu thành tựu được phần Thượng Phẩm, sẽ có được những khả năng phi thường: hoặc dùng phép khinh thân để chu du khắp nơi, cũng có thể dùng đến thuật “tàng hình” để tránh tai biến.
Nội dung 3 phẩm giữa
Hạ phẩm: Nếu thành tựu hạ phẩm của phần này (Trung Độ) sẽ điều hành được nhiều cảnh giới, tái sinh trong vô lượng kiếp, phúc huệ chiếu sáng trong 3 cõi, hàng phục chúng ma.
Trung phẩm: Nếu thành tự phẩm này, thì có sức thần thông qua lại các thế giới khác, có khả năng chuyển hoá Luân Vương, trụ thọ trong nhiều kiếp sau này.
Thượng phẩm: Nếu thành tựu phẩm này, sẽ hiệu chứng được nhiều phép lạ, từ Sơ Địa Bồ Tát trở lên.Trung độ là trình độ khó thành; chỉ những bậc cao tăng nhiều kiếp mới nhiếp phục được 3 phẩm này.
Nội dung 3 phẩm cuối
Hạ phẩm: Nếu thành tự phẩm này, sẽ đạt được Đệ Ngũ Địa Bồ Tát trở nên.
Trung phẩm: Nếu thành tựu phẩm này sẽ đạt được từ Đệ Bát BồTát Địa trở lên.
Thượng phẩm: Nếu thành tựu phẩm này, thì Tam Mật sẽ biến thành Tam Thân. Trong cảnh giới hiện tại thì có thể chứng quả “Vô Thượng Bồ Đề”.
Ứng dụng những Mật Chú
Những nhà tu hành Mật Tông dùng những Mật Chú trong những trường hợp cần thiết nhất và cũng hạn chế nhất để tránh những tác hại khác. Một trong những loại Mật Chú quan trọng và thông dụng là Mật Chú Đà Ra Ni (Dharani). Theo nguyên nghĩa thì Đà Ra Ni là bảo tồn, gìn giữ, chống lại những lôi cuốn khác bất cứ từ đâu tới. Những Mật Chú này dùng để khống chế vọng tưởng và vọng động. Trong một giá trị khác, Mật Chú Đà Ra Ni sẽ phát huy đạo tâm của hành giả đứng trước những thử thách nghiêm trọng. Tà ma, ngoại đạo đều bị Mật Chú Đà Ra Ni chế ngự ngay từ bước đầu. Dùng Mật Chú không thể khinh thường và thiếu cẩn trọng. Chỉ trong những trường hợp khổn cùng, cấp bách, không thể thoát khỏi tai kiếp thì mới đọc lên.
Mật Chú Đà Ra Ni còn được gọi là “chân ngôn” hay “chân kinh” tức là những câu nói ngắn nhưng rất vi diệu, chân thật, “bất khả tư nghị” của chư Phật hay chư Bồ Tát. Mật Chú không thể giải nghĩa được hay lý luận được. Những buổi lễ quan trọng nhất của Mật Tông mới được dùng những Mật Chú này. Công dụng chính là đưa những sức huyền diệu, anh linh của vũ trụ đi vào trong nội tâm của con người. Mật Chú cũng có thể tiêu trừ những bệnh khổ do Tứ Đại gây ra. Những bệnh do Ngũ uẩn, hay do quỷ thần gieo rắc cũng có thể giải cứu bằng Mật Chú được. Cũng như Đàn Tràng (hay Đàn Pháp) (Mandala), Mật Chú có công dụng vô biên, khó lường được. Nhiều người coi thường Mật Chú và Đàn Tràng, cho nên khó giải thoát. Hiển Mật Viên Thông có chép rằng: “Ba đời của đức Như lai, chưa hề có vị Phật nào không theo Đàn Pháp mà thành Phật Đạo”.
Lời dạy này mang hai ý nghĩa: (a) Mật Chú và Đàn Pháp vốn rất huyền diệu (b) Chỉ dùng đến hai loại này trong trường hợp cần thiết nhất mà thôi.Giá trị của Mật Chú Đà Ra Ni không thể lường được. Chẳng hạn như một cao tăng tụng Mật Chú với tất cả lòng thành của mình thì sẽ tiêu trừ những nghiệp chướng rừng vướng mắc vào nội tâm hay từng gây tai họa lớn lao. Sức tiêu trừ này khó hình dung được, nhưng giải toả được những nguy hiểm do tha nhân tạo nên.
Những cao tăng Tây Tạng ít khi nói đến những Mật Chú. Theo họ, một giới tử nào vọng động trong việc dùng Mật Chú, tưởng là cứu cánh tu hành, sẽ bỏ mọi khả năng tu tập chính của mình để học Thần Chú. Mật Chú chỉ được dùng như là cẩm nang tối hậu chỉ được mở ra thực hiện trong một thời điểm cần thiết nhất. Một giới tử sau khi được Điểm Đạo hay Quán Đỉnh thì được nhắc nhở điều này.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm trong phần nói về công năng của những loại Thần Chú của Kim Cang Thừa (Tantra) có đoạn viết:- “Mật Chú của chư Phật vốn là phép bí mật. Chỉ có đức Phật với Phật tự biết với nhau mà thôi; các vị Thánh cũng không thể nào thông đạt về Chú được. Chỉ trì tụng là diệt được tội lỗi, nhanh chóng đạt được Thánh Vị” (Phẩm Chú Hạnh).
Trong một đoạn khác có viết: “Thần Chú là mật ấn của chư Phật: Những vị Phật và Phật truyền cho nhau, người khác trong cảnh giới nào cũng không thể nào thông hiểu được…”
Trong Hiển Thủ Bát Nhã Sớ viết: ” Chú là Pháp môn bí mật của chư Phật, không thể nào thấu hi#7875;u được nhân vị của những lời Chú”. Viễn Công Niết Bàn Sớ khi luận về Thần Chú cũng viết: “Chân Ngôn chưa chắc là chuyên ngữ của người Thiên Trúc. Nếu đem ra phiên dịch thì lại không hiểu nổi, vì lẽ đó cho nên không thể nào phiên giải được…”.
Thiên Thai Chỉ Quán của Thiên Thai Tông cũng viết về các Thần Chú như sau: “Chỉ có bậc Thánh Thượng thì mới có thể nói đến (giải lý đến) 2 pháp: Mật và Hiển. Những kẻ phàm nhân chỉ có thể xưng tán được những lời kinh trong Hiển Giáo; còn về Mật Giáo thì không giải thích được. Đà Ra Ni, nhân vị của Thánh Hiền không thể nào hiểu giải được, chỉ có thể tin mà thọ trì mà thôi. Trì Chú thì có thể diệt được mọi nghiệp chướng, kết tựu được phước đức”. Theo những cao tăng của Mật Giáo, những Mật Chú (Mantras) là Viên Mãn, nếu giải thích ra chỉ là phiến diện, có thể sai lầm nữa. Thành thử không nên tìm cách để giải thích. Những kinh sách cho rằng: đây là guyên nghĩa của những câu Thần Chú chỉ là ngụy ngôn.
Mật nghĩa chỉ là “bất khả tư nghị”. Trong Pháp Hoa Sao Sớ có đoạn nêu rõ rằng: “Về Bí Pháp của chư Phật, thì không thể nào hiểu được ý nghĩa, cho nên được gọi là Mật ngôn”. Bát Nhã Tâm Kinh viết: “Tổng trì cũng như loại thuốc thần, như Cam Lộ, uống vào thì lành bệnh, nhưng khi phân tích trong đó có gì, là điều sai lầm. Tuy là mật ngôn, nhưng công dụng, giá trị của những lời Thần Chú này thật bao la”.
Theo Đà Ra Ni Kinh thì: “Thần Chú vốn là tối thắng, có thể giải trừ được tội lỗi của chúng sinh, giải thoát được sinh tử luân hồi, chứng quả Niết Bàn, an lạc pháp thân…”.
Khi tụng những câu Thần Chú, phải chú ý đến toạ bộ. Chẳng hạn như trì tụng Đại Tam Muội Ấn thì: “Lấy hai tay ngửa ra, rồi tay hữu để lên trên tay tả, hai đầu ngón cái giáp lại với nhau, để ngang dưới rốn”. Thực hiện việc trì tụng này, kết quả không lường được: Ấn này có thể diệt được tất cả cuồng loại, vọng niệm, điên đảo, tư duy tạp nhiễm.
Còn khi chấp thủ về Kim Cang Ấn Quyền thì kết ấn như sau đây: “Lấy ngón cái để trong lòng bàn tay bấm tại đốt vô danh chỉ giáp lòng bàn tay, rồi nắm chặt; sau đó tay phải cầm chuỗi ký số, miệng tụng: “Tịnh pháp giới chân ngôn” (108 biến).
Ấn này trừ được nội ngoại chướng hiện ra hay nhiễm phải; thực hành đúng đắn thì thành tựu tất cả công đức.
Về Chuẩn Đề Chú thì kết ấn như sau: “Sau khi đảnh lễ (3 lạy) xong, thì hành giả ngồi kiết già. Lấy ngón tay áp út và ngón út bên mặt và bên trái xỏ lộn với nhau vào trong hai lòng bàn tay; dựng hai ngón tay giữa thẳng lên, rồi co hai ngón tay trỏ mà vịn vào lóng đầu của hai ngón giữa; còn hai ngón tay cái thì đè lên lóng giữa của ngón áp út bên mặt. Để ấn này ngang ngực.Sau đó chí tâm tụng 108 lần câu chú “Chuẩn Đề” và chú “Đại Luân Nhất Tự” như sau: “Nam Nô Tát Đa Nẫm, Tam Miệu Tam Bồ Đề, Cu Chi Nẫm, Đát Điệt Tha. Án Chủ Lệ, Chủ Lệ, Chuẩn Đề, Ta Bà Ha – Bộ Lâm.”
Có thể trì tụng nhiều hơn nữa. Khi niệm số đã ấn định, muốn nghỉ thì xả ấn lên trên đỉnh, kế đó dùng tay mặt kiết ấn Kim Cang Quyền mà ấn theo thứ tự 5 vị trí như sau: 1) Trên đảnh đầu 2) Nơi vai bên trái 3) Ở vai bên mặt 4) Tại ngang ngực 5) Nơi yết hầu

o O o
ẤN CHÚ VÀ MÀU SẮC
Nguồn: Phật Giáo Việt Nam Net (phatgiaovnn.com)


Màu sắc có ảnh hưởng đến tâm trí và đời sống của chúng ta trên mọi mức độ. Trong liệu pháp bằng màu sắc, nhiều sắc thái màu sắc được ứng dụng rõ rệt để phục hồi các cơ quan và các tuyến, cũng như khởi động quy trình bài tiết, hô hấp, sự lưu thông. Màu sắc cũng có ảnh hưởng đến tâm trạng của chúng ta và mỗi loại hoạt động tâm trí. Màu đỏ kích thích sự lưu thông, linh lợi, ấm áp, và thư giản, nhưng cũng có thể đem đến sự gây hấn
Màu cam cải thiện tâm trạng, cải thiện sự nhanh nhẹn, kích thích giới tính, nhưng cũng có thể kích thích tính hời hợt
Mầu vàng : kích thích sự tiêu hóa, làm tâm trí chúng ta tỉnh táo, và làm cuộc sống xuất hiện dướI ánh sáng rực rỡ, nhưng nó cũng có thể gây khó chịu
Màu xanh lá thường thì làm an tĩnh, làm phục hồi ở mọi mức độ, và làm cho chúng ta mong muốn bắt đầu một điều gì mớI mẻ
Màu xanh da trời cũng đem đến sự an tĩnh, nhưng sự an tĩnh ở mức độ sâu lắng hơn và đem đến một cảm giác an toàn. Nó truyền sự bảo hộ và là biểu tượng của sự khao khát âm thầm khó hiểu.
Màu tím là màu của sự biến chuyển, thay đổi, và duy linh
Màu nâu là màu của sự ổn định và kết nối với trái đất, nhưng cũng có thể dẫn đầu của sự trì trệ, mụ mẫm bao gồm quang phổ của tất cả các màu khác trong nó, chứa luôn sự Sinh cũng như Tử.
Màu đen là màu của sự bảo vệ, tăng cường, ẩn dật, và của sự rỗng không mà ẩn chứa sự phong phú bên trong bản thân
Không có màu xấu. Mỗi một màu trên có thể thấy xuất hiện trong hào quang hay năng lượng của cơ thể. Khi một màu sắc tăng ưu thế hay ở không đúng chỗ, nó sẽ có tác động đầu tiên lên mọi cảm xúc, sức khỏe của tinh thần và thể xác. Về lâu dài, một sức khỏe mất ổn định là một hậu quả đương nhiên. Dầu sao,cũng có thể đảo ngược tiến trình bệnh hoạn bằng sự giúp đở của màu sắc.
Bạn cũng có thể có một vài kinh nghiệm đẹp đẽ về việc thiền định với màu sắc. Nếu bạn thích một màu nào đó hơn, nó có thể cũng chính là một phẩm chất tương ứng cần thiết. Tuy nhiên, nếu bạn chuyên tâm ham thích quá nhiều về một màu, nó có thể phát triển thành thói nghiện và màu sắc có thể làm hại bạn. Trong lúc bắt ấn, bạn cũng có thể đồng thời tưởng tượng một màu sắc hay tập trung về màu của một chủ đề liên quan. Với sự tưởng tượng màu sắc rồi sẽ trở nên sống động.
ẤN: Cách chữa bệnh cổ xưa bằng bàn tay
Ấn trong nghĩa căn bản nhất là những biểu tượng, sắp xếp hình thể của bàn tay. Ấn là một trong những cách chữa bệnh cổ xưa nhất đã có từ hàng ngàn năm năm về trước. Cách bắt ấn không những được thực hiện bằng tay mà còn bằng mắt, cử động của cơ thể, các kỹ thuật hô hấp và Chú (mantra)
Bàn tay tương ứng và liên kết với các phần khác của cơ thể và cảm xúc. Chúng có liên hệ với các vùng trong não bộ và cả linh hồn của bạn
Bàn tay có thể giúp bạn tập trung, thư giản, chữa lành, trẻ hoá và quân bình hệ thống thần kinh của bạn
Bàn tay luôn hợp tác với sự xoa dịu và chữa trị. Chúng ta thường sờ tay một cách vô thức vào những chỗ đau trong cơ thể
Có một sức mạnh chắc chắn trong sự bắt chéo, uốn cong, duỗi thẳng hoặc sờ mó của bàn tay.
Có sự liên hệ trực tiếp giữa bàn tay và các bộ phận cơ thể khác, sự liên quan trực tiếp giũa các bàn tay và cổ khi các đường dây thần kinh đều chạy qua đốt xương sống xuyên suốt qua cánh tay, bàn tay và các ngón tay. Sự mềm dẻo của bàn tay luôn luôn ảnh hưởng tới sự mềm dẻo của cổ. Bởi vậy vận động các bàn tay là làm cho cổ bớt bị căng thẳng. Hơn nữa, duỗi thẳng các bàn tay ra tức thì tạo ra các phản ứng dây chuyền làm cho ngực cũng căng ra. Sự căng phồng của lồng ngực này là kết quả của sự làm việc từ mười ngón tay
Bàn tay và các ngón tay cũng có sự liên quan trực tiếp tới tim và phổi. Khi tuổi tăng cao, nhiều người già không thể duỗi thẳng các ngón tay ra được nữa. Điều này chứng tỏ có sự căng thẳng trong vùng tim và báo trước cho các bệnh về tim mạch và chứng loãng xương, làm cho người bệnh khó thở vô: kết quả là một lượng lớn không khí không vào được sâu trong phổi, đặc biệt là các vùng ven ngực khiến cho các vùng này bị nhiễm trùng
Người tập phải giữ ấn trong bao lâu cũng là một vấn đề nữa. Dù có giữ ấn lâu hay mau thì sức mạnh chúng ta vẫn cảm nhận được. Nên lựa chọn vài ấn trong khi ngồi thiền hàng ngày. Thật thú vị khi chúng ta có thể cảm nhận được những cảm xúc khi chúng ta chuyển theo các vị thế tay khác nhau
Ấn YONI
1- Ngồi ngay ngắn thoải mái
2- Thư giãn và thở bình thường
3- Hít vô và giữ hơi thở trong khi bịt hai lỗ tai bằng các ngón cái
4- Nhắm mắt lại, các ngón trỏ kéo nhẹ hai mí mắt
5- Bịt hai lỗ mũi bằng hai ngón giữa và miệng với ngón đeo nhẫn và các ngón út ở môi trên và môi dưới
6- Nhíu hậu môn và hơi dướn người lên khỏi sàn nhà
Nhíu và nín thở càng lâu càng tốt, tự cảm nhận trong thân xác. Tập trung vào huyệt Bindu (Thiên Môn) ở phía sau đỉnh đầu, lắng nghe những tiếng rì rào trong cơ thể. Lập lại các động tác. Khởi đầu bằng 3 lần, sau tăng lên tối đa 12 lần
Ấn NAGA
Naga là nữ hoàng Rắn. Tượng trưng cho sức mạnh siêu nhiên, sự khôn ngoan và khả năng cũng có tên là “Ấn của cái nhìn sâu thẳm bên trong”
Giơ tay trái lên, lòng bàn tay hướng vào mặt với các ngón chỉ lên trên, đặt ngón cái tay phải ở giữa lòng bàn tay trái sao cho các ngón tay phải dựa vào lưng bàn tay trái. Để ngón cái tay trái bắt chéo qua ngón cái tay phải, các bàn tay ở ngang tầm ngực “ngay cả khi chúng ta đi trên con đường tâm linh nhưng đôi khi chúng ta vẫn còn vướng mắc chuyện trần thế.
Chỉ có bằng cách làm việc qua những thách đố này thì chúng ta mới mong tiến bộ được và chỉ có thế chúng ta mới đạt được tiến bộ trong cuộc sống. Bởi thế ấn Naga được dùng để giải quyết mọi vấn đề hàng ngày của chúng ta. Những câu trả lời cho các câu hỏi và các quyết định được làm, ý nghĩa của vấn đề đặc thù, tương lai và con đường tâm linh. Khi chúng ta cần biết điều gì lập tức chúng ta sẽ biết vào đúng lúc, nhưng với điều kiện là chúng ta phải đặt câu hỏi và luôn lắng nghe”.
Ấn cho cái Ta nội tại:
Đặt đầu các ngón tay trỏ, giữa ngón nhẫn và ngón út và các gò của bàn tay bạn, đặt ngón cái bên cạnh nhau, chúng dẫn tới các đầu ngón tay của các ngón út mà chúng chạm vào. Một khoảng rỗng qua đó ánh sáng lọt vô hợp bởi đầu các ngón út làm tăng cường năng lực của trái tim qua sự sống thiêng liêng. Giữ vị thế tay này ở trước trán nhìn qua lỗ hỗng càng lâu càng tốt, hạ tay xuống ngang cầm một lát, giữ hơi thở sau đó thở ra nhè nhẹ.
Bắt Ấn ( Mudra Yoga )
Ấn theo tiếng Phạn có nghĩa là “ Khép kín năng lượng”. Khi chúng ta khép kín năng lượng thì năng lượng được tập trung. Một khi năng lượng được tập trung thì có sức mạnh vô tận. Chúng ta có thể học được cách đạt tới năng lượng vô hạn của chúng ta bằng cách áp dụng việc bắt ấn.
Ấn biến đổi theo hiệu quả của mỗi ấn khác nhau trên cơ thể, tinh thần và tâm thức của con người. Ấn làm quân bình nguồn năng lượng cũng như kênh dẫn tới các trung tâm năng lượng đặc thù.
Ấn sử dụng bàn tay, mắt và toàn thân để kích động năng lượng. Lẽ dĩ nhiên là tất cả các ấn đều mang lại cho tinh thần một sự quy tụ tối hậu. Việc bắt ấn được thực hành trong suốt thời kỳ lịch sử loài người. Trước khi có ngôn ngữ cảm xúc được tạo các cử chỉ của các ngón tay để diễn đạt, để thông tin. Rồi tiến trình tiếp diễn các cử chỉ bàn tay hòa theo các từ, các câu và ngôn ngữ…
Bàn tay từng là biểu tượng của nguyện cầu và của năng lực cao hơn. Vào khoảng 1500 năm trước Thiên Chúa, thần RA đầy năng lực của Ai Cập được mô tả như chùm tia nắng tỏa ra ở mỗi bàn tay xòe ra. Ấn là phần rất quan trọng trong các lễ nghi tôn giáo, các nghi thức Ấn giáo và Phật giáo.
Ấn nguyện cầu với các bàn tay chắp lại tại con tim biểu tượng nguyện cầu và sùng kính đối với người Công giáo. Các cử động bàn tay được thực hành bởi các nhóm triết học, tôn giáo và tâm linh khác nhau trên khắp thế giới.
Thủ ấn còn được kết hợp vào các thực hành (thế tập) yoga khác nhau như là các chuỗi yoga tam điểm và pranayama, tập trung tư tưởng, cầu nguyện, thờ phượng, thiền định, khiêu vũ và các diễn đạt khác.
Bàn tay còn biểu hiện bản ngã của chúng ta nữa. Bởi lý do đó, có người từng nói là bắt ấn là một cách để liên lạc thông tin với Devi năng lực vũ trụ.
Bắt ấn có thể làm với một hay hai tay cùng một lúc. Tay phải tượng trưng cho ngoại ngã, tay trái cho nội ngã. Mỗi ngón tay lại có ngôn ngữ riêng. Loại ấn còn được xác định bởi các trạng thái khác nhau như nơi mà các ngón tay chạm vào, định chỗ và nơi chốn mà ấn được bắt.
Khi mà ấn bàn tay xòe lướt từ nơi này đến nơi khác thì cũng ví như bàn tay đang khiêu vũ. Các bàn tay xòe, khép vào những ấn khác nhau cũng giống những tư thế chuyển từ nơi này đến nơi khác.
Bàn tay được dùng để diễn tả, làm việc và chia sẻ với người khác. Chúng vô giá và mạnh mẽ. Bàn tay chúng ta là vật bán dẫn cho năng lượng vì chúng điều khiển năng lượng và làm tập trung tinh thần. Vì thế, sự áp dụng đúng đắn việc bắt ấn bằng tay có thể tăng cường vai trò bàn tay trong cuộc sống. Các cuộc nghiên cứu đã chứng minh rằng khi người ta làm các động tác bằng tay và cánh tay thì cũng giúp cho tiến trình suy tư.
Với một đại sư Yoga, bắt ấn khi được làm đồng thời có thể truyền đạt được năng lực. Có rất nhiều bức họa vẽ các vị Thánh với bàn tay ban phước lành hoặc của thiền sư, một người cầu nguyện và thiền định.
Thủ ấn Anjali – Ấn cầu nguyện
Khi chắp tay ở trung tâm trái tim, ấn Anjali tạo ra một cảm xúc tôn thờ, quân bình năng lực trí tuệ và thể xác, làm dịu tinh thần.
Thủ ấn Lakshmi Devi
Để tay vào ấn Anjali (tư thế cầu nguyện). Rẽ ngón thứ tư. Đặt các ngón thứ nhì đằng sau ngón thứ tư. Hướng đầu ngón thứ nhì về đầu các ngón cái. Chạm chúng nếu có thể. Đan các ngón thứ năm. Các ngón thứ nhất hướng ra ngoài, bên cạnh ngón kia.
Nhãn ấn
Thường được dùng như một cách thực hành Pratyahara, sự thâu nhận tâm trí từ các đối tượng giác quan.
Thông tin thu nhận bằng mắt thì nhiều hơn bất kỳ các giác quan khác. Người ta nói rằng gần 60% thông tin được thu nhận trong lúc chúng ta lắng nghe ai đó, là những gì chúng ta nhìn thấy. Xuyên qua sự quan sát, mắt thâu nhận phần lớn kiến thức từ giác quan. Vì thế, sự thâu nhận của tâm trí thông qua các đối tượng giác quan, mắt cần được nhìn thấy như cái cách mà sự vật diễn đạt. Có nhiều nhãn ấn cho mắt nhắm và khi mắt mở.
Hai mắt nhìn thấy hai mặt. Tại thế giới ngoại quan, từng cặp hiện diện đối kháng. Sự chiến đấu giữa thiện và ác, ánh sáng và bóng tối. Khi nhãn quan nội tâm khai mở, có một kinh nghiệm quyền lực vượt lên trên các cặp đối kháng nhau. Thượng trí bừng sáng và soi đường.
Để khai mở nội nhãn, ấn nhãn có thể giúp đỡ to lớn. Ấn nhãn hướng kênh năng lượng lên đến nội nhãn. Năng lượng tập trung về một điểm cụ thể nhờ sự kết hợp quyền lực tinh thần và vật chất của ấn nhãn.
Trong thiền định, một trãi nghiệm sự chuyển động tự nhiên của mắt có thể thành ấn. Hai mắt nhắm lại và nhìn hướng lên nhẹ, tự nhiên hai tròng bên trong, như dòng năng lượng hướng lên. Với cách này, ấn có thể được truyền dẫn như ngoại ấn (outside-in) hay ấn thể hiện (applying mudra) và nội ấn (inside-out) hay ấn tự sinh (spontaneous mudra).
Thân ấn
Hành giả yoga từ lâu đã khám phá ra rằng vị thế thân xác tối hậu để năng lực tuôn chảy và tinh thần được tập trung là để cho cơ thể buông xả trong tư thế ngồi tam giác. Ở tư thế ngồi, hai bàn chân là gốc của tam giác trong khi đầu là ngọn tam giác. Bởi vậy, thế ngồi hoa sen và các thế ngồi khác được chọn để ngồi thiền. Tùy theo công việc cơ thể được chọn thế đặc thù sẽ có công dụng tốt nhất. Tất cả các môn thể thao đều có tư thế đặc thù, người ta thay đổi thế tùy nhu cầu. Khi ngồi thẳng lưng thì ta sẽ cảm thấy có nhiều năng lực.
Bằng cách giữ sự buông xả trong hành động thì cơ thể trở nên ấn – yoga tam điểm di chuyển cơ thể vào ấn duyên dáng. Cơ thể cảm thấy quy tụ đầy năng lực để lấp đầy định mệnh con người.
VAI TRÒ CỦA VIỆC “KẾT ẤN” TRONG KHÍ CÔNG & TĨNH TỌA TỰ CHỮA BỆNH
Ấn thường được thể hiện trong các tranh, tượng của nhiều nền văn hóa khác nhau. Đặc biệt khi nói đến khí công và tĩnh tọa, nhiều người thường liên tưởng ngay đến các vị đạo sư hoặc những nhà khí công ngồi thiền, hai tay bắt ấn! Tại sao phải bắt ấn? Phải chăng ấn chỉ liên quan đến những điều huyền bí, mê tín, không giải thích được? Bài viết sau đây sẽ đề cập đến ý nghĩa và tác động khí hóa của ấn trong việc luyện tập khí công và tĩnh tọa tự chữa bệnh.
MỖI NGÓN TAY LÀ MỘT BIỂU TƯỢNG THU NHỎ CỦA CƠ THỂ
Án ma liệu pháp có lẽ là một hình thức trị bệnh tồn tại sớm nhất trong xã hội loài người. Liệu pháp này xuất phát từ những kinh nghiệm ngẫu nhiên day, ấn, bấm hoặc xoa bóp vào những vùng hoặc những điểm nhất định ở ngoài da để đạt được hiệu quả giảm đau trên những bộ phận ở xa hoặc sâu hơn trong cơ thể. Dần dần những nghiên cứu về hiệu ứng toàn tức sinh vật và phản xạ thần kinh đã làm sáng tỏ và phát triển thêm kinh nghiệm của người xưa. Những kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp với quan điểm truyền thống về Thiên nhân tương ứng. Con người và vũ trụ là đồng thể. Con người là một vũ trụ thu nhỏ. Xa hơn, mỗi một bộ phận riêng biệt của cơ thể cũng lại là một tiểu vũ trụ có những điểm tương đồng, tương ứng với cái toàn thể của cơ thể. Nổi bật nhất trong số những vùng phản xạ, những vũ trụ thu nhỏ là hai lòng bàn tay và cả những ngón tay, với các đầu ngón tay là cơ quan xúc giác chủ yếu, nơi tập hợp những đầu mút thần kinh vô cùng tinh tế và cũng là nơi khởi đầu (Tĩnh huyệt) của những đường kinh Dương.
Có thể nói mỗi ngón tay đều có đầy đủ đặc tính của cả cơ thể. Đầu ngón tay ứng với phần đỉnh đầu. Phần dưới của các ngón, nơi tiếp giáp giữa ngón tay và bàn tay ứng với phần hạ bàn; Ba đốt ngón tay tính từ đầu ngón trở xuống lần lượt tương ứng với 3 phần thượng tiêu, trung tiêu và hạ tiêu của cơ thể. Do đó về mặt khí hóa, kết ấn hay bắt ấn là tác động vào đầu ngón tay, hoặc các gốc ngón tay cũng đồng nghĩa với kích hoạt những huyệt ở vùng đỉnh đầu hoặc vùng xương cùng, hai khu vực thu, xả và giao hòa giữa nội khí của cơ thể với thiên khí hoặc địa khí của vũ trụ bên ngoài
MỘT SỐ HIỆU ỨNG KHÍ HÓA CỦA ẤN
Kích hoạt thăng giáng theo quy luật tự nhiên. Theo học thuyết kinh lạc của y học cổ truyền, các đường kinh Dương đi từ trên giáng xuống và các đường kinh Âm đi từ dưới thăng lên. Do đó khi cơ thể ở trong tình trạng thư giãn thích hợp, nếu tác động vào các đầu đường kinh thì kinh khí của các đường kinh sẽ lên hoặc xuống theo đúng quy luật của nó. Như vậy, khi ta ấn vào các đầu ngón tay là đã tác động trực tiếp vào Tĩnh huyệt của một đường kinh Dương và cả huyệt Bách hội ở đỉnh đầu – nơi tập hợp của các đường kinh Dương – nên có tác động giáng khí. Ngược lại, nếu ta tác động vào gốc các ngón tay sẽ kích hoạt hai huyệt Trường cường và Hội âm ở vùng xương cùng và các đường kinh Âm nên có tác dụng thăng khí. Y học cổ truyền cho rằng “thống tất bất thông, thông tất bất thống”. Hơn nữa, nếu các kinh mạch thông suốt thì những tạng phủ tương ứng cũng hoạt động điều hòa và cơ thể khỏe mạnh. Do đó, tác động thăng giáng luân lưu ở các đường kinh có ý nghĩa rất quan trọng trong việc dưỡng sinh và chữa bệnh.
Thiên Bệnh lý của Nội kinh có ghi “trăm bệnh sinh ra đều do nơi khí”. Đặc biệt là ở thời đại ngày nay, tính cạnh tranh cao và nhịp sống quá nhanh khiến con người thường xuyên phải lo lắng, căng thẳng. Chính những cảm xúc âm tính dai dẳng đã dẫn đến khí uất, khí nghịch – là đầu mối của nhiều thứ bệnh. Trong điều kiện này, nhất là ở giai đoạn đầu khi bệnh còn chưa gây ra những tổn thương thực thể thì chỉ cần điều hòa khí hóa, cân bằng âm dương, làm cho dương giáng, âm thăng, giải tỏa tình trạng khí uất, khí nghịch là đủ để phục hồi sức khỏe. Trong những trường hợp này, thư giãn và bắt ấn có lẽ là phương pháp nhanh, hiệu quả và thuận tự nhiên nhất trong việc tái lập tình trạng khí hóa bình thường
Khai mở một huyệt vị, khai thông một đường kinh, tăng cường nội khí. Y học truyền thống và khí công cổ đại đều cho rằng con người và vũ trụ thăng giáng, giao hòa thông qua hô hấp “hô tiếp thiên căn, hấp thu địa khí”. Sự giao hòa này diễn ra chủ yếu ở hai khu vực đỉnh đầu và xương cùng. Khi ta tác động vào đầu ngón tay và gốc ngón tay cũng là gián tiếp kích hoạt sự thu, xả ở những huyệt tương ứng như Bách hội ở đỉnh đầu, Hội âm và Trường cường ở vùng xương cùng. Sự kích hoạt của ấn có tác dụng lợi dụng thiên khí và địa khí làm mạnh dòng chảy của kinh mạch, qua đó có thể khai thông một đường kinh, một huyệt vị hoặc tăng cường nội khí trong cơ thể. Ngoài ra khi Nhâm Đốc đã được thông, động tác bắt ấn mỗi lần tập sẽ rút ngắn thời gian sinh khí và tăng cường chân khí để sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau.
NHỮNG ĐỐI ỨNG KHÁC NHAU GIỮA NAM VÀ NỮ TRÊN LÒNG BÀN TAY
Do những dị biệt về tính âm dương giữa nam và nữ, nam thuộc dương và nữ thuộc âm, nên vị trí tương ứng giữa hai huyệt Trường cường và Hội âm trên hai bàn tay phải và trái cũng tương phản nhau.
Ở nam, thiên khí từ đỉnh đầu qua nửa bên phải cơ thể xuống chân phải, địa khí theo chân trái đi lên, qua nửa bên trái cơ thể chạy lên đầu. Phần gốc các ngón tay thuộc tay trái ứng với huyệt Trường cường, phần gốc các ngón tay thuộc tay phải ứng với Hội âm. Ở nữ, thiên khí từ đỉnh đầu qua nửa bên trái cơ thể xuống chân trái, địa khí theo chân phải qua nửa bên phải cơ thể chạy lên đầu. Phần gốc các ngón tay thuộc tay phải của người nữ ứng với huyệt Trường cường, phần gốc các ngón tay trái ứng với huyệt Hội âm.
Sự khác biệt trên cần được lưu ý để không tác động nhầm lẫn vào Trường cường. Trường cường là gốc của chân Hỏa, chỉ được kích hoạt khi cần thiết và có giới hạn. Trường cường chỉ nên được khai mở và phát triển đồng bộ với sự phát triển của Nhâm Đốc và hệ kinh mạch chung. Trên thực tế, khi Nhâm Đốc đã được khai thông, chỉ cần tác động vào các đầu ngón tay, thiên khí sẽ tràn xuống theo mạch Nhâm. Khi đến cuối mạch Nhâm, tự khắc sẽ kích hoạt Trường cường đưa chân hỏa lên mạch Đốc, tuần hoàn thành một vòng Tiểu châu thiên mà không nhất thiết phải kích hoạt vào gốc các ngón tay.
Ngoài ra, việc nắm vững quy luật thăng giáng ở mỗi bên, bên phải hoặc bên trái còn có thể vận dụng để phát triển thành vòng Đại châu thiên bằng cách hít vào từ đỉnh đầu theo mạch Nhâm xuống chân phải (nam), và thở ra từ chân trái đi lên theo mạch Đốc đến tận đỉnh đầu. Do đó có cách nói hít một hơi chân khí từ Bách hội thông suốt đến đầu ngón chân cái, hoặc ngược lại từ đầu ngón chân cái lên đến tận đỉnh đầu.
MỘT VÀI ẤN TIÊU BIỂU

Đầu ngón cái chạm nhẹ đầu ngón trỏ ở cả hai bàn tay. Ngón trỏ là ngón ở gần ngón cái nhất. Do đó chỉ cần cong nhẹ hai ngón để hai đầu ngón chạm nhau là đủ để kết thành ấn, dễ tạo tình trạng buông lỏng cơ hai bàn tay hơn so với động tác đưa đầu ngón tay cái xa hơn để chạm với những đầu ngón khác như ngón giữa và áp út. Nói chung giống như các ấn tác động vào đầu ngón tay khác, ấn này có thể bổ sung kinh khí cho những đường kinh dương vì Bách hội là huyệt hội của những đường kinh Dương và mạch Đốc. Ngoài ra kèm theo động tác đầu lưỡi chạm nướu răng trên để thông Nhâm Đốc, thiên khí từ Bách hội cũng sẽ tràn xuống mạch Nhâm là bể chứa của các kinh Âm. Do đó ấn có tác dụng vào cả hai mạch Nhâm Đốc để tăng cường nội khí. (Hình 1)
Đầu ngón cái tay phải chạm đầu ngón áp út. Đầu ngón cái tay trái chạm đầu ngón giữa. Bên cạnh hiệu ứng chung thu Thiên khí và giáng khí, ấn này kích hoạt trực tiếp vào huyệt Quan xung ở gốc móng ngón tay áp út, Tĩnh huyệt của kinh Thiếu dương Đởm và Tam tiêu và huyệt Trung xung ở đầu móng ngón tay giữa, Tĩnh huyệt của kinh Quyết âm can & Tâm bào lạc. Do đó ấn có tác dụng rất tốt trong việc sơ tiết Can khí, thư giải khí uất trong những chứng bệnh do căng thẳng tâm lý lâu ngày làm rối loạn thần kinh giao cảm, dẫn đến nhức đầu, mất ngủ, đau cơ, hay cáu gắt, suy nhược thần kinh, rối loạn kinh nguyệt, rối loạn tiêu hóa…(Hình 2).
Hai bàn tay đan chéo nhau sát tận gốc các ngón tay đặt trước bụng dưới, lòng bàn tay để ngửa, hai đầu ngón tay cái chạm nhau. Các ngón tay chạm nhau ở sát phần gốc và lòng bàn tay để ngửa đã tác động vào các kinh Âm và có tác dụng thăng khí. Đây là một trong những ấn thường được sử dụng trong khi tĩnh tọa. Ấn có công năng thu âm khí và hóa khí. Huyệt Hội âm sẽ được kích hoạt, mạch Nhâm sẽ đi lên từ Hội âm, hướng năng lực tính dục thăng hoa lên phía trên để tái bổ sung cho cơ thể (Hình 3).
Đầu ngón cái tay phải chạm đầu ngón áp út tay phải. Đầu ngón cái tay trái chạm gốc ngón áp út tay trái (nam). Ấn này phối hợp giữa Thiên khí từ Bách hội giáng xuống theo mạch Nhâm và chơn Hỏa thăng lên từ Trường cường trên mạch Đốc, một lên một xuống nối thành vòng Tiểu châu thiên. Vì là ấn kích hoạt chơn Hỏa nên chỉ sử dụng giới hạn trong vài phút hoặc vài chục vòng Tiểu châu thiên trước khi tĩnh tọa hay chuyển sang các ấn bình thường ở đầu các ngón tay (Hình 4).
Đầu ngón tay cái chạm gốc ngón tay áp út, bao các ngón còn lại chung quanh ngón cái và nắm chặt thành quyền. Hai bàn tay giống nhau. Ở ấn này, đầu ngón cái chạm gốc ngón áp út ở cả hai tay đã kích hoạt Hội âm và Trường cường, động tác nắm các ngón tay thành quyền quanh ngón cái có tác dụng tập trung nội khí vào hai trục trung tâm, tức hai mạch Nhâm Đốc nên là một ấn tăng cường chân khí khá mạnh. Ấn có công năng làm ấm người, tăng sự can đảm, tăng cường chính khí để chống lại tà khí nên thường được gọi là Kim cang quyền ấn. Có lẽ đây là lý do khiến dân gian có tập tục nắm chặt ngón tay cái khi cảm thấy sợ sệt, mất bình tĩnh hoặc ban đêm phải đi qua những nơi tối tăm, lạnh lẽo (Hình 5).
Áp hai bàn tay vào nhau, đan chéo hai ngón áp út và ngón út của hai bàn tay, hai ngón tay giữa thẳng lên, hai đầu ngón giữa áp vào nhau, hai ngón tay trỏ chạm vào lưng lóng giữa của ngón tay giữa cùng bên, hai đầu ngón cái cùng áp lên lóng giữa của ngón tay áp út bên phải. Ở ấn này, hai ngón trỏ tác động vào chỗ giao liên của hai lóng đầu và lóng giữa của ngón giữa, và hai đầu ngón cái tác động vào lóng giữa ngón áp út phải nên có tác dụng tập trung chơn khí vào khu vực giao tiếp giữa trung tiêu và thượng tiêu. Trên thực tế, khi bắt ấn này, nội khí toàn thân sẽ hướng về huyệt Cưu vĩ. Cưu vĩ nằm trên mạch Nhâm, phía dưới chỗ gặp nhau của hai bờ sườn, tương ứng với Luân xa 4 của khí công Ấn Độ. Nơi đây có một biệt lạc thông với mạch Đốc. Cưu vĩ là mộ huyệt của Tâm. Trong châm cứu học, Cưu vĩ có tác dụng trấn kinh, định thần, thư thái lồng ngực. Do đó ấn này có tên gọi là ấn định tâm (Hình 6). Tóm lại có thể nói ấn bao gồm nhiều hình thức, nhiều tư thế khác nhau của những ngón tay, riêng lẻ hoặc phối hợp cả hai bàn tay, nhằm điều chỉnh khí hóa, định tâm an thần hoặc tăng cường chân khí.
BẮT ẤN (Mudra – Body posture :Thân ấn)
Ấn là gì ?
Là các tư thế khác nhau của cơ thể có nghĩa gốc là thư giãn. Nó có nguồn gốc từ Yoga. Đó là một loại yoga dễ hiểu và làm được dễ dàng. Nó vận hành giống như các nguyên tắc bấm huyệt và châm cứu. Nó dễ đến độ trẻ con cũng có thể làm được mà không mấy khó khăn.
Chỉ dẫn : Trước khi bắt ấn, hãy thở sâu, thư giãn tinh thần, ngồi xếp bằng hoặc ngồi bán già hoặc kiết già để bắt đầu bắt ấn.
Ấn Ling

Đan chéo các ngón tay lại với nhau và để ngón tay cái vào phía bên trong và giơ ngón cái lên dựng đứng.
Công dụng : rất có ích để chữa bệnh ho.
Ấn Shunya :

Gập ngón tay giữa lại nhấn ngón cái lên ngón giữa (bằng lòng của ngón cái) theo như hình vẽ, ba ngón còn lại thẳng.
Công dụng : rất có ích cho việc chữa các bệnh ở tai. Chúng ta nên làm ấn này từ 4 đến 5 phút nếu có vấn đề về tai : điếc , chảy nước tai
Ấn Prithvi :

Đè ngón tay cái lên ngón út, còn các ngón khác giữ thẳng.
Công dụng : Làm tăng sức mạnh cho cơ thể và tống khứ mọi sự mệt mỏi, uể oải ra khỏi cơ thể.
Ấn Surya :

Cong ngón nhẫn vào lòng bàn tay và đè ngón cái lên như hình vẽ (chạm vào móng của ngón đeo nhẫn bằng lòng ngón tay cái), ba ngón còn lại thẳng.
Lợi ích : Tống khứ mỡ thừa ra khỏi cơ thể.
Ấn Gyan :

Cong ngón trỏ và ngón cái chạm vào nhau, các ngón khác thẳng
Công dụng : rất có ích trong việc chữa bệnh thần kinh rối loạn, mất ngủ (ngủ quá nhiều hoặc ít ngủ). Kém trí nhớ, người có tính nóng nảy. Thực hiện ít nhất 30 phút mỗI ngày.
Ấn Varun :

Ngón cái và ngọn giữa chạm đầu vào với nhau, giữ các ngón khác thẳng
Công dụng : rất hữu dụng trong việc chữa trị bệnh thiếu máu (ít hồng huyết cầu) và các bệnh ngoài da.
Ấn Pran :

Cong hai ngón út và ngón nhẫn lại và cho chạm vào ngón cái. Các ngón khác thẳng
Công dụng : Để làm giãm bệnh cận thị cho mắt và giải quyết các vấn đề khác về mắt.
Ấn Vaayu :

Cong ngón trỏ và đè ngón cái lên lưng ngón trỏ như hình vẽ (chạm lên lưng trên móng của ngón trỏ bằng lòng ngón tay cái) . Giữ ba ngón kia thẳng
Công dụng : Rất có ích cho việc cho việc chữa trị các bệnh về khớp. Kết hợp cùng với ấn Pran lại càng tốt hơn.
Filed under: Kinh Nghiệm Giải Nghiệp Bệnh



http://nghiepbenh.wordpress.com/2010/11/17/bai-45/