2-Và nay...
Từ sau thời kỳ đổi mới năm 1986, đời sống tâm linh tín
ngưỡng trong xã hội nói chung được cởi mở, tự do hơn so với thời kỳ bao
cấp XHCN. Theo đà thời gian, bộ mặt tín ngưỡng hỗn dung của người Việt
lại được dịp phục hưng với đủ mọi sắc thái đa diện, xem ra còn phức tạp,
hỗn loạn hơn cả thời kỳ phong kiến trước CM tháng 8. Hơn 10 năm trở lại
đây, cùng với phong trào phục dựng những giá trị di sản văn hóa dân
tộc, các lễ hội tín ngưỡng ở nhiều địa phương trong cả nước cũng dần
được khôi phục. Thế nhưng điều đáng nói, trong xã hội hiện đại, đã bắt
đầu nảy sinh những hiện tượng biến tướng ở nhiều hình thái tín ngưỡng.
Trong đó có những vấn đề ngày càng trở nên bức xúc, được phản ánh nhiều
trên công luận, như hiện tượng kinh doanh các dịch vụ tâm linh ở những
cơ sở tín ngưỡng là ví dụ điển hình. Ở đây, trong xu thế phát triển văn
hóa nói chung, việc biến các lễ hội thành sản phẩm du lịch trở nên một
nhu cầu thiết yếu. Bởi thế việc cố gắng tận thu tiền bạc của du khách 4
phương là một hệ quả không thể khác. Đời sống càng khó khăn, động cơ
thương mại càng được đẩy cao hơn bao giờ. Có những nơi, khi mở hòm công
đức mỗi năm cũng đếm được cả hơn chục tỉ đồng mỗi hòm. Ở Hà Nội dịp đầu
Xuân, nhiều ngôi chùa cũng công khai thu phí cúng sao giải hạn, dao động
từ vài trăm nghìn đến cả tiền triệu mỗi suất cúng. Nhiều đàn cúng giải
oan, cầu siêu... có giá cả dao động từ vài chục đến hằng trăm triệu đồng
tiền thuê khoán sư sãi, thầy cúng... Có thể thấy, nguồn thu từ các hoạt
động tâm linh tín ngưỡng quả là siêu lợi nhuận. Xã hội càng tín ngưỡng,
càng mê đắm bao nhiêu, các đình, chùa, đền, miếu... càng có nguồn lợi
lớn bấy nhiêu. Chính vì vậy ở nhiều nơi, quyền cai quản cơ sở tín ngưỡng
đã được chính quyền tổ chức đấu thầu hệt như một đầu mục thương mại địa
phương. Tùy vào tiếng tăm linh thiêng của những ngôi đền mà người ta sẽ
quyết định mức giá. Có những nơi sau khi thắng thầu, thủ nhang đồng đền
phải nộp vào ngân sách địa phương hàng tỉ bạc mỗi năm.

Nhiều năm qua, báo chí cùng các phương tiện truyền thông
liên tục phản ánh mọi thực trạng đáng quan ngại, được xem như hệ lụy của
phong trào đua chen tín ngưỡng với nhiều vấn nạn nhức nhối. Ở đây, hệ
thống quản lý Nhà nước dường như phải mở cuộc chạy đua với đời sống tín
ngưỡng trong xã hội mới. Cấm/ cho phép/ cấm... luôn là quá trình vận
động vá víu, đối phó với thực tiễn từ nhiều chục năm nay của các nhà
quản lý. Chuyện “bắt cóc bỏ đĩa” là thực trạng thường thấy. Trên thực
tế, việc đòi hỏi khâu tổ chức lễ hội trở nên quy củ, an toàn lành mạnh
và trong sáng dường như là nhiệm vụ bất khả thi.
Thứ nhất, xưa
các lễ hội chủ yếu chỉ quy tụ dân cư thu hẹp trong từng vùng. Nay với sự
quảng bá hấp dẫn của truyền thông, số lượng người hành lễ, chơi hội đổ
về luôn quả tải trên mọi địa bàn. Do vậy, việc khống chế, kiểm soát
lượng người trong những không gian nhỏ hẹp là điều bất khả kháng với ban
tổ chức.
Thứ hai, khi phục hưng các lễ hội, rất nhiều tín
ngưỡng dân dã có dấu vết từ thời nguyên thủy cũng đồng thời “hồi sinh”,
đánh thức sự trục lợi bản năng của con người với thần linh. Thực tế cho
thấy, sự mê đắm của đám đông tín ngưỡng khổng lồ rất dễ biến thành thảm
họa bởi hiệu ứng tâm lý đám đông, khả năng kiểm soát an ninh dường như
là điều không thể. Nhiều năm qua, việc hàng vạn người từ quan chức tới
dân đen dẫm đạp lên nhau để cướp ấn đền Trần, hay lượng người hành lễ
khổng lồ tràn ngập chặn đứng giao thông Ngã Tư Sở trước cổng chùa Phúc
Khánh để dâng lễ xin sao giải hạn, cầu tài lộc... đã chứng minh sức mạnh
kinh hoàng của niềm tin tín ngưỡng “hồn nhiên” như thế nào! Ở đây, vấn
đề không chỉ nằm ở khâu tổ chức, mà điều quan ngại chính là
trình độ tín ngưỡng, tạm coi như “tín ngưỡng trí” của xã hội, hiện đang ở mức không thể kiểm soát.

Những năm gần đây, các cuộc hành hương về lễ hội tín ngưỡng
là vấn đề nóng bỏng trong xã hội. Những nguy cơ tai nạn, thảm họa đám
đông luôn thường trực mỗi độ Xuân về. Ở đây, chỉ xem xét cách thức hành
hương cùng niềm tin tín ngưỡng trong các lễ hội đó đã thấy trình độ tín
ngưỡng người Việt thời nay như thế nào. Ví như vụ Khai ấn đền Trần Nam
Định, vốn là một sinh hoạt xưa của những thanh đồng phủ thủy. Đầu Xuân,
họ thường đến xin lá ấn ở đền thờ Đức Thánh Trần, những mong thánh phù
hộ cho công việc bắt ma trừ tà của giới nghề. Cần thấy rằng, chiếc ấn gỗ
đó cũng là hàng mới thửa, không có ý nghĩa như một bảo vật lịch sử. Thế
nhưng dần dà về sau, theo đường thì thầm rỉ tai lan truyền, chuyện
“thiêng hóa” chiếc ấn với sức mạnh “phù danh”, “ban tài phát lộc” đã
nhanh chóng lan truyền khắp nơi. Đến nỗi nhiều quan chức Nhà nước năm
nào cũng đua nhau đánh xe công kéo về đền Trần xin ấn. Gần đây, một vị
cựu quan chức cấp cao của bộ VHTT&DL cũng từng công khai thú nhận
với báo chí rằng trong 10 năm đương chức, ông ta đều lấy ấn đền Trần, do
người thân tặng hoặc tự tay xin ấn. Vị này cũng tiết lộ thêm rằng không
chỉ ông ta mà nhiều quan chức khác cũng đi xin ấn như mình.

Nhiều năm nay ở Hà Nội, có ngôi chùa đã công khai đọc vào
loa phát thanh tên các vị lãnh đạo cấp cao đăng ký dâng sao giải hạn mà
không còn e ngại. Và giờ đây, nếu có nghe chuyện vị lãnh đạo nọ kia chăm
đi lễ bái, cầu cúng... hay thậm chí có làm lễ trình đồng mở phủ hầu
bóng thì cũng không lấy gì làm lạ. Thời mở cửa tự do tín ngưỡng, sao bắt
bẻ được người ta?! Thế nhưng vấn đề ở đây là câu chuyện “quan trí” đầu
têu cho “dân trí”. Dễ thấy người dân sẽ hồn nhiên suy đoán, rằng các
quan nhờ chăm lễ bái, cúng tế nhiều tiền, đốt nhiều vàng mã nên mới có
chức tước, danh vị, bổng lộc, mình làm theo không được nhiều thì cũng
được ít lộc vãi vương, cũng tốt! Bởi thế, mới nảy sinh hiện tượng đồn
đại rằng cứ đền chùa nào có nhiều quan to đến lễ bái là đám dân đen a
dua hành hương ăn theo, khiến cho vấn nạn thảm họa đám đông ngày càng
trở nên khó kiểm soát. Chưa biết rồi đây hướng xử lý ra sao, nhưng qua
sự kiện đó, sẽ thấy được tầm “quan trí” đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới “dân
trí” trong tín ngưỡng như thế nào. Thời nay, cứ mỗi mùa lễ hội, nguy cơ
thảm họa đám đông với đủ mọi điều bất cập về an ninh trật tự ở các cơ sở
hành lễ tín ngưỡng luôn được phản ánh nhan nhản trên khắp các mặt báo.
Trong sự sống dậy của các tín ngưỡng cổ xưa, vụ việc lùm
xùm xoay quanh chuyện “cụ rùa” Hồ Gươm cũng là một biểu hiện sống động
về sự hồi sinh của quan niệm vạn vật hữu linh thời nguyên thủy. Trên
thực tế, “cụ rùa” vốn chỉ là một giống ba ba khổng lồ ăn thịt, dân gian
gọi là con giải. Thế nhưng với niềm tin tâm linh đồn đại, con vật đã dần
dà được thiêng hóa thành con “rùa vàng” truyền thuyết gắn với tích trả
gươm thần của Lê Lợi từ thế kỷ 15. Bất chấp sự phi lý lịch sử như thế
nào, bất chấp những bằng chứng khoa học rằng đó không phải là rùa và
không chỉ có 1 con duy nhất, những người có tín ngưỡng vẫn khăng khăng
bảo lưu ý kiến của mình, tạo nên những cuộc tranh cãi nảy lửa trên khắp
các phương tiện thông tin đại chúng. Điển hình như vị GS nọ đã phản ứng
gay gắt với phóng viên khi dám gọi đó là... “con rùa”. Với ông, phải gọi
là “cụ rùa” thì mới chịu trả lời phỏng vấn! Thậm chí có những người
cuồng tín còn khóc rưng rức, hay nhảy xuống hồ rắp tâm hầu hạ “cụ rùa”…
Rồi khi lực lượng chuyên trách tổ chức vây bắt để chữa bệnh cho con
giải, người ta còn mời cả thầy cúng xem giờ, xuống thuyền sắm sanh lễ
bái trước khi tiến hành như thể con giải đó là rùa thần thứ thiệt… Thôi
thì đủ mọi chuyện dở khóc dở cười với cái ý thức tâm linh hồn nhiên,
vốn xưa cũ từ thời nguyên thủy. Có gia đình, với niềm tin kiểu “thần cây
đa, ma cây gạo”, sức khỏe và sinh mạng của những người thân được gán
cho một cái cây mọc trong vườn nhà. Họ tin rằng hễ cây ấy héo là người
thân lâm bệnh, còn nếu không săn sóc tốt nhỡ để cây chết khô thì người
nhà họ cũng toi mạng. Thời nay, chuyện đám đông thắp hương khấn khứa một
cái cây góc phố, một hòn đá ven đường vẫn tồn tại đây đó. Sẽ không thấy
lạ cái chuyện người người chen nhau lễ bái xì xụp, nhưng hỏi địa điểm
đó thờ gì, sự tích ra sao, phần lớn không ai hiểu. Cứ thấy bảo thiêng
lắm thì đi lễ thôi, còn những chi tiết cụ thể không thành vấn đề và cũng
chẳng cần minh xác. Thế mới biết tâm lý “bán tín bán nghi” trong truyền
thống tâm linh người Việt có sức mạnh như thế nào, thôi thì “có thờ có
thiêng, có kiêng có lành”, cho chắc ăn! Có lẽ vì thế, hành vi trục lợi
bất chấp sự vi phạm giáo lý Phật pháp như việc đốt vàng mã, hình nhân,
rải tiền bừa bãi, nhét tiền vào tượng Phật… nơi cửa thiền là điều không
có gì lạ. Sự vụ lợi của con người thường là vậy, họ sẵn sàng coi Phật
thánh... không khác gì những quan tham trần thế kiểu “trần sao âm vậy”,
cứ đắm đuối tin rằng càng cúng nhiều, thánh thần sẽ càng ban nhiều tài
lộc... Niềm tin của người Việt “hồn nhiên” lắm, từ ngàn xưa đã vậy!

Ở nhiều nơi, hiện tượng coi chùa này thiêng hơn chùa kia là
chuyện khá phổ biến. Người dân từ bao đời luôn hồn nhiên tin rằng đi
chùa này có thể cầu sao giải hạn, cầu danh, đi chùa kia có thể cầu tài
lộc, cầu tình duyên… Với hiệu ứng tâm lý đám đông lan truyền đồn thổi,
việc quá tải ở các cơ sở tín ngưỡng “linh thiêng” luôn là vấn nạn đối
với cơ quan quản lý sở tại. Cần hiểu rằng Phật giáo vốn là một hệ tư
tưởng triết học, đạo đức lớn. Chùa chiền là nơi để con người tìm đến một
niềm tin cao cả dựa trên cơ sở
tu tâm hướng thiện từng cá thể,
hoàn toàn không phải là nơi trục lợi, trao đổi vật phẩm cúng bái để
phục vụ cho những ham muốn trần tục. Ở đây, không chỉ là vấn đề thiếu
hiểu biết của người dân về giáo lý, mà chính các nhà sư trụ trì cũng cần
xem lại trách nhiệm về những gì đã và đang diễn ra ở cơ sở thờ tự của
mình. Việc hiểu sai giáo lý nhà Phật đương nhiên sẽ dẫn đến những hành
vi phạm giới. Xin nêu một ví dụ đơn giản. Khái niệm
Tam độc của Phật giáo bao gồm
tham- sân- si.
Khi đến cửa thiền mà không thấu hiểu giáo lý, đốt vàng mã, nhét tiền
vào tượng, mang cả rượu thịt vào chùa, tin rằng cúng càng nhiều càng có
cơ may hưởng phúc.., vô tình những người tham dự đều phạm phải điều răn
thứ nhất (
tham = tham lam, ham muốn) và thứ ba (
si =
ngu si, mê muội). Còn khi lòng tham biến thành sự cuồng nộ dẫm đạp tranh
giành lộc lá, vật phẩm, họ tiếp tục phạm giới điều răn thứ hai (
sân
= nóng nảy, giận dữ). Trên thực tế, còn vô số những điều nhạy cảm khác
nữa mà nhiều người e ngại chẳng muốn nói ra, như lối sống sung túc, xa
hoa trên mức cần thiết với một nhà tu hành thời nay như vật dụng hàng
hiệu, xe máy đắt tiền, ôtô sang trọng... nơi cửa thiền. Vậy số tiền đó ở
đâu ra nếu không lấy từ nguồn công đức khổng lồ thu về mỗi năm của nhà
chùa? Đây đáng được xem như một vấn nạn của Phật giáo Việt Nam đương
đại.
Nếu nhìn lại suốt chiều dài lịch sử, có lẽ chưa bao giờ mọi
sinh hoạt tín ngưỡng của người Việt lại có cơ nở rộ muôn hình vạn trạng
như hiện nay. Điều đó có nghĩa truyền thống hỗn dung tín ngưỡng được
đẩy lên một bình diện mới mà ở góc nhìn toàn bộ, có thể coi như một sự
hỗn tạp đáng quan ngại. Khắp nơi, người người cúng bái, nhà nhà xây mộ,
từ quan chí dân đua chen hành hương lễ bái tấp nập, khẩn cầu danh lợi
với thế giới siêu hình. Một thế giới “linh thiêng tổng hợp” đủ những
Phật, Mẫu, thánh, thần, Ngọc Hoàng, chầu, cô, thần tài, thổ địa, tổ tiên
ông bà, thần núi, thần sông, ông công ông táo, vong hồn đủ loại... Kèm
theo đó là lực lượng giao tiếp trung gian, thường phối hợp giữa những sư
sãi, ông đồng, bà cốt, thầy cúng, thầy bói, thầy phù thủy, thầy địa
lý.., mọc lên nhan nhản như nấm sau mưa với đủ mọi kiểu dạng. Với mục
đích thực dụng vụ lợi, vốn được xem như bản năng nguyên thủy của thế
giới tâm linh, giờ đây việc cúng lễ trên chùa, đền, phủ, đình, điện,
miếu dường như đã trở thành một thao tác mang đậm tính thương mại tín
ngưỡng, không thể khác. Trong xu thế đó, khá nhiều nghề dịch vụ tâm linh
ăn theo cũng đua chen phát triển nở rộ. Ví như tục đốt vàng mã vốn học
từ Trung Quốc, hiện ngày càng cường thịnh song hành với đời sống tín
ngưỡng dân gian phục sinh. Với quan niệm “trần sao âm vậy”, vàng mã thời
nay đã cải tiến và thay đổi mẫu mã cơ bản so với thời cổ truyền. Thôi
thì đủ mọi chủng loại từ trang phục tân thời, đồ đạc hiện đại như xe
máy, ti vi, tủ lạnh, nhà lầu, xe hơi, điều hòa, máy tính, máy giặt, điện
thoại di động... cho đến mẫu mã tiền tệ kiểu mới. Trong đó đáng chú ý
là kiểu dạng tiền mã đô la Mỹ, tiền mã Việt Nam hiện đại.., được tiêu
thụ song hành cũng tiền mã “ngân hàng địa phủ”, rất khôi hài. Có những
đàn cúng lớn, giá trị đồ mã bao gồm ngựa, voi, hình nhân, quần áo, dày
dép, mũ mão... lên đến hàng trăm triệu. Ở nhiều nơi, việc đốt số lượng
vàng mã khổng lồ thực sự đẩy cao nguy cơ cháy nổ, ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng. Ở đây, niềm tin dân dã rằng càng đốt nhiều, càng hưởng lợi
đã khiến môi trường công cộng phải chịu khá nhiều hệ lụy. Có những cơ
sở tín ngưỡng công cộng, mỗi kỳ khánh tiết, do khối lượng tro tàn vượt
quá sức chứa nơi thu gom rác thải, ban quản lý đã cho đổ thẳng xuống
cống, bất chấp nguy cơ ách tắc nguồn thoát nước đô thị. Những gia đình ở
phố thì mang ra vỉa hè hay lòng đường hóa vàng, có khi lửa cháy lõm cả
mặt đường nhựa. Thế nên mới hiểu tại sao ăn theo dịch vụ vàng mã là hệ
thống các chủng loại lò tôn hóa vàng di động cho các hộ gia đình đô thị.
Thời nay, phong trào đốt vàng mã lan rộng và biến thái đến mức rất
nhiều khu chung cư hiện đại, ban quản lý buộc phải xây thêm một lư hương
hóa vàng to đùng ở sân trước mỗi khu để đảm bảo an toàn cho các hộ dân
cư. Mới thấy tín ngưỡng thời nay ảnh hưởng cả đến kiến trúc đô thị hiện
đại như thế nào!

Trong cơ chế thị trường thời mở cửa, không hiếm các “quan
thầy” tự tung tự tác, thường kiêm nhiệm cả chức năng thầy bói, thầy
tướng, thầy địa lý kiêm thầy đồng cốt, ngoại cảm, kể cả việc tự nhận
“thần tiên giáng bút” để thu tiền thiên hạ... Với thông tin rỉ tai lan
truyền đồn đại, những vị “thầy đa năng” đó được xem như đa tài đa dụng,
từ xem đất cát mồ mả, xem hướng nhà cửa, bếp núc, kích cỡ giường tủ bàn
ghế, cửa rả, xem giờ xuất hành làm ăn buôn bán, ma chay cưới xin cho đến
cầu cúng giải hạn, trừ tà tróc quỷ, gọi hồn người chết, sai khiến âm
binh... Có thể nói nôm na gi gỉ gì gi cái gì thầy cũng làm được tất. Có
những trường hợp “cao tay”, thầy đồng, cô đồng còn xưng xưng tuyên bố là
gọi được cả linh hồn của những anh hùng dân tộc, các vị lãnh tụ đi mây
về gió để làm theo những điều cô sai bảo. Ghê gớm hơn, có cô đồng còn
huyênh hoang rằng mình gọi được cả hồn của Bin Laden, cô gọi đó là anh
hùng đánh Mỹ... Nhà nào có việc gì hạn lớn họa bé, cô/thầy giải quyết
hết. Nhà nào còn sót chưa thờ cúng ai, dù là bà cô, ông mãnh nào cũng
gọi hồn về bằng hết để phù hộ cho con cháu ăn nên làm ra, buôn may bán
đắt. Có muôn vàn những câu chuyện, những giai thoại về tín ngưỡng hỗn
độn thời nay nhiều không kể xiết. Nhưng có lẽ việc gọi hồn là điển hình
nhất với vô số những câu chuyện thực thực hư hư, đồn đại khắp nơi và
nhan nhản trên các trang mạng xã hội.
Đáng chú ý, cái nghề đồng cốt này thời xưa gọi là nghề
cô hồn, nay được thay bằng cái tên mới là
nhà ngoại cảm
gọi hồn, áp vong... Thời nay, so với quá khứ, có lẽ chưa bao người ta
lại dành nhiều thời gian và tâm lực cho thế giới âm hồn đến vậy. Ngay
giữa lòng thủ đô, nhiều năm trở lại đây, phong trào gọi hồn có thể nói
đã lên đến đỉnh điểm với trung tâm gọi hồn ở số 1 phố Đông Tác, được
thành lập dưới sự bảo trợ của cơ quan nhà nước. So với thủa ban đầu vận
hành, hiện các loại thầy cốt cô đồng nơi đây đã công khai hành nghề mang
tính thương mại. Thậm chí, gần đây, những gia đình có nhu cầu gọi hồn
khi đến trung tâm thường được nhân viên ngang nhiên “mời khéo” mua hàng
đa cấp với giá trên giời. Ai chấp nhận sẽ được chen ngang ưu tiên gọi
hồn trước, còn không sẽ phải xếp hàng chờ đợi, có khi cả tháng chưa đến
lượt. Ở những đền phủ lịch sử hay điện thờ tư gia, xưa nay các đồng cốt
thường chỉ “tiếp khách” lần lượt từng gia đình một. Nhưng ở trung tâm
gọi hồn Đông Tác, do đông khách cũng như sẵn “quan thầy ngoại cảm” nên
người ta thường tổ chức gọi hồn đồng loạt tập thể trong căn phòng lớn.
Những ai có nhu cầu chỉ cần đặt lễ tiền, vàng, hương, hoa... lên 1 ban
thờ chính rồi cứ quây quần mỗi nhóm gia đình chí ít 4 người “ngồi thiền”
tĩnh tâm đợi vong về nhập. Bao giờ một trong số họ thấy người lắc lư
mặt mũi tối xầm là… vong về. Khi đó các quan thầy sẽ đến khấn khứa, đặt
tay lên đầu người bị vong nhập, gọi là “trợ giúp” để “thông cõi âm
dương” cho âm hồn về, rồi mượn miệng chính người đó mà phán truyền. Nếu
trường hợp vong hồn chưa “nhập” thì cứ thành tâm mà đợi hàng tiếng đồng
hồ hoặc ra đặt lại lễ xin ở ban thờ hay nhờ quan thầy khấn giúp... Có
điều lạ, nơi đây dù không phải chùa nhưng ban thờ chính vẫn được gọi là
“Tam bảo” thờ Phật đàng hoàng. Dư luận về trung tâm gọi hồn này rất trái
chiều, người thì cho là đúng và thiêng lắm, kẻ thì bảo là lừa đảo tập
thể kiếm tiền bạc tỉ.
Trong các vụ việc lùm xùm cúng bái giao tiếp với âm hồn, sự
lập lờ đánh lận con đen trong quan niệm khoa học tâm linh, việc cố lý
giải những hiện tượng siêu nhiên, bất thường cùng các thao tác tín
ngưỡng, tôn giáo ngày càng trở nên đan xen hỗn độn. Ở đây, chỉ nhìn vào
chuyện mồ mả vong hồn, đã thấy được niềm tin của người thời nay biến đổi
như thế nào so với thế kỷ trước. Cả chục năm trở lại đây, phong trào
tìm hài cốt, gọi hồn người thân, xây cất mồ mả... đã trở nên sôi động
hơn bao giờ. Có thể tìm thấy trên các phương tiện truyền thông rất nhiều
câu chuyện hư hư thực thực, bán tín bán nghi cũng như dở khóc dở cười
xoay quanh chủ đề này. Khắp nơi, chưa bao giờ việc hoành tráng hóa các
khu mộ phần lại trở nên chủ đề nóng bỏng trong đời sống xã hội. Thậm chí
có những vùng quê, sự tốn kém đến kinh ngạc của phần mộ ông bà tổ tiên
hoàn toàn tương phản với đời sống còn nhiều khó khăn cơ cực của người
dân sở tại. Bên cạnh niềm tin tâm linh, dường như cái áp lực “miệng
tiếng thế gian” chính là động cơ quan trọng thúc đẩy hiệu ứng tâm lý đám
đông đua tranh. Có nghĩa, dù tin hay không, nhưng việc để mồ mả họ tộc
nhà mình không to đẹp, bề thế hơn các nhà khác là điều không thể chấp
nhận. Nói cách khác, dưới góc độ vật chất, việc thờ cúng tổ tiên thời
nay không chỉ để thỏa mãn nhu cầu tâm linh tín ngưỡng mà còn là dịp để
thể hiện cái tôi/ gia đình/ dòng họ trước cộng đồng. Thế nên không có gì
lạ khi cuộc chạy đua xây cất mồ mả trở nên vấn đề nóng bỏng. Dù xa xôi
cách trở rừng núi như thế nào, chỉ cần có thầy cúng, cô đồng nào đó phán
truyền là nhiều gia tộc lại khăn gói lên đường, miễn sao quy tập được
càng nhiều càng tốt hài cốt người thân về nơi “đất tốt”- tất nhiên cũng
do thầy địa lý chỉ bảo sắp đặt. Thời nay, dịch vụ tìm mộ được xem như
một thị trường cung cầu rất sôi động. Và, người ta cũng sẵn lòng bỏ chi
phí tốn kém hàng chục đến hàng trăm triệu đồng cho việc xây cất phần mộ
gia tộc.
Trong công cuộc tìm mộ người thân, việc xác định danh tính
hài cốt cũng là vấn đề nổi cộm. Trên thực tế không hiếm trường hợp “bộ
xương” mang về chỉ đơn giản là một tổ mối với nắm đất đen chứ chẳng có
hài cốt nào cả. Thường thì người ta không đưa đi xét nghiệm AND với lý
do “không nỡ” làm thế với “nắm xương tàn” của người thân, rằng thời gian
qua đi, xương thịt tan thành đất cát thì cũng dễ chấp nhận. Thế nên mới
có chuyện nhà ngoại cảm nọ tìm được cả số lượng khủng hài cốt, tới hàng
trăm mộ mỗi năm. Mà phần nhiều họ chỉ hướng dẫn các thân chủ từ xa qua
điện thoại di động, mới kinh! Cũng có trường hợp, gia đình không thể tìm
được hài cốt người thân, cô đồng, thầy phủ thủy bèn bày cho cách lập mộ
khác. Họ thuê thợ đẽo các hình nhân đá, rồi làm lễ gọi hồn về nhập
tượng và đem chôn trong phần mộ gia tộc với quan niệm, linh hồn mới quan
trọng chứ không phải nắm xương vật chất. Có lẽ, cách lập mộ này nhanh
gọn hơn cả! Trong nhiều năm qua, việc gọi hồn áp vong thực sự gây dư
luận trái chiều mạnh mẽ, đến mức có nhà nghiên cứu thôi miên đã từng lên
báo mạng thách đố các nhà ngoại cảm nếu chỉ tìm đúng 3% hài cốt (xác
định ADN) thì ông sẽ hiến cả gia sản, còn nếu không xin cắt lưỡi nhà
ngoại cảm đó để hết nói láo. Bản thân một nhà ngoại cảm nổi tiếng cũng
tuyên bố mặt trái nguy hiểm của việc áp vong. Đại khái ông cho rằng các
hồn ma lang thang sẽ nhập bừa vào người áp vong, nhận xằng là người thân
để quấy nhiễu, phán truyền lung tung... Trên thực tế, những người mê
tín khi giao tiếp, thông linh với các “vong hồn” rất dễ (có khả năng) bị
“quỷ ám”, dân gian cũng gọi là quỷ nhập tràng. Ở góc độ tâm lý học,
người bị “vong nhập” thực chất bị rơi vào trạng thái tự kỷ ám thị nặng
nề, điều này đã được khoa học chứng minh từ lâu. Vậy mà không ít người
thời nay vẫn đua chen giao tiếp với “âm hồn”, và đã có trường hợp những
người không hồi tỉnh được, gần như hóa điên phải nhập viện.

Thế đấy! Thời nay một mặt người ta vẫn lễ chùa quy Phật, chấp nhận thuyết
nhân quả- luân hồi
với quyền năng phán xử của Địa Tạng Vương Bồ Tát. Một mặt người ta vẫn
khăng khăng gọi hồn, tìm mộ xây mồ với quan niệm chưa xác định và quy
tập được hài cốt, chưa cúng bái đủ lệ bộ thì người chết vẫn vất vưởng
không nơi nương tựa, trở nên những vong hồn lang thang đáng thương vô
định. Rồi hệ thống những vong hồn đó còn phải được lập đàn cầu siêu thì
mới siêu thoát! Thậm chí người ta còn lập đàn cầu siêu cho những chiến
binh từ thời.... Trần ở bến sông Bạch Đằng. Không biết những anh hùng
liệt sĩ có công đánh giặc ngoại xâm bảo vệ tổ quốc thì các quan Diêm
vương có độ cho siêu thoát, đầu thai làm kiếp người..? Hay các ngài để
hàng vạn linh hồn vất vưởng đói khát tới hơn 7 thế kỷ, để rồi đợi người
đời nay mời sư sãi Phật tử đến làm lễ cúng dàng thì mới siêu thoát?!
Không khéo cứ đà này, xem ra người ta sẽ phải lần lượt lập đàn cầu siêu ở
muôn vàn địa danh chiến trận lớn nhỏ trên phạm vi toàn quốc, ứng với
hàng nghìn năm lịch sử dân tộc, mới mong các vong linh, âm hồn tiền nhân
Việt Nam được siêu thoát toàn thể! Như đã biết, thực ra cầu siêu vốn là
một nghi lễ phát sinh thuộc những tông phái Phật giáo chịu ảnh hưởng
văn hóa, đạo giáo Trung Quốc. Trên nguyên tắc “
kẻ còn lẫn người mất đều đặng lợi ích cả”
ghi rõ trong Kinh Địa Tạng- Phẩm thứ 7, sẽ thấy việc cúng bái này nếu
đem lại 1 phần công đức cho vong hồn thì những người tổ chức lễ cầu siêu
cũng sẽ được hưởng 6 phần. Với ý nghĩa đó, thiết nghĩ cũng không phải
bàn thêm! Bản thân tôi có lần được dự lễ cầu siêu các liệt sĩ thời chống
Pháp ở một nghĩa trang thuộc tỉnh Hà Nam. Giữa trưa hè nắng gắt, nhà
ngoại cảm cầm micro đi đến từng ngôi mộ vô danh trong nghĩa trang, đọc
vanh vách tên tuổi từng người rồi nói chuyện qua lại như thể với người
đang sống. Đi bên cạnh, vài người phụ tá tranh thủ ghi chép lại xem các
liệt sĩ yêu cầu gì. Nghe thấy nói các chiến sĩ năm xưa vì chết bởi bom
napan của Pháp nên các linh hồn rất... nóng và khát nước, người ta bèn
đổ xô đi mang về nhiều thùng lavie để cúng kịp thời... Rồi nhà ngoại cảm
thuật lại lời các linh hồn than rằng hơn nửa thế kỷ qua, họ đói khát
lắm, chẳng có gì ăn nên phải ăn mày cửa Phật ở một ngôi chùa trên ngọn
núi gần đó; rồi... có anh em được về nghĩa trang này, nhưng cũng còn
nhiều người phải nằm lại trên núi... Thế là ngay sau đó, các cô các bà
cùng ban tổ chức lập tức sắm sanh lễ vật lên chùa... Kết thúc lễ cầu
siêu, các nhà sư (được mời từ Hà Nội) lẳng lặng thu vén đồ nghề sau khi
đã nhận phong bì dầy cộp của ban tổ chức. Trên đường về, cả đoàn dừng
chân dọc đường ăn cơm nhà hàng, đương nhiên toàn cỗ mặn với bia rượu đầy
bàn, thấy các sư vẫn điềm nhiên đánh chén, mặc cho mọi người xung quanh
hiếu kỳ xì xào nhòm ngó.

Trong thế giới cửa thiền thời nay, cũng không hiếm các nhà
sư kiêm nhiệm thêm các chức năng thầy cúng, thầy bói, hay phù thủy bắt
quỷ trừ tà. Có lần, anh bạn thân của tôi có đứa con trai bị đau bụng dữ
dội, đi khám nhiều nơi nhưng bác sĩ không tìm ra căn nguyên. Đi xem bói
thì thày bảo là bị ma làm. Thế nên bà mẹ vợ (vốn là Phật tử) bèn tìm đến
cầu khẩn một đại đức có tiếng trừ tà, bắt ma chữa bệnh. Rồi sau bao lần
xin xỏ, van nài, cậu bé cũng được vị đại đức nọ cho cái hẹn đến một
ngôi chùa lớn ở Hà Nội để giải quyết căn bệnh nan y. Nhưng dù đã có hẹn,
cả nhà anh vẫn phải chầu chực hơn nửa buổi sáng vì thầy bận họp trị sự
giáo hội, mãi mới xin tiếp cận được. Rồi cũng phải xếp hàng sau khá
nhiều người vì đó là dịp hiếm hoi đại đức lên Hà Nội, những người nghe
danh tiếng thầy đều chen nhau đến xin giải hạn, ban phúc, trừ tà cho nhà
họ. Rốt cuộc, cháu bé con anh bạn tôi cũng được vị đại đức gọi vào rồi
quay một con lắc dạng pháp bảo để trừ tà, lúc đó cháu vẫn ôm bụng quằn
quại. Được dăm phát quay, thầy xoa đầu bệnh nhân rồi phẩy tay bảo đi ra.
Nhưng thấy cháu vẫn đau đớn, gia đình cầu xin thầy xem lại, thầy nói
cái này là ma làm, nhưng mà con ma có vào chùa được đâu mà bắt(?) Tuyệt
vọng, bà ngoại cháu bé quỳ mọp xuống mếu máo chắp tay vái sống vị đại
đức trong nước mắt lã chã, những xin thầy ra tay bắt ma cứu người, nhưng
đại đức nhất quyết xua tay bảo mọi người đi về. Hỏi ra mới biết thầy
chuẩn bị vào tiết học môn chính trị Mác -Lê Nin, hình như để chuẩn bị
cho kỳ thi cao học thì phải?! Cực chẳng đã, tôi và anh bạn đành dìu 2 bà
cháu ra về, nghĩ mà ấm ức, đại đức biết ma quỷ không thể vào chùa được
sao còn hẹn người bệnh đến chùa bắt ma làm chi?
(Còn nữa)
(
Nguồn: siphubacha.multiply.com)
Sưu tầm từ: http://vnmusic.com.vn/p2195-lan-man-ve-truyen-thong-hon-dung-tin-nguong-cua-nguoi-viet-1.html