Translate

Hiển thị các bài đăng có nhãn NGHỆ THUẬT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NGHỆ THUẬT. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 15 tháng 4, 2025

 

BIỂU TƯỢNG RẮN

Nguyễn Xuân Quang

Rắn là một biểu tượng thấy hầu hết trong mọi tín ngưỡng, tôn giáo. Biểu tượng rắn được thờ phượng cao điểm nhất vào thời thái cổ khi con người còn theo mẫu hệ hay ở các nền văn hóa theo duy âm coi trọng âm hơn dương hay còn coi nòng nọc, âm dương đề huề.

Rắn và Vũ Trụ Giáo.

 Rắn mang khuôn mặt chinh biểu tượng cho nòng, âm, nước nên liên hệ mật thiết với Vũ Trụ giáo.

 .Hư Vô hay Vô Cực

 Rắn biểu tượng cho hư không thường được diễn tả bằng hình rắn không có trang trí gì cuộn thành hình vòng tròn hay ngậm đuôi tạo ra hình vòng tròn mang hình ảnh số không (zero).  Ví dụ như

-Con rắn uraeus của Ai Cập cổ có dạng cắn đuôi thành hình nòng vòng tròn có một khuôn mặt biểu tượng cho hư vô, vô cực.

-Con rắn Ouroboros của Hy Lạp lấy từ con rắn uraeus của Ai Cập cổ cũng vậy.

clip_image004

Con rắn Ouroboros của Hy Lạp.

Các tác giả Tây phương hiện nay giải thích “Ouroboros (Hy-lạp) hay Oroboros là một biểu hiệu cổ miêu tả một con rắn cắn đuôi của chính nó và tạo thành một vòng tròn. Vòng tròn này tượng trưng cho đời người và tái sinh, dẫn đến bất tử”. Rõ ràng con rắn nòng vòng tròn O được giải thích theo vòng tử sinh của Vũ Trụ Tạo Sinh, của Vũ Trụ giáo mà người Tây phương không nhận ra. Con người sinh ra từ hư vô, chết lại trở về hư vô để được tái sinh hay sống hằng cửu. Rắn Ouroboros có một biểu tượng hư vô.

.Trứng Vũ Trụ hay Thái Cực

Trứng vũ trụ là dạng nòng nọc, âm dương nhất thể, là vũ trụ sinh tạo.

Rắn biểu tượng cho Trứng Vũ Trụ hay thái cực thường diễn tả bằng hình rắn đẻ ra Trứng Vũ Trụ. Nhà khảo cổ học William Niven đã đào tìm được hàng ngàn những thạch bản ở vùng Thung Lũng thành phố Mexico trên có khắc hình, trong đó có những thạch bài khắc hình rắn đẻ ra trứng.

NIVEN 582 NIVEN 328

(Y Học Thường Thức Số 40, Tháng 1 vá 2 2001).

Tộc thổ dân Mỹ châu Đắp Đống (Mound Builders) đã đắp một cái Đống Rắn Thần (Great Serpent Mound) dài 1.300 bộ, ở quận Ross, Ohio. Rắn nhả ra cái trứng.

ran than

Con Rắn Thần này mang hình ảnh liên hệ với trứng vũ trụ, vũ trụ sin htạo

Cũng nên biết đống, mô, tháp nguyên thủy là những mồ mả. Đống có hình vòm mang hình ảnh vòm vũ trụ, trứng vũ trụ. Người chết được chôn trong các đồng này để trở về  vũ trụ hầu được tái sinh hay sống vĩnh hằng. Các ngôi mộ của vua chúa và cả thường dân Đại Hàn ngày nay có hình đống cầu tròn  mang nghĩa này (Ý Nghĩa Tháp Chùa). Việt Nam ngày xưa cũng có những đống này như Đống Anh, Đống Hoa, Đống Lã, Đống Đa.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, Lạc Long Quân có cốt nguyên thủy là con rắn nước đội lốt Rắn Nước cõi vũ trụ Thần Nông đẻ ra trứng vũ trụ nên Lạc Long Quân cũng có DNA sinh ra trứng thế gian. Vì thế mà Rắn Lạc Long Quân là cha của Bọc Trứng Thế Gian 100 Lang Hùng do Âu Cơ  sinh ra.

Thái cực là giai kỳ trong Vũ Trụ giáo khi nòng nọc, âm dương còn quyện vào nhau vì thế cũng thấy được biểu tượng bằng hai con rắn mang tính âm dương ngược nhau có đầu đuôi ngược nhau nằm cuộn tròn với nhau. Nhìn dưới dạng nhất thể là thái cực. Ví dụ như .

.Vật tổ của người Ao Naga.

Hình hai con rắn đen trắng có đầu đuôi ngược nhau nằm cuộn tròn với nhau thấy ở một bản khắc gỗ các vật tổ của người Ao Naga, Assam.

AU NAGA

Ao Naga là Âu Rắn, Âu Rồng, Âu Long ruột thịt với Âu Lạc có vật tổ Rắn sinh tạo là chuyện hiển nhiên. Hình trên cũng có chiếc rìu đầu chim Việt mỏ cắt. Ở đây có hai vật tổ Chim-Rắn sau thần thoại hóa thành Tiên Rồng, cốt lõi của văn hóa Việt, Bách Việt.

.Một con rắn có hai mầu nòng nọc, âm dương đen trắng  ngậm đuôi thành vòng tròn như rắn Ourobodos thấy ở châu Phi cũng mang biểu tượng cho thái cực.

.Hình chữ S trong đĩa thái cực cũng có cả tính nòng nọc, âm dương (phía bên trắng dương, phía bên đen âm) cũng mang hình ảnh rắn thái cực.

.Rắn hai đầu mang tính nòng nọc, âm dương khác nhau như một đầu có mào hay sừng mang dương tính. Ví dụ như rắn hai đầu của Maya.

.Trong Ai Cập cổ rắn có hai khuôn mặt nòng nọc, âm dương. Điểm này ăn khớp với sự kiện là trong thiên nhiên cũng có loài rắn mang lưỡng phái vừa đực vừa cái. Loài rắn này có thể dùng làm biểu tượng cho thái cực

.Thái Cực là dạng nòng nọc, âm dương nhất thể là vũ trụ sinh tạo, đấng tạo hóa ở dạng nhất thể. Có rất nhiều truyền thuyết cho rắn là đấng tạo hóa như người Ai Cập cổ có đấng tạo hóa được biểu tượng bằng con rắn; cở thư Ấn-Độ Manava Dharma Sastra ghi rằng rắn là đấng tạo hóa; người Maya Trung Mỹ châu biểu tượng đấng tạo hóa với con rắn bẩy đầu Ahac-chapat; trong thánh thư Popol Vuh của người Quiché Nam Mỹ châu ghi rằng: Thee Creator, the Maker, the Diominator, the Serpent covered with feathers… (Đấng Tạo Hóa, Hóa Công, Đấng Ngự Trị (là) con Rắn Lông Chim); Lạc Long Quân của chúng ta nguyên thủy là con rắn nước có một khuôn mặt là đấng sinh tạo thế gian ngành nòng âm đội lốt đấng sinh tạo vũ trụ, tạo hóa Thần Nông…

.Lưỡng Cực, Lưỡng Nghi 

.Hai con rắn vật tổ của Ao Naga ở trên nếu nhìn dưới diện hai con rắn riêng rẽ có một khuôn mặt biểu tượng cho hai cực nòng nọc, âm dương, lưỡng nghi. Con mầu trắng biểu tượng cho cực dương và con mầu đen biểu tượng cho cực âm.

.Theo Jumsay ở vùng Nam đảo cũng có hình hai con rắn cuộn tròn theo hai chiều ngược nhau (dẫn lại trong Tạ Đức). Nhìn dưới diện hai cực riêng rẽ chúng biểu tượng cho lưỡng nghi.

Xin nhắc lại người Ao Naga liên hệ với  các tộc ở Nam Đảo vì cả hai cùng một chủng Bách Việt. Hình trên cũng có hình vật tổ thằn lằn giống như thằn lằn khổng lổ gọi là rồng Komodo ở đảo Komodo, Nam Dương (Rồng Komodo) thấy khắc trên trống Sangeang Malakamau (Trống Đông Sơn Mang Sắc Thái Nam Dương 1). Người Ao Naga trước đây cũng có tục săn đầu người như một số tộc ở Nam Đảo như Dayak ở Borneo. Dayak được cho là một thứ Bộc Việt. Hiểu Bộc biến âm với Bọc, túi nang tức thuộc phía ngành nòng, âm, rắn thì Dayak rõ ràng liên hệ với tộc rắn rồng Ao Naga.

.Cũng ở vùng Vân Nam lân cận với Assam, trên một chiếc cột đồng của người Điền cũng có hình hai con rắn cuộn vào nhau (Higham). Nhìn dưới diện hai cực riêng rẽ chúng biểu tượng cho lưỡng nghi.

Dĩ nhiên cũng có những hình rắn riêng rẽ biểu tượng cho lưỡng nghi:

-Cực âm

Rắn có một khuôn mặt chính biểu tượng cho nòng, âm, nước nguyên khởi, nước vũ trụ, cực âm, thái âm và bộ phận sinh dục nữ.

Theo truyền thuyết của người Ngaju, Dayak, Borneo, Rắn nước Watersnake Tampon (trong ngôn ngữ Hindu-Javanese gọi là naga) là thần Nước Nguyên khởi hay Âm thế (deity of the Primeval water or Nether world). Dưới thời ảnh hưởng văn hóa Hindu, vị thần này được gọi dưới tên là Bawin Jata Balawang Bulau có nghĩa là “ thần nữ Jata với cửa vàng” (the feminine Jata with the golden door”). Biểu ngữ “cửa vàng” chỉ âm hộ phái nữ (the expression “golden door” is a euphemism for the female pudenda) (Hans Scharer, tr.15).

Mũi các con thuyền ở trống đồng âm dương Ngọc Lũ I và các trống cùng nhóm có hình miệng Rắn Nước há rộng biểu hiện bộ phận sinh dục nữ có con chim rìu biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam đâm vào trong (Ý Nghĩa Những Hình Thuyền trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

Người thái cổ thờ phượng rắn là Mẹ Tạo Hóa. Trong cổ thư Ấn-Độ Aytareya Bhramana ghi ‘Sarpa Rajni, Queen of the Serpents, the mother of all that moves’ (Rắn Rajni, Vương Hậu của loài rắn, mẹ của tát cả những gì chuển động) (lưu ý Sarpa, rắn có Sa- ruột thịt với Hán Việt xà).

Những con rắn biểu tượng cho cực âm thường có mang nét âm tính đặc thù như có đuôi cuộn hình móc nước, có mầu đen, rắn nước…

 Theo thái âm, con rắn cắn đuôi tạo thành hình nòng vòng tròn O ở trên có một khuôn mặt biểu tượng cho cực nòng, âm.

Ai Cập cổ có thần Ra lưỡng tính phái nên vương miện có khi diễn tả hình mặt trời (cực dương) và con rắn (cực âm).

Con rắn đi với cây hay gậy cũng có một khuôn mặt biểu tượng cho cực nòng, âm (xem dưới).

-Cực dương

Những con rắn biểu tượng cho cực dương thường có mang nét dương tính đặc thù như có mào, có sừng, có mầu đỏ, rắn lửa (như hổ lửa)…

Thổ dân Úc châu có con Rắn Tổ Đầu Dương Vật (Great Phallic Headed Serpent) trong truyền thuyết sáng thế. Con rắn này có một khuôn mặt biểu tượng cho nọc, dương, cực dương.

Trong các hình vẽ trên đá của Thổ dân Mỹ châu Sống Ở Vách Đá Dựng (Cliff Dwellers) ở Nevada có hình con rắn nằm dưới mái vòm bầu trời trên có ba nọc que nhọn như ánh sáng (hình số 11) diễn tả lửa vũ trụ Càn, có một khuôn mặt biểu tượng cho cực dương.

cliff dwellers

.Tứ Tượng

Tứ Tượng nhìn chung:

Thổ dân Úc châu Thần Tổ Rắn (Great Snake) trong truyền thuyết Rắn Cầu Vồng của vùng Port Keat, Northern Terrirory có bốn con rắn bao quanh trứng vũ trụ biểu tượng cho tứ tượng.

ran cau vong

Một con có trứng có thể mang nghĩa sinh tạo.

-Rắn biểu tượng cho tượng Nước.

Tên rắn có nghĩa là nước thấy trong nhiều ngôn ngữ.

Ấn giáo có con rồng rắn nước naga, Phạn ngữ naga có nag- = Việt ngữ nác, nước; Anh ngữ snake có –nak = nác ruột thịt với Khmer, Lào nak, rắn; Do Thái ngữ nahash, rắn có gốc Việt ngữ na– là nước, có nah- = nác, nước; Lạc Long Quân có Lạc là dạng nam hóa của nác là nước. Rồng Lạc Long Quân có gốc là rắn nướChấn, Anh ngữ dragon có d(r)ag- = Việt ngữ cổ đác là nước [như, Darlac (Đắc Lắc là vùng hồ nước) có Dar- = Đác; Dakto có nghĩa là Nước-vú (sữa); lác đác (mưa lưa thưa liên hệ với nước)].

Tại châu Phi rắn là thần nước; ở Haiti, rắn là thần suối, mây, mưa; Aztec, Maya có rắn là thần mưa…

Theo thái âm, rắn nước, trăn nước (anaconda) không có trang trí biểu tượng cho nước.

Rắn biểu tượng cho nước có thể bằng:

.Con rắn nước cuộn hình vòng tròn

như thấy trong hình Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) Yggdrasill của Bắc Âu (Nordic).

VTG CTTCây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) Yggdrasill của Bắc Âu (Nordic).

Cây Tam Thế có phần vòm cây biểu tượng cho vòm vũ trụ Thượng Thế được biểu tượng bằng con chim ưng, là loài bay được trên trời mang tính lửa. Phần giữa biểu tượng cho Trung Thế tức cõi giữa nhân gian được biểu tượng bằng con hươu sừng là một loài thú bốn chân mang dương tính sống trên mặt đất. Cõi Hạ Thế là phần gốc cây biểu tượng bằng con rắn độc có lưỡi đỏ thè ra ngoài miệng như đang phun ra lửa. Trung Thế lại chia ra ba cõi: cõi trời biểu tượng bằng hình vòm cầu vồng, cõi đất dương thế gian được biểu tượng bằng ngọn núi đá nhọn đỉnh hình tháp (núi dương), hình ảnh của Núi Trụ Thế Gian, Núi Trụ Chống Trời và cõi âm, nước thế gian diễn tả bằng hồ hay biển nước được biểu tượng bằng con rắn nước (không có trang trí gì cả) ngậm đuôi tạo thành một nòng vòng tròn.

Ta thấy rất rõ ở cây Tam Thế Yggdrasill, con rắn nước đơn giản ngậm đuôi thành vòng tròn là biểu tượng cho cõi nước nhân gian trong khi con rắn độc thè lưỡi đỏ như phun ra lửa ở gốc cây biểu tượng cho Hạ Thế, Âm Thế.

.Con rắn hình sóng nước

Rắn có thân hình uốn khúc ngoằn ngoèo như khúc sông nên thường dùng biểu tượng cho nước. Việt ngữ ngoằn ngoèo, ngoắt ngoéo, ngo ngoe, có gốc ngo- liên hệ với Thái ngữ ngo, ngoo là rắn.

Ví dụ như con rắn hình sóng nước trong hình khắc gỗ của người Ao Naga Assam thấy ở hình trên.

.Con rắn hình chữ S

Như con rắn hình số 14 trong các hình khắc trên đá của Những Người ở Vách Đá Dựng, Nevada thấy ở trên.

-Rắn biểu tượng cho tượng Gió.

Phục Hy là người có đuôi rắn anh em với Nữ Oa dòng nước thái âm cũng có đuôi rắn.

VTG PH

Cả hai đều thuộc dòng nòng âm. Nhưng Phục Hy là phái nam nên có một khuôn mặt dương của âm tức thiếu âm khí gió. Tên Phục Hy có Phục biến âm với bọc, bao, túi và Hy biến âm với Hí là tiếng rít, tiếng kêu của khí gió đi qua một khe, một ống nhỏ như tiếng ngựa hí, tiếng gió rít lên.

Phục Hy là chiếc bọc, bao hơi, gió phát ra tiếng rít có mạng là ông Gió, thần gió. Cũng vì thế mà ông còn có tên là Bào Hy (Túi Hí). Rắn Gió Phục Hy thần thoại hóa thành Rồng Xanh Thanh Tinh (Kim Định, Việt Lý Tố Nguyên).

Rắn có một khuôn mặt thần thoại hóa bay lên trời được thành rống gió.

Rắn Lông Chim Thần Gió của Aztec là nhìn theo diện thiếu âm khí gió (lông him ở đây dùng như một tính từ. Trong khi ở dạng nòng nọc, âm dương nhất thể Chim-Rắn, Tiên Rồng, lông chim dùng diễn tả chim lửa, dương).

Rắn khi thần thoại thành rắn có cánh sẽ trở thành một thứ rồng gió.

Thần Bầu Trới Zeus Hy Lạp có một khuôn mặt rắn.

Phục Hy gốc rắn nên Dịch Phục Hy là Dịch từ sông Lạc với Lạc Đồ, Lạc Thư (lạc biến âm với nác, nước), là Dịch của ngành nòng âm, nước khác với Chu Dịch của người Hán cổ vốn gốc võ biền nghiêng về dương tính trội. Phục Hy cùng bản thế khí, gió sinh tạo, tạo hóa với Hùng Vương (cũng sinh ra từ một cái bọc) nên Dịch Phục Hy ruột thịt với Việt Dịch, Dịch Hùng Vương (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

-Rắn biểu tượng cho tượng Lửa.

Rắn biểu tượng cho tượng lửa thường là rắn mang hùng tính, lửa như có mào, có sừng, rắn lửa, hổ lửa… Cần phân biệt với rắn biểu tượng cho cực dương.

Rồng lửa hỏa long của Trung Hoa thần thoại hóa từ rắn lửa.

-Rắn biểu tượng cho tượng Đất.

Có thể là loài rắn mang tính biểu tượng cho đất thường là đất âm.

Rắn hình trôn ốc quấn quanh một ngọn núi nhìn ở diện tứ tượng có thể mang hình ảnh biểu tượng cho tượng núi đất  ví dụ như núi Meru của Ấn giáo có một khuôn mặt là núi Trụ Thế Gian cũng thấy ở dạng núi có hình rắn xoắn ốc. Thành Loa của An Dương Vương hình núi có hình trôn ốc do Lạc Long Quân có cốt nguyên thủy là Rắn Nước giúp xây cất cũng mang hình ảnh núi trụ thế gian của ngành nòng nước, rắn.

Rắn biểu tượng cho tượng Đất thường được thay thế bằng loài bò sát bốn chân sống trên đất. Ở vùng đất âm có nước như đầm lầy có cá sấu thay cho rắn biểu tượng cho tượng đất. Ở vùng đất dương (khô, cao, núi) thì có thằn lằn.

 Lưu Ý

 Cần phải lưu tâm là đại tộc nước ứng với tượng nước còn chia ra nhiều tộc, chi tộc cũng ứng với  tứ tượng của đại  tộc-tượng nước nên phải phân biệt có thêm các biểu tượng chi, tộc rắn nước-nước, rắn nước-lửa, rắn nước-gió, rắn nước-đất với rắn biểu tượng cho tượng Nước trong  tứ tượng nói chung.

.Rắn biểu tượng cho Tam Thế, Vũ Trụ, Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống).

Tứ tượng nòng nọc, âm dương liên tác sinh ra vũ trụ muôn sinh gồm Tam Thế biểu tượng bằng Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống).

Trong các hình khắc trên đá của tộc thổ dân Mỹ châu, Những Người ở Vách Đá Dựng (Cliff Dwellers) ở Nevada đã nói ở trên, có hình con rắn ở bên một cây (hình 17). Đây là hình rắn và Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống), rắn mang biểu tượng Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống).

Nhìn dưới từng thế riêng rẽ, ta thấy:

.Ở cõi trên Thượng Thế, rắn mang tính sinh tạo, tạo hóa.

Ví dụ như như rắn sinh ra trứng vũ trụ ở trên.

.Ở Cõi Trung Thế, cõi nhân gian

Rắn biểu tượng cho vùng đất âm, vùng nước thế gian cũng biểu tượng bằng hình con rắn nước như thấy trong hình Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) Yggdrasill của Bắc Âu (Nordic) ở trên.

.Ở cõi âm Hạ Thế

Có thể biểu tượng bằng nột con rắn độc như thấy ở cây Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) của người Nordic ở trên.

Như đã nói ở trên người Ngaju Dayak có con Rắn Nước thần kỳ biểu tượng cho cõi nước, cõi âm, nguyên thủy có tên là Tampon (trong ngôn ngữ Hindu-Javanese gọi là naga).

Hình mandala của Diêm Vương Yama Tây Tạng có con trâu và 9 con rắn (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

.Trục Thế Giới

Rắn cũng mang hình ảnh Trục Thế Giới như đã nói ở trên núi Meru của Ấn giáo có một dạng là núi có hình rắn quấn quanh. Như đã biết núi Meru có một khuôn mặt là núi Trụ Thế Gian, Trục Thế Giới. Nhìn dưới diện này, rắn có một khuôn mặt Trục Thế Giới.

 .Sinh, Tử, Tái Sinh

Như đã nói ở trên “Ouroboros (Hy-lạp) hay Oroboros là một biểu hiệu cổ miêu tả một con rắn cắn đuôi của chính nó và tạo thành một vòng tròn. Vòng tròn này tượng trưng cho đời người và tái sinh, dẫn đến bất tử”.

Rắn có một khuôn mặt biểu tượng cho nước mà nước là mẹ đời, sự sống nên rắn có một khuôn mặt biểu tượng cho sự sống.

Tại đền Canaanite ở Bethsham, Cận Đông có đào được một lò đốt hương trên mặt có trang trí hai con rắn nổi biểu tượng cho đời sống và tái sinh vào khoảng thế kỷ 13 Trước Tây Lịch hiện để tại Israel Department of Antiquities, Jesuralem.

 ran sinh tao

Rắn liên hệ với chết, cõi âm.

Trong thần thoại của nhiều nền văn hóa, rắn thường được liên kết với nỗi chết, cõi âm.

Rắn là biểu hiệu cho Satan trong bộ Kinh Tân Ước.

.Con người.

Cây Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) sinh ra con người đầu tiên của nhân loại. Theo duy âm ngành rắn là  Người Nguyên Khởi, Mẹ Đời, Thần Tổ Nữ. Đây chính là hình người đứng giơ hai tay lên đầu trong hình Rắn Cầu Vồng của thổ dân Úc châu ở trên.

Phục Hy và Nữ Oa có đuôi rắn đã nói ở trên là Thần Tổ loài người nói chung.

Có rất nhiều truyền thuyết trứng rắn nở ra người, rắn phủ đàn bà đẻ ra các vị thần nhân, ở Việt Nam có Linh Lang Đại Vương được thờ ở đền Voi Phục Hà Nội giống như trường hợp Hán Cao Tổ Lưu Bang.

RẮN DƯỚI DIỆN LƯỠNG HỢP RẮN CHIM.

Rắn mang âm tính, nước cũng thường đi cặp với chim mang dương tính, lửa dưới dạng lưỡng hợp đại vũ trụ thái âm với thái dương ở cõi tạo hóa.

Đây chính là cốt lõi nòng nọc, âm dương Chim-Rắn, Tiên Rồng của văn hóa Việt nói riêng và của Bách Việt nói chung.

Chúng ta có tộc và địa danh Việt Thường. Nếu hiểu theo nghĩa cốt lõi văn hóa Chim-Rắn, Tiên Rồng thì Việt là rìu, nọc, chim, chim Việt. Thường biến âm với Thuồng, Thằn, Trăn là Rắn. Tên Việt Thường mang một nghĩa Chim-Rắn, Tiên Rồng.

Nhưng bằng chứng cụ thể nhất là trong sử đồng Đông Sơn. Như đã nói ở trên,  trên trống đồng còn ghi khắc lại sự lưỡng hợp này thấy ở đầu mũi thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I và các trống cùng nhóm. Trên các trống muộn hơn có dạng lưỡng hợp  Chim-Rắn, Tiên Rồng  đầu thuyền Rắn Nước đuôi thuyền đầu chim Cắt Lửa như ở trống Sông Đà (Ý Nghĩa Hình Thuyền, Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

Dạng lưỡng hợp này cũng thấy ở các tộc khác của Bách Việt như qua

.Thuyền vong Rắn Nước và thuyền Chim Cắt của người Dayak .

thuyen ran nuoc

thuyen chim cat

. Nhà nọc và nhà nòng của người Dayak

nha nong Nam DuongNhà nòng Rắn nước Dayak. 

Nhà nòng có mái hình rắn nuớc quay đầu về phía tay trái, âm. Có cờ hình túi âm đạo. Bên phải trên có chiếc dù biểu tượng cho khí gió thiều âm và dưới có hình lưới cá biểu tượng cho nước thái âm.  Căn nhà rắn nước này biểu tượng cho nòng âm, nước, cõi âm, cực âm.

nha noc Nam DuongNhà nọc chim Cắt Dayak.

Nhà nọc có mái hình chim cắt lửa quay đầu về phía tay phải dương. Có cờ hình lọng đầu dương vật. Căn nhà chim cắt lửa này biểu tượng cho nọc, dương, lửa, cõi dương, cực dương.

.Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) Tam Thế của Dayak.

cay doi Dayak

Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) Dayak cũng có dạng lưỡng hợp nòng nọc, âm dương rắn nước chim cắt.

Ngoài ra dạng lưỡng hợp Chim-Rắn này cũng thấy trong nhiều nên văn hóa theo hay bị ảnh hưởng của Vũ Trụ giáo như

.Ai Cập cổ

Ai Cập cổ có hai vùng là Ai Cập Thượng ở vùng núi cao phía nguồn sông Nile có biểu tượng là con chim kên kên mang dương tính lửa và Ai Cập Hạ ở vùng châu thổ sông Nile, sát Địa Trung Hải có biểu tượng là con rắn hổ mang.

.Maya Mỹ châu

Maya có con Rắn-Chim tên Kukulcan (Kukulcan là tiếng Việt, Kuku- = chim cúc cu, -can = chăn, trăn) cũng ở dạng ngậm đuôi tạo thành nòng vòng tròn O.

KUCULCAN

 Kukulcan

MAYA BALL GAME

Kukulcan dùng làm vòng “gôn” trong trò chơi bóng của Maya cổ, ở Chichen Itzá (ảnh của tác giả chụp từ một poster).

Họ thuộc dòng nòng, âm Khôn, một thứ Nòng Việt có tiếng nói liên hệ với Nam Đảo (Bình Nguyên Lộc), với tiếng Việt (Đức Chúa Jesus Nói Tiếng Việt của tác giả). Gần đây phân tích DNA cho thấy Maya ruột thịt với dân Việt Nam.

.RẮN DƯỚI DIỆN LƯỠNG HỢP RẮN-CÂY, RẮN- GẬY.

Rắn cũng thường thấy đi với cây dưới hình thức quấn quanh cây.

Cây là nọc, cọc, dương vì thế rắn quấn quanh cây có một khuôn mặt là nòng nọc, âm dương giao phối, lưỡng hợp. Cũng nên biết với nghĩa nọc, đực dương, cây, nọc liên hệ với chim biểu tượng cho dương, nọc. Thái ngữ nok, chim chính là Việt ngữ nọc.

Trong Ấn giáo rắn Ananta nằm cuộn tròn ở chân trục vũ trụ để giữ cho vũ trụ được cân bằng. Nhìn theo nòng nọc, âm dương ta thấy rõ trục vũ trụ là nọc, dương, con rắn là nòng âm. Phải có nòng nọc, âm dương giao hòa thì vũ trụ mới cân bằng được.

Con rắn quấn quanh cây trong vườn địa đàng của Thiên Chúa giáo cũng phải hiểu theo một nghĩa nòng nọc, âm dương giao hòa, lưỡng hợp.

lada

Lưu ý bà Eva có cái lá đa Việt Nam!

Biểu tượng y học Tây phương caduceus là con rắn quấn quanh cây gậy vốn nguyên thủy mang nghĩa nòng nọc, âm dương, trăng trời từ ngàn xưa ở các nền văn hóa cổ xưa Assyria, Hittite và Phoenix. Y học liên hệ với sinh tử nằm trong vũ trụ thuyết của Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo nên cũng dựa trên nguyên lý nòng nọc, âm dương. Tây Y và Đông Y đều dựa trên nguyên lý sống chết nòng nọc, âm dương (xem Biểu Tượng Y Học).

NHỮNG BIỂU TƯỢNG RẮN CHÍNH TRONG VĂN HÓA VIỆT NAM.

Như đã biết cốt lõi của văn hóa Việt là Chim-Rắn, Tiên Rồng. Vì thế rắn có một khuôn mặt chính yếu trong văn hóa Việt ở phía nòng âm Lạc Việt.

Ở cõi vũ trụ sinh tạo, tạo hóa, rắn có một khuôn mặt tạo hóa phía nòng âm qua khuôn mặt Thần Nông. Theo duy âm Thần Nông có khuôn mặt Rắn Nước vũ trụ Thần (Nông) mang tính chủ lưỡng hợp dưới dạng đại vũ trụ thái âm-thái dương với chim cắi lửa vũ trụ Viêm (Đế)

Ở cõi trời thế gian rắn có một khuôn mặt sinh tạo cõi thế gian qua khuôn mặt rắn thiếu âm khí gió Long Nữ (Thần Long). Long là dạng thần thoại của rắn có thể bay được lên trời (rắn chim). Thiếu âm Rắn Gió Long Nữ hôn phối với thiếu dương Lửa Đất Kì Dương Vương dưới dạng tiểu vũ trụ thiếu âm, thiếu dương.

Ở cõi đất thế gian, Rắn Nước thần thoại hóa thành Rồng Nước Lạc Long. Rắn có một khuôn mặt sinh tạo cõi nước cõi âm qua khuôn mặt Lạc Long Quân. Lạc Long Quân có khuôn mặt là Long Vương cai trị vùng nước, đất âm và cõi âm (có thủy phủ ở vịnh Hạ Long).

Ngoài ra rắn (và các khuôn mặt muộn thần thoại sau này là

Rồng, thuồng luồng, long, giao long) thấy rất nhiều trong truyền thuyết và cổ sử Việt. Chỉ xin nêu ra một vài ví dụ như

. Thờ phượng rắn

Trước đây người Việt thờ rắn.

.Trang phục cổ truyền:

./Khăn

Phần linh thiêng nhất dành cho vật tổ là các trang phục đầu. Phụ nữ Việt Nam ở miền Bắc ngày nay còn vấn tóc, vấn khăn. Vấn tóc của phụ nữ Việt có hai cách: vấn tóc trần, tóc vấn lại rồi quấn trên đầu như con rắn cuộn khúc. Cách thứ hai, rõ hơn, là dùng cái độn khăn. Cái độn khăn chính là hình ảnh con rắn. Những người phụ nữ Việt vấn khăn là hình ảnh của đứa con chính huyết, chính thống của dòng Rắn, dòng Nước.

./Thắt lưng

Phụ nữ Bắc Việt ngày nay còn thắt cái dải thắt lưng (đôi khi gọi là ruột tượng). Trong các lễ rước, đàn ông thường thắt lưng điều, ví dụ như những người bưng thau quả trong đám cưới. Thầy mo Mường ngày nay cũng mặc đồ đen thắt lưng vải điều. Nhiều khảo cổ vật tìm thấy ở Hà Tây, Hải Phòng, Thanh Hóa thấy hình người có thắt lưng to bản thêu vẽ công phu, thả múi dài cả phía trước lẫn phía sau (Lê Văn Lan, Đời sống vật chất và tinh thần thời Hùng Vương, t.III, tr.237). Dải dây lưng có một khuôn mặt là rắn nước. Việt ngữ cổ dải có nghĩa là con rắn nước.

Thắt lưng trơn biểu tượng cho rắn hay trăn của dòng Nòng Trăn nước.

./Xà tích

Thêm vào dải thắt lưng nhiều khi còn đeo theo sợi dây xà tích bằng bạc có gắn nhiều thứ lặt vặt như cái cối giã trầu, ống vôi, cái nhíp… Tại sao gọi là xà tích? Đây chính là bí tích của dòng họ nhà xà, rắn, trăn nước Thần Nông. Đây là sợi dây rắn thiêng liêng của dòng Rắn, trăn nước, từ ngàn xưa lưu truyền lại cho con gái, từ đời này qua đời kia.

Chứng tích dây rắn xà tích này còn thấy rõ trong cổ sử

người Hà Di Ainu. Đây là sợi dây bí mật cột quanh người như dây lưng nhưng dấu kín dưới trang phục. Sợi dây này ngày nay gọi là upshoro hay upsoro kut. Từ kut chính là Việt ngữ cột, tên cổ gọi là a-eshimmukep (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Đây chính là dây dòng “xà tích” của chúng ta.

Dĩ nhiên còn nhiều nữa.

Kết Luận

 Rắn là một biểu tượng tín ngưỡng thấy trong mọi nền văn hóa thế giới. Trong Vũ Trụ giáo, rắn là biểu tượng của ngành nòng âm mang trọn vẹn ý nghĩa theo Vũ Trụ Tạo Sinh.

Văn hóa Việt nói riêng và văn hóa Bách Việt nói chung có cốt lõi dựa trên nguyên lý nòng nọc, âm dương, Chim-Rắn, Tiên Rồng nên rắn là một biểu tượng và vật tổ tối quan trọng phía nòng âm. Hình ảnh rắn còn thấy rất rõ và rất nhiều trong sử miệng (truyền thuyết), Việt), sử sách (cổ sử Việt) và sử đồng Đông Sơn. Khuôn mặt Rắn của Thần Nông và Lạc Long Quân mang trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo.

như đã nói ở trên, Lạc Long Quân có cốt nguyên thủy là con rắn nước đội lốt Rắn Nước cõi vũ trụ Thần Nông đẻ ra trứng vũ trụ nên Lạc Long Quân cũng có DNA sinh ra trứng thế gian. Vì thế mà Rắn Lạc Long Quân là cha của Bọc Trứng Thế Gian 100 Lang Hùng do Âu Cơ  sinh ra.

Theo dòng thời gian, muộn về sau này, rắn thần thoại hóa thành thuồng luồng, naga, rồng, long. Rắn cũng được thay thế bởi cá sấu, thằn lằn.

Rồi vào thời xã hội phụ quyền cực đoan, rắn bị lu mờ, bị coi là quái vật, tà vật.

Nguồn:https://bacsinguyenxuanquang.wordpress.com/2013/03/01/bieu-tuong-ran/

Thứ Sáu, 15 tháng 8, 2014

NGHỆ SỸ ĐOÀN CHUẨN




“Bản chất của Đoàn Chuẩn là một nghệ sĩ đa tình. Vì thế khó trách cha tôi tội quá đào hoa. Thú ăn chơi của ông bây giờ hiếm người bì kịp” - nghệ sĩ guitar Hawaii Đoàn Đính đồng thời là Tổng thư ký Liên đoàn Billiard - Snooker Hà Nội khắc họa chân dung cha mình qua kỷ niệm. Tài tử Ngọc Bảo, người được coi là hát nhạc Đoàn Chuẩn quyến rũ nhất, người cùng thời với cha tôi thừa nhận: “Tôi là tay chơi có hạng đất Bắc Kỳ, nhưng còn thua xa người lịch lãm, hào hoa Đoàn Chuẩn”.
Posted Image


  Ông bà Đoàn Chuẩn và cô con gái đầu lòng.
Ảnh: Đ.Đ.
   Đổi ôtô lấy một cây đàn Cha tôi là con nhà tư sản đứng đầu hãng nước mắm Vạn Vân, một trong năm đặc sản của Hà Nội bấy giờ, nổi tiếng giàu có khắp đất Bắc. Thú ăn chơi của ông bây giờ hiếm người bì kịp. Nhà ông nội tôi có 6 chiếc ôtô để thay đổi. Ngày ấy, cả Việt Nam có hai chiếc Cadillac, cha tôi có một cái. Ông một ngày thay mấy bộ quần áo, giày đi khoảng chục đôi. Cuối tuần ông thường phóng ôtô về bãi biển đẹp nhất Hải Phòng để tắm. Trong khi tất cả các nhà tư sản để xe trên đường rồi đi bộ, thì cha tôi phi thẳng xuống bãi và thuê ô dù che xe. Bóng ô dù bao nhiêu tính diện tích trả tiền bấy nhiêu. Ăn uống của ông cũng rất cầu kỳ: Tôm vừa đánh ở biển lên, trong vòng 15 phút phải bóc nõn, quấn mỡ kho. Trong nhà, ông thuê thợ xây một phòng riêng thả đầy bóng bay lên trần, quả nào xì hơi bắt người nhà đi mua thả bù làm phòng tiếp bạn bè. Khách đến thoải mái uống rượu ngoại, ăn hoa quả. Ngay cả việc tán gái của ông cũng ngông bậc nhất. Thời trai trẻ, cha tôi phải lòng một người đẹp có tiếng nhưng nàng đang được một anh chàng thế lực đeo đuổi. Ông nhờ thám tử theo dõi và biết được ngày anh chàng kia đến rủ người đẹp đi ngắm cảnh. Sáng hôm đó, khi tình địch vừa đánh xe ra trước cửa nhà, hai tài xế được cha tôi thuê từ trước lái hai chiếc ôtô nhanh chóng đỗ chặn hai đầu, rồi khóa xe nhanh chân biến ra xa. Sau khi vào nhà lấy đồ, anh chàng thế lực quay ra chiếc xe để lái đi đón nàng, thì ôi thôi, ôtô không nhúc nhích được. Đúng lúc đó, cha tôi mới lái chiếc xe riêng hạng sang đàng hoàng đến đón người đẹp đi chơi. Tiêu tiền như nước là thế nhưng đầu óc ông thi sĩ lắm, chỉ dành cho việc viết nhạc chứ không dành cho việc kiếm tiền. Việc quản lý gia sản giao hết cho vợ. Tính tôi cũng giống cha, chơi ngông. Cha tôi từng đổi một chiếc ôtô lấy một cây đàn guitar Hawaii, còn tôi khi đi Mỹ đã bỏ ra 25 nghìn USD mua cây guitar Hawaii. Số tiền đủ để mua một chiếc ôtô trong khi bản thân tôi đi chiếc Dream mà nếu treo thêm một chiếc mũ bảo hiểm ở đầu xe sẽ có người đến trả 10 nghìn đồng để ra Bờ Hồ.
 
Posted Image

Về già, gia cảnh sa sút nhưng vợ chồng Đoàn Chuẩn vẫn rất êm ấm thuận hòa.
Ảnh: Đ.Đ.
 Mỗi bài hát là một mối tình Ngoài chuyện tình đậm chất quý tộc trên, cha tôi còn là nhân vật chính của một thiên tình sử lãng mạn. Hồi trẻ, ông thương thầm nhớ vụng một bóng hồng. Nhưng với chất công tử hào hoa bậc nhất, Đoàn Chuẩn không trực tiếp đến ngỏ lời, mà bày tỏ niềm yêu của mình bằng một bí kíp có một không hai. Hằng sáng, ông thuê người mua một bông hồng đỏ, mang đến nhà thiếu nữ đó tặng mà tuyệt đối không tiết lộ danh tính. Suốt gần 3 năm, khi bông hoa hồng thứ 1.000 được tặng, thì ông mới hiện ra trên ngưỡng cửa. Ấy thế nhưng khi cha phải lòng mẹ tôi thì chẳng tốn cánh hoa và cuộc đón đưa nào. Mẹ tôi tên Xuyên, bằng tuổi và học cùng lớp cha tôi, đẹp nền nã và hay mặc áo dài tím. Bà là con gia đình gia giáo, bà ngoại tôi thường bán nụ vối trước cửa. Một hôm, có người đàn bà sang trọng đi xích lô đến cửa nhà ngoại mua nụ vối. Khác với mọi người chỉ mua một cân, vài lạng, bà ấy mua cả một xe. Mấy hôm sau, bà quay trở lại mang theo đồ ăn hỏi cho con trai. Bà ngoại mới ớ ra rằng, người đàn bà bữa trước đến mua nụ vối thực chất là để thăm dò gia cảnh cô gái sẽ trở thành vợ của người thừa kế hãng nước mắm Vạn Vân nổi tiếng. Mẹ tôi ngồi nghe lỏm người lớn nói chuyện với nhau mới biết người muốn cưới mình là anh bạn cùng lớp kín tiếng. Thế là sau khi ăn hỏi, cha mẹ tôi mới chính thức hẹn hò và trở thành vợ chồng năm 18 tuổi. Cha tôi rất yêu mẹ nên bà cũng thường xuất hiện trong các sáng tác của ông với hình ảnh tà áo tím. Ai cũng biết bài hát Đường về Việt Bắc là Đoàn Chuẩn sáng tác dành tặng vợ với câu “Chiều nào áo tím nhiều quá lòng thấy nhớ người” khi lên thăm hai mẹ con ở chiến khu Việt Bắc. Khi ấy, ông đạp xe đạp, giữa đường vào nghỉ nhờ ở nhà một người dân tộc. Ăn xong bữa cơm thấy người ta thích cái xe đạp quá, cha tôi bèn tặng lại họ, ba lô cũng vất đi đâu rồi vác mỗi cây đàn đi tìm. Gặp vợ con, ông mừng mừng tủi tủi viết luôn bài Đường về Việt Bắc. Còn một bài nữa cũng có hình bóng mẹ tôi nhưng ít người để ý là Gửi người em gái miền Nam với hình ảnh: “Cành hoa tim tím bé xinh xinh đón xuân về”. Tuy yêu vợ nhưng bản chất của Đoàn Chuẩn là một nghệ sĩ đa tình. Vì thế khó trách cha tôi tội quá đào hoa. May mắn mẹ tôi là người đàn bà tinh tế, hết lòng vì chồng con. Sinh thời mẹ tôi từng nói: “Ông lãng mạn, đa tình lắm. Có vậy ông mới viết được bài hát hay thế. Ông muốn ngang thì ngang, muốn dọc thì dọc, tôi chiều ông hết. Bổn phận của tôi là chăm chồng, nuôi con, lúc nào cũng an phận chịu đựng. Ông không biết đến sinh kế, gia đình, con cái... Đời ông phóng khoáng. Nghe nhạc ông lúc nào tôi cũng ngạc nhiên - sao ông tài thế? Mỗi bài hát là một mối tình đi qua đời ông”. Chính nhờ sự bao dung ấy của mẹ mà gia đình tôi được giữ trọn vẹn. Cha tôi yêu mẹ và sống với mẹ cả đời, nhưng chỉ viết cho bà hai bài hát, trong khi ông yêu một ca sĩ nổi danh xinh đẹp Hà thành lúc đó tên là Thanh Hằng và viết đến 6 bài hát tặng nàng. Mẹ tôi hay chuyện đang ở Hải Phòng lập tức đi ôtô lên Hà Nội. Ai cũng tưởng sẽ có cuộc đánh ghen lớn, nào ngờ mẹ tôi nhẹ nhàng đến gặp cô ấy hỏi: “Chị hỏi thật em, em có yêu anh Đoàn Chuẩn không?”. Thanh Hằng trả lời rằng có. Bà nói tiếp: “Em trót yêu anh Đoàn Chuẩn nhà chị thì em cố yêu nốt ba đứa con của anh ấy nhé”. Thế là Thanh Hằng tỉnh mộng trả mẹ tôi tất cả thư từ của hai người và xé những bài hát cha tôi tặng. Vì thế sau này cha tôi mới viết tác phẩm Bài ca bị xé. Ngày nhỏ, tôi chưa bao giờ trách cha mình vì đa tình vì nghĩ biết đâu sau này mình cũng giống cha mình như thế. Cha tôi yêu mỗi cô sáng tác được một bài hát, chứ tôi yêu 10 cô cũng chẳng viết được bài nào.
Posted Image


  Nghệ sĩ guitar Hawaii Đoàn Đính - con trai nhạc sĩ Đoàn Chuẩn xúc động khi kể lại những câu chuyện về cha.
 Ảnh: Ngọc Trần.
 Ân hận vì không nối nghiệp cha Tôi thấy cha tôi là người tuyệt vời. Tôi yêu cha nên kể cả tật xấu tôi cũng muốn theo. Tật xấu của cha tôi là thích ăn ngon, thích các cô gái đẹp, hơi nóng nảy nhưng thường những người thiên hướng nghệ thuật mạnh thì ít khi giữ được cảm xúc bình tĩnh. Ông mê đàn Hawaii hơn mọi thứ trên đời. Ông mua những đĩa nhạc Hawai về nghe và quyết tâm sẽ đánh hay hơn đĩa. Có những đêm ông thức trắng nghe những bản nhạc trên đài và chép lại bằng cách tốc ký theo số, rồi sáng hôm sau mới chuyển qua nốt nhạc. Có lần cha tôi đến nhờ ông Lam Chấn - người Hoa dạy Guitar Hawaii xin theo học, ông Lam Chấn mới nói là anh đánh thử đàn cho thầy nghe. Sau khi cha tôi dạo thử một bản, ông Lam Chấn bảo: “Thế này thì thầy chẳng dạy được trò nữa, trò đánh hay hơn thầy rồi”. Cha tôi học ông được 5-7 buổi thì đành nghỉ. Cha tôi có tất cả 6 người con, hai gái, bốn trai nhưng không bao giờ biết chúng tôi học lớp mấy, trường nào, thầy cô nào giảng dạy. Tuy thế ông rất quan tâm đến việc đào tạo âm nhạc cho chúng tôi. Có lần tôi học không được ông nhốt tôi vào phòng bắt đàn liên tục trong 6-7 tiếng bao giờ kỳ được thì thôi. Tôi giống cha ở tâm hồn khoáng đạt của những người chơi guitar Hawaii, nhưng không thể sáng tác được như cha. Đời con tôi thì chỉ chơi billiard. Tôi cho rằng bố tôi sẽ buồn lắm. Đó vẫn là điều ân hận của tôi vì con cháu không nối được nghiệp cha ông mình.
Posted Image


 MC, nhà phê bình âm nhạc Thụy Kha và Đoàn Liêm, con trai Đoàn Chuẩn.
 Trong khi Đoàn Liêm thành thật cho biết, ông cũng không được cha mình tiết lộ huyền sử Đoàn Chuẩn - Từ Linh, thì Thụy Kha - người được xem là bạn vong niên những năm cuối đời của người nhạc sĩ vẫn tự coi mình là "tay mơ trong âm nhạc" - đã vén bức màn bí ẩn bao năm nay. "Có những câu chuyện nghệ sĩ không chia sẻ với cả người thân nhưng lại chia sẻ với bạn bè trong giới. Có lần tôi hỏi Đoàn Chuẩn về Từ Linh, ông chỉ: Nhà hắn ở bên kia kìa. Chỗ đầu cửa Nam. Tên thật của hắn là Tư, tính hắn lì nên mọi người gọi hắn là Tư Lì, sau tôi đổi sang Từ Linh nghe có vẻ lãng mạn hơn. Có vẻ để tên Đoàn Chuẩn - Từ Linh nghe ăn khách hơn hẳn để tên Đoàn Chuẩn" - Thụy Kha kể. Ông cũng kể lại câu chuyện khá xúc động về tình bạn tri kỷ kiểu Bá Nha - Tử kỳ này: "Năm 1988, nhạc sĩ Huy Du khi ấy là Tổng thư ký hội Nhạc sĩ Việt Nam tổ chức đêm nhạc "Đoàn Chuẩn, 65 năm mùa lá rụng", sau khi đêm nhạc kết thúc, mấy anh em chúc tôi đi uống rượu chúc mừng ông, Đoàn Chuẩn đã bật khóc nói rằng, tiếc là Tư Lì không còn mà chứng kiến. Từ Linh mất trước đó một năm".

Nguồn : http://vnexpress.net...

http://bbqt.com/forum/index.php?/topic/7619-nh%E1%BB%AFng-m%E1%BB%91i-tinh-trong-nh%E1%BA%A1c-doan-chu%E1%BA%A9n /

Thứ Hai, 10 tháng 3, 2014

THIẾT BÚT THƯ SINH



 - Bước vào căn nhà nhỏ của nghệ nhân Nguyễn Đăng Hiển ở số 46 Hàng Vải (Hà Nội), người ta dễ dàng nhận ra chủ nhân của nó là một người tinh thông Hán học và giỏi nghề chạm khắc.
" Thiết bút thư sinh"
Ông Hiểu miệt mài khắc những nét chữ như phượng múa rồng bay.
Ông Hiểu miệt mài khắc những nét chữ như phượng múa rồng bay..
Xung quanh phòng khách là những bức hoành phi, câu đối, những chiếc khánh bằng đồng có khắc những bài kệ, bài minh. Trong khoảng 50 năm làm nghề, ông Hiển đặc biệt nổi danh với tài nghệ khắc chữ trên hơn 4000 quả chuông đồng mà chữ nào chữ nấy như phượng múa rồng bay. Nhiều người yêu mến đặt cho nghệ nhân Nguyễn Đăng Hiển những danh hiệu như bậc đại bút, kỳ tài... nhưng ông khiêm tốn coi mình là "thiết bút thư sinh" (anh chàng viết bằng bút sắt).
Ông Hiển sinh ra ở làng Vó (Lương Tài- Bắc Ninh), trong một gia đình nhà Nho. Không chỉ thế, ngay từ nhỏ, ông đã được làm quen với nghề chạm khắc truyền thống của dòng họ. Những tiếng búa, tiếng đục trở nên thân thiết và gần gũi với cậu bé Hiển như thể con nhà nông thì phải biết đi cày, cấy lúa vậy. Cha ông thấy con ham học nên đã dốc tâm sức để truyền dạy. "Tôi sinh ra khi cây bút sắt đã lấn át bút lông nhưng cụ thân sinh vẫn bắt tôi cầm bút lông chép Tam tự kinh, Tam thiện từ bé. Ban ngày cầm dùi đục học nghề đồng nhưng tối tối vẫn phải luyện bút lông. Bởi lẽ, các cụ bảo không thông Kinh thi, tỏ Kinh dịch thì coi như không có học", ông Hiển kể.
Khi cha qua đời, ông Hiển nối nghiệp cha. Nhưng sau nhiều lần theo cha đi đúc chuông khắp các đền chùa, miếu phủ, ông nhận ra rằng những chiếc chuông kia nếu có thêm những dòng chữ thánh hiền, hẳn sẽ đẹp và ý nghĩa hơn nhiều. Vậy là thêm một lần nữa, ông lân la khắp các tỉnh thành tìm thày dạy chữ Hán. Chỉ đơn thuần đúc chuông thôi thì thật đơn giản, viết chữ trên chuông mới khó, và khó hơn là viết trên đồng mà nhẹ nhàng, uyển chuyển như viết trên giấy. Nghĩ thế, ông theo học Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ, chuyên ngành Hán học. Học rồi đâm ra mê mẩn. Vậy là cái nghiệp "thiết bút thư sinh" gắn với ông từ đó.
Chỉ bởi đam mê
"Nghề khắc chuông quả là cực nhọc và cần lắm một chữ Tâm. Bên cạnh đó, người thợ phải am tường Hán học và biết nhẫn nại", ông Hiển cho hay.
Muốn vậy, người học ngay từ đầu phải am hiểu hết những nét sổ, hoành,... đến các nét "biến" và phải biết "chạm" những chữ Hán đó trên bề mặt quả chuông. Phải "chạm" làm sao mà như vẽ trên giấy, chỉ cần hơi quá tay một chút thì nét "trường hoành" sẽ đâm xuyên sang chữ khác, nét "đoản" sẽ thành nét "trường". Chính vì thế, người thợ phải tập trung cao độ, tâm hoà, khí hoà mới có thể xuất bút tràn trề khí thế được.
Thêm nữa, những nét khắc đó phải có độ nông, sâu, rộng, hẹp phù hợp để người nhìn vào thấy được cái đẹp mềm mại, uyển chuyển của cây liễu, cái rắn rỏi của cây tùng, cây bách, cái thâm thuý của chữ thánh hiền. Viết trên đồng không thể viết lại nên việc sử dụng "thiết bút", là những con dao, cái chạm phải thật sự điêu luyện, thành thục. Tâm đắc với câu nói "phi nhẫn bất thành nhân", ông Hiển bảo, chuyển thể bài minh, bài kệ từ mặt giấy lên mặt đồng của chuông là câu chuyện khổ luyện của người thợ. "Với người nóng vội, câu chuyện đó thậm chí không bao giờ kết thúc. Để giữ cho nét bút sắc mà không phô, nhát búa vừa độ, người thợ cần hội tụ khí công tốt và tinh thần vững mới có thể "viết" được chữ lên mặt chuông. Giữ cho tâm đức tốt, vững tinh thần, kiên nhẫn, đó là bí quyết của tôi", ông nói.
Cũng bởi cái nghề "thiết bút thư sinh" cần chữ Tâm nên ông Hiển chẳng ngại ngần dù cho tiền công chỉ vài nghìn đồng một chữ. Với ông Hiển, sống trên đời được làm những điều mình thích, mà cái Tâm thanh thản là đủ thấy hạnh phúc rồi. Ông tâm sự: "Mỗi ngày tôi khắc nhiều lắm là 200 chữ. Chỉ có yêu nghề mới gắn bó được lâu dài chứ để làm giàu thì không thể theo được…".
Tiếng lành đồn xa, ông Hiển đã được nhiều nơi mời đến khắc chuông. Tính đến nay, ông đã khắc được trên 4.000 quả chuông, khánh lớn nhỏ. Bây giờ, ở cái tuổi "thất thập cổ lai hi", ngoài công việc khắc chuông, ông còn dạy chữ Hán. Học trò của ông, tuy nhiều người tinh thông chữ Hán nhưng chưa ai khiến ông thật sự hài lòng vì họ không khắc được chữ trên chuông. Ông sợ rằng, nghề sẽ mai một nếu không ai đủ chữ Nhẫn.
BN (Nguồn: Báo KTNT)
http://langvietonline.vn/Lang-Pho/119953/Gap-thiet-but-thu-sinh-dat-Ha-thanh.html

Thứ Tư, 5 tháng 3, 2014

MAI LAN CÚC TRÚC

http://www.chenbaodi.com/UploadFiles/%E4%B9%A6%E7%94%BB%E5%9B%BE/%E6%A2%85%E5%85%B0%E8%8F%8A%E7%AB%B9%E5%9B%9B%E5%B1%8F.jpg


Tứ quân tử: Mai, Lan, Cúc, Trúc trong tranh TQ
Mai, lan, trúc, cúc là đề tài quen thuộc trong hội họa Trung Quốc. Bốn chủng loại này đều có tính cách cao nhã. Mai nở vào mùa đông và xuân, chịu đựng lạnh lẽo. Lan kiều diễm mảnh mai, hương thơm thâm trầm. Trúc ngay thẳng, vô tâm, đầy tiết tháo. Cúc trải sương giá mà chẳng héo hon, có ý chí thách đố thiên nhiên. Thế nên các văn nhân Trung Quốc ái mộ mà đặt tên cho bốn loại này là Tứ quân tử.
Hơn hai ngàn năm trước, thi nhân Khuất Nguyên đã so sánh hoa lan với mỹ nhân rằng: «Thu lan hề thanh thanh, lục diệp hề tử hanh. Mãn đường hề mỹ nhân, hốt độc dữ dư hề thả thành.» (Thu lan ơi mườn mượt, cọng tía cùng lá xanh. Đầy nhà toàn người đẹp, riêng với ta đưa tình.)
Hoa cúc trác việt siêu phàm. Đào Tiềm, thi nhân đời Tấn, từng thốt rằng: «Thu cúc hữu giai sắc, ấp lộ chuyết kỳ anh, phiếm thử vong ưu vật, viễn ngã di thế tình.» (Hoa cúc mùa thu có sắc đẹp, phơi lộ nét anh tú, khiến ta quên tình buồn, lánh xa tình đời.)
Đời Tống có ẩn sĩ Lâm Bô yêu hoa mai đến độ không cần có vợ con, chỉ chuyên tâm trồng hoa mai và nuôi hạc. Người đời tặng cho ông câu «mai thê hạc tử» (hoa mai là vợ, chim hạc là con).
Yêu trúc có thể kể đến Tô Thức. Ông nói: «Ninh khả thực vô nhục, bất khả cư vô trúc.» (Thà ăn không có thịt chứ không thể ở thiếu trúc). Như vậy đủ biết địa vị của trúc được đề cao như thế nào và các tao nhân mặc khách đều xem trúc là người bạn đường không thể thiếu được.
Trúc mai : «Trúc là quân tử, mai là giai nhân.» – tranh của Thạch Đào đời Thanh
Trúc mai : «Trúc là quân tử, mai là giai nhân.» – tranh của Thạch Đào đời Thanh
Các họa gia cũng có cảm tình sâu đậm với tứ quân tử. Mai, lan, trúc, cúc và hội họa Trung Quốc quả có cái duyên không lìa. Trải bao tháng năm lịch sử, nhiều họa gia hậu bối đã cải tiến họa pháp, thể hiện nhiều nét tân kỳ bất tận.
Chủ đề tứ quân tử có tự bao giờ vẫn là vấn đề còn tranh cãi. Theo quyển Thập Quốc Xuân Thu Ký một vị tướng quân của triều Nam Đường tên là Quách Sùng Thao khi chinh phạt nước Thục đã bắt nhiều người. Trong số ấy có Lý phu nhân bị ông ép làm vợ. Lý phu nhân thường u sầu ủ rũ, thích ngồi một mình dưới trăng, ngắm cành trúc la đà. Do xúc cảm, bà dùng bút và mực đen vẽ nên tranh. Người ta cho rằng mặc trúc (trúc vẽ bằng mực đen) bắt đầu từ dạo ấy. Nhưng vị tất mặc trúc bắt đầu từ Lý phu nhân. Người ta biết chắc chắn tranh hoa điểu bắt nguồn từ đời Đường vậy thì bảo mặc trúc có từ Hậu Đường cũng có thể tin được.
Mai, lan, trúc, cúc bước vào hội họa chẳng qua vì chúng hàm hữu ý vị tượng trưng văn học, tiêu biểu đức hạnh của người quân tử. Đời Tống có Văn Đồng, Tô Thức nổi tiếng về mặc trúc, Thôi Bạch với mặc mai, Trịnh Tư Hữu, Triệu Mạnh Kiên với mặc lan, cho đến Triệu Xương, Hoàng Cư Bảo với mặc cúc. Tất cả nhưng danh họa gia này đã vun xới một mảnh đất, khai phóng một con đường giúp cho hội họa các triều đại kế tiếp được phát triển dễ dàng.
Trúc - tranh của Từ Vị đời Minh
Trúc - tranh của Từ Vị đời Minh
Vào đời Nguyên mặc trúc đã thịnh hành với các danh gia như Cao Phòng Sơn, Lý Tức Trai, Kha Cửu Tư, Nghê Vân Lâm, Ngô Trọng Khuê, Cố Định Chi, Triệu Mạnh Phủ, Quản Trọng Cơ, v.v… Đặc biệt, Lý Tức Trai đã thâm nhập một ngôi làng trúc, nghiên cứu mọi tư thế của cây trúc, viết thành một quyển sách để đời gọi là Trúc Phổ. Kha Cửu Tư biên soạn quyển Họa Trúc Phổ nghiên cứu họa pháp về trúc đời Tống, có thể xem là sách gối đầu giường cho người sơ học.
hoihoa4quantu d
Trúc – tranh của Ngô Trấn đời Nguyên
Đến đời Minh, tranh mai, lan, trúc, cúc cực thịnh, danh họa gia cũng nhiều như Tống Khắc, Vương Phất, Hạ Xưởng, Lỗ Đắc Chi, v.v… Nổi tiếng nhất là Hạ Xưởng. Ông tự Trọng Chiêu, bắt đầu học vẽ trúc và đá nơi Vương Phất. Về sau ông tự cải tiến lối vẽ trúc: thân trúc thẳng tắp ngạo nghễ, có sắc khói sương, chỗ đậm chỗ nhạt chỗ xơ xác cực kỳ ảo diệu. Thuở ấy có câu ca: «Hạ hương nhất cá trúc, Tây lương thập đĩnh kim.» (Một cành trúc nơi quê ông Hạ Xưởng trị giá mười nén vàng ở Tây Lương).
Danh gia tiêu biểu về mặc mai có Vương Miện và Trần Hiến Chương.Vương Miện tự là Nguyên Chương vẽ mai thướt tha tiêu sái nổi tiếng đương thời. Vương Miện và Hạ Xưởng là cặp danh gia lừng lẫy; một người về mai, một người về trúc.
Các họa gia đời Thanh vẫn tuân thủ họa pháp đời Minh. Nổi tiếng là Thạch Đào và Bát Đại Sơn Nhân, hai di thần triều Minh. Khi Mãn Thanh lật đổ nhà Minh, Bát Đại Sơn Nhân giả điên giả câm chạy trốn vào núi lánh nạn, một thời làm hòa thượng, một thời làm đạo sĩ. Bát Đại Sơn Nhân thuộc giòng dõi hoàng tộc, tên là Chu Đáp. Bút hiệu của ông ngụ ý sâu sắc: Sơn Nhân có nghĩa là người ẩn dật nơi sơn dã, còn Bát Đại 八大 khi viết thảo theo hàng dọc, chữ bát 八 thành hai chấm đè lên chữ đại 大, chúng gần giống chữ tiếu 笑 (cười) hay chữ khốc 哭 (khóc), bày tỏ tâm trạng dở khóc dở cười. Ông dùng hội họa để tiêu sầu, họa pháp chủ về tả ý, đơn sơ mạnh bạo nhưng sống động, chất chứa nỗi lòng u ẩn. Họa pháp của Thạch Đào và Bát Đại sơn nhân phóng túng tiêu sái không tuân theo những qui tắc sẵn có, nên có thể đứng riêng thành một tân họa phái. Ngoài ra có thể kể thêm một số danh họa gia đời Thanh như Trịnh Tiếp nổi tiếng về lan trúc, Lý Phương Ưng, Kim Nông, Uông Sĩ Thận nổi tiếng về mặc mai. Các họa gia cận đại như Triệu Huy Thúc, Ngô Xương Thạc, Tề Bạch Thạch sáng tạo nhiều nét tân kỳ có thể gọi là cao thủ về mai, lan, trúc, cúc.
hoihoa4quantu c
Lan – tranh Kim Nông (1687-1764)
Tứ quân tử chiếm một vị trí đặc biệt trong hội họa Trung Quốc. Qua từng thời đại các danh họa gia đã góp phần sáng tạo và thể hiện tứ quân tử thêm tân kỳ. Ngày nay các họa gia Trung Quốc đã mạnh dạn thâu hóa họa pháp Tây phương. Môn họa truyền thống này sẽ phát triển như thế nào vẫn còn là vấn đề thú vị mà người ta chưa tiên đoán được.
Lê Anh Minh – Vietsciences

Thứ Bảy, 1 tháng 3, 2014

QUAN ĐIỂM VỀ VẺ ĐẸP NHỤC CẢM CỦA ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI

Quan niệm về cái đẹp nhục cảm của Ấn Độ cổ đại qua sử thi Ramayana


Phụ nữ Ấn Độ
Mĩ học ấn Độ, trước tiên, là “mĩ học tôn giáo”, bản chất cái đẹp nằm trong sự giải thoát. Nhưng, mĩ học ấn Độ còn là mĩ học mang tính “vật chất”, với “chất cụ thể của nhục cảm (sensual) cộng với sự huyền bí”. Điều này có nghĩa, cái đẹp trong quan niệm ấn Độ luôn hài hoà hai yếu tố tôn giáo và thế tục, siêu thoát và trần tục.
1. Mĩ học ấn Độ, trước tiên, là “mĩ học tôn giáo”, bản chất cái đẹp nằm trong sự giải thoát. Nhưng, mĩ học ấn Độ còn là mĩ học mang tính “vật chất”, với “chất cụ thể của nhục cảm (sensual) cộng với sự huyền bí”. Điều này có nghĩa, cái đẹp trong quan niệm ấn Độ luôn hài hoà hai yếu tố tôn giáo và thế tục, siêu thoát và trần tục. Nhục cảm chính là khía cạnh trần tục của cái đẹp trong cảm quan ấn Độ. “Nhục cảm” vốn là thuật ngữ của mĩ học, được dùng để chỉ loại khoái cảm do ăn uống, do thoả mãn nhục dục… đem lại. Trong nghệ thuật ấn Độ, nhục cảm được thể hiện rõ nhất qua những bức phù điêu tả cảnh nam nữ giao hoan, cảnh phụ nữ ở trần và sự cường điệu các bộ phận sinh sản. Với người ấn Độ, nhục cảm là một giá trị thẩm mĩ mang tính xã hội. Trong bài viết này, chúng tôi tìm hiểu quan niệm về cái đẹp nhục cảm của người ấn Độ cổ đại qua sử thi Ramayana. Vấn đề này vốn đã được đề cập tới nhiều. Song, ở đây, chúng tôi tập trung tìm hiểu hai phương diện: phương diện bản thể (cái đẹp nhục cảm là gì) và phương diện sinh tồn (cái đẹp nhục cảm tồn tại như thế nào), từ đó, đi đến một khái niệm hoàn chỉnh về cái đẹp nhục cảm trong cảm quan của ấn Độ cổ đại.
2. Trong cảm quan ấn Độ, cái đẹp nhục cảm là giá trị phổ biến của thế giới. Nếu như vẻ đẹp thân thể của các nhân vật trong sử thi Hi Lạp chỉ được thể hiện qua các định ngữ ngắn gọn, kiểu như: “Hêlen xinh đẹp”, “Bridêit má hồng”, “nữ tì tóc quăn xinh đẹp”… thì các nhân vật của sử thi Ramayana, từ nhân vật phụ nữ cho đến nhân vật anh hùng, từ nhân vật là con người đến nhân vật là thần linh hay yêu quỷ, từ nhân vật phe thiện đến nhân vật phe ác, phần lớn, được miêu tả thân thể đầy gợi cảm: Xita “hông đầy đặn”, “đùi… tròn trĩnh như vòi voi”, “ngực nở nang với đôi vú đầy và nhọn”, “đùi núng nính tròn trĩnh như vòi voi…”; các cung nữ của Ravana “đôi hông là bờ suối”, “eo lưng là sóng gợn lăn tăn”; Rama: “chân tay chàng cân đối”, “bắp vế, nắm tay của chàng rắn chắc”, “rốn sâu, bụng và ngực phủ những vệt lông tơ”; Ravana có “bộ ngực rắn khoẻ… xoa bột đàn hương”… Không chỉ con người, ngay cả thiên nhiên trong sử thi Ramayana cũng đặc biệt ấn tượng ở đường nét, hình dáng của thân thể nữ, hơn nữa là thân thể nữ trong trạng thái hành lạc. Điều này thể hiện rõ nhất qua các phép so sánh, qua việc miêu tả thế giới động thực vật ở thời điểm dậy tình. Quan niệm coi cái đẹp thân thể là giá trị phổ biến, tất yếu của thế giới, con người trong vị trí nào đều hướng tới cái đẹp của thân thể lí tưởng mang dấu ấn dân chủ của thời đại anh hùng. Nó khác với thời kì xã hội phân chia giai cấp, khi cái đẹp nhục cảm được coi là đặc quyền của các cá nhân ưu tú; như nhận định của Evanina: “ở thời Trung cổ, người ta cho rằng các nhân vật văn học chính diện nhất định phải đẹp. Cái đẹp này phản ánh cái đẹp bên trong. Bởi thế mà người ta cho rằng, chỉ cần kể về cái đẹp bên ngoài của cô gái là đủ”(1).
3. Như vậy, trong cảm quan ấn Độ cổ đại, cái đẹp nhục cảm tồn tại phổ biến trong thế giới. Tuy nhiên, cái đẹp nhục cảm đó gắn với khả năng sinh nở của vạn vật.
Sử thi Ramayana xuất hiện dày đặc, đặc biệt là phần đầu tác phẩm, mô típ sinh sôi, mô típ cầu con nối dõi, trạng thái giao hoan của vạn vật, như chuyện Đaxaratha lập đàn tế lễ cầu tự, chuyện cuộc giao phối của thần Mahađêva và vợ là Xakti Uma, chuyện con bò cái Xavala có khả năng sinh sản kì diệu… Đây là dấu ấn của tín ngưỡng phồn thực, theo đó, nhục cảm là giá trị phổ biến, tất yếu nhưng không tồn tại cho nó, mà phải thực hiện chức năng đối với thế giới: chức năng duy trì giống nòi, qua đó duy trì sự sinh tồn của thế giới. Quan niệm về cái đẹp nhục cảm như vậy được cố định thành luật (luật Manu). Theo đó, con người có quyền thoả mãn nhu cầu khoái lạc thể xác; không có khoái lạc tình dục và hạnh phúc thể xác, cuộc sống gia đình không thể tồn tại, dòng giống sẽ bị tuyệt diệt.
Việc xác định nội hàm khái niệm cái đẹp nhục cảm trên cho thấy con người ấn Độ vừa mơ mộng, vừa thực tế; vừa coi nhục cảm là phần tất yếu của cuộc sống vừa yêu cầu nhục cảm phải có ý nghĩa với sự sống. Điều này khiến thủ tướng Nehru từng thốt lên: “Thật thú vị nhận thấy rằng vào buổi bình minh của lịch sử ấn Độ, đất nước này đã… không xa rời các mặt của cuộc sống, không chìm đắm trong mơ mộng về một thế giới siêu nhiên mơ hồ, không thực tế, mà nó đã đạt được… những lạc thú của cuộc đời”(2).
Trong cảm quan ấn Độ, nhục cảm còn là sắc thái không thể thiếu của tình yêu đích thực. Có thể thấy điều này qua việc đối sánh tâm trạng nhân vật Rama trước và sau khi Xita bị bắt cóc. Trước khi Xita bị bắt cóc, Rama không một lần quan tâm đến thân thể Xita. Nhưng khi vắng Xita, ở đâu Rama cũng thấy bóng dáng thân thể kiều diễm của nàng. Trong nỗi đau tê dại, Rama tưởng tượng Xita vẫn đang phủ trên thân thể nàng đầy hoa Axôka, “đùi của em thon thả như cây chuối nước, và em che giấu nó sau lùm cây chuối”(3). Rama đắm chìm trong đại dương đau khổ khi tưởng tượng thân thể mĩ miều của Xita đang bị kẻ thù giày vò: “Bộ ngực tròn trắng của nàng ngào ngạt mùi đàn hương vàng, chắc chắn đã đầm đìa máu”(4), “khuôn mặt mà trên đó mái tóc cuốn búp buông xuống như sóng lượn, chắc chắn đã bị cướp mất vẻ đẹp như mặt trăng trong sự kìm kẹp của Rahu”, “Có thể bọn Raksaxa khát máu đã xé nát cái cổ mềm mại đeo dây chuyền vàng của con người mà ta yêu dấu”(5). Nhìn cảnh vật, chàng thấy cái đẹp thân thể hằn in khắp nơi. Trong hương sen của hồ Pampa, Rama thấy đó là hơi thở nhẹ nhàng của Xita; trong cây Tilaka nở hoa, chàng thấy bóng dáng mĩ nhân chuếnh choáng hơi men; trong cây xoài đang độ nở hoa, chàng thấy một mĩ nhân trang sức lộng lẫy bị những ham muốn ái ân giày vò…
Không những thế, cảnh vật trong mắt Rama đâu đâu cũng say trong hoan lạc. So sánh bức tranh thiên nhiên ở chương 38 khúc ca II và bức tranh thiên nhiên ở chương 23, 25 khúc ca IV, chúng ta thấy rõ điều này. Cùng là thiên nhiên của khu rừng ở ẩn, cùng là những con vật ấy nhưng sắc thái khác nhau. Thiên nhiên ở chương 38 khúc ca II hiện lên thơ mộng với trạng thái vốn có; còn thiên nhiên trong khúc ca IV ngập tràn trong trạng thái giao hoan.
Thử thách là sự bất thường của cuộc sống, nhưng chính nó lại bộc lộ phần bản chất hàng ngày bị che lấp; là bước đệm để cuộc sống trở về với quỹ đạo thường có của nó. Sự kiện Xita bị bắt cóc đã làm phát lộ sắc thái trần tục nhất – vốn có của tình yêu: sắc thái nhục cảm.
Tuy nhiên, một phản đề khác được đặt ra là, người ấn Độ chấp nhận tình yêu mang màu sắc nhục cảm nhưng không chấp nhận tình yêu chỉ có màu sắc nhục cảm. Nhục cảm luôn cân bằng, hài hoà với tâm hồn thánh thiện, trong sáng, với lòng chung thủy, đức hi sinh…
Thực ra, quan điểm coi cái đẹp nhục cảm gắn với tình yêu đã có trong thần thoại. Các nhà nghiên cứu khi dẫn câu chuyện thần Siva bị trúng mũi tên của thần Kama thường chỉ để nói lên truyền thống nhân đạo, nhân văn đề cao tình yêu trong văn hoá ấn Độ. Tuy nhiên, nếu chú ý hơn đến sự sắp xếp của các sự kiện, vai trò của sắc đẹp Uma sẽ thấy rõ quan niệm của người ấn Độ về quan hệ giữa nhục cảm và tình yêu. Vẻ đẹp gợi tình của Uma không thể tự dưng khêu gợi được dục tình của Siva. Chỉ đến khi trái tim ông tổ của chủ nghĩa khổ hạnh nhức nhối bởi tình yêu thì cái đẹp nhục thể của Uma mới được chấp nhận.
Từ quan niệm cái đẹp nhục cảm gắn với khả năng sinh sản đến quan niệm cái đẹp nhục cảm gắn với tình yêu là bước phát triển của tư duy ấn Độ, truyền thống nhân đạo của ấn Độ. Đó chính là biểu hiện của cái nhìn có văn hoá đối với nhục cảm.


Rama và Sita, tranh của Indischer Maler 1780
4. Tuy nhiên, đây vẫn chưa phải là khái niệm cái đẹp nhục cảm hoàn chỉnh trong quan niệm ấn Độ. Cái đẹp nhục cảm không chỉ là phương tiện duy trì sự sinh tồn của thế giới mà còn là phương tiện thanh lọc thế giới. Điều này xuất phát từ đặc trưng của đất nước ấn Độ coi trọng sự rèn luyện đạo đức, chế ngự tinh thần.
Người ấn Độ đề cao cái đẹp thân thể người phụ nữ nhưng phải gắn với tư cách, nghĩa là sự trinh tiết, lòng chung thuỷ… Người phụ nữ gợi cảm mà không trinh tiết, đó là người phụ nữ dâm dục, đĩ thoã, lăng loàn… và nhất định bị trừng phạt. Có thể thấy điều này qua sự phân chia nhân vật nữ trong sử thi Ramayana thành hai giới tuyến: người phụ nữ trinh thuận (tiêu biểu nhất là Xita) và người phụ nữ lăng loàn (Tara, những người phụ nữ thành Lanka,…). Hai giới tuyến này giống nhau ở cái đẹp thân thể. Song nếu như Xita một lòng sắt son với Rama thì Tara ngay sau khi Vali (chồng Tara) chết đã nhanh chóng vùi mình trong vòng tay của kẻ giết chồng mình là Xugriva, hàng ngày hàng giờ bị thú nhục dục lôi cuốn. Hình ảnh nàng Xita đứng vững trên bờ vực của ham muốn nhục dục mới chính là người phụ nữ lí tưởng theo quan niệm ấn Độ. Nhục cảm là giá trị tự nhiên, song phải gắn với lòng chung thuỷ, đức trung trinh. Nhục cảm không chung thủy, trung trinh đồng nghĩa với dâm loạn, đàng điếm. Có thể thấy điều này qua nhân vật Ahalya thất tiết với chồng, chịu hàng ngàn năm trong am, ngủ trên giường tro, ăn bằng không khí, sống hối hận không ai trông thấy; mụ Xuanapakha lăng loàn, bị lòng dục mê hoặc, hết đòi làm vợ Rama lại đòi làm vợ Lakmana phải chịu hình phạt thê thảm: cắt tai, xẻo mũi…
Tiêu chí về lòng chung thuỷ, đức trung trinh đó đã trở thành luật của ấn Độ. Tước đi tính chất hà khắc vô lí của các hủ tục, chúng ta thấy việc đặc biệt coi trọng đức hạnh người phụ nữ thật sự cần thiết để thế giới tồn tại và phát triển trong trạng thái cân bằng, trong sạch. Nếu coi nhục cảm là giá trị duy nhất, tuyệt đối, thế giới nhanh chóng sẽ ngập trong đồi bại, loạn luân… Nhục cảm gắn với đạo đức mới có chức năng gìn giữ thế giới.
5. Với người ấn Độ, nhục cảm là giá trị tự nhiên phổ biến nhưng nếu con người chấp thủ, coi nhục cảm là giá trị duy nhất, khi đó, nhục cảm đồng nghĩa với tham lam, dục vọng – mầm mống của diệt vong.
Sử thi Ramayana chỉ ra nhục dục là nguyên nhân đẩy con người vào hố sâu đau thương; nó là nguyên nhân đảo lộn mọi chân lí. Điều này có thể thấy rõ qua sự kiện vua Đaxaratha truất quyền lên ngôi của Rama. Cơ chế điều khiển hành động phi lí này là lòng dâm dục của con người. Lòng dục còn nhấn cả nhân loại trong bể khổ đau, từ người đứng đầu vương quốc là Đaxaratha đến thần linh, dân chúng… Sử thi Ramayana miêu tả nỗi đau của vua Đaxaratha thật tinh tế: “Ta đang rơi vào một biển cả mênh mông đau buồn vì Rama vắng mặt, những tiếng thở dài là sóng và xoáy lốc của nó, những cử động của tay là cá, tiếng khóc là tiếng thầm thì sâu thẳm của nó… Những giọt nước mắt giống như những con sông đang dào dạt xông vào nó”(6). Nhiều phép so sánh được tung ra để đặt tình cảnh vướng mắc không gỡ được của vua Đaxaratha vào lòng dâm dục: “Nhà vua tự trói buộc mình bằng một lời nguyền để rồi tự tiêu diệt mình, như một con hươu bị mắc bẫy bởi một sợi dây oan nghiệt”(7), “ông ngày càng đau khổ như một con hươu lúc thấy một con hổ cái”(8), “ông quằn quại như một con rắn độc ngạt thở vì bị bùa mê”(9)… Các hình ảnh đưa ra để so sánh ở đây diễn tả đúng tình cảnh bị động của vua Đaxaratha. Dục vọng đã cướp đi sức mạnh của con người. Trước dục vọng, con người bị tha hoá.
Tóm lại, câu chuyện Đaxaratha cho thấy tác hại của lòng dục, đúng như Rama nhận xét: “nhục dục là mối dục vọng mãnh liệt nhất trong con người, thậm chí mạnh hơn cả lòng tham vàng. Kẻ nào đeo đuổi lòng ham muốn mà quên đi mọi quyền lợi, sẽ mang lại nỗi cơ cực cho những người như vua Đaxaratha”(10).
Quan niệm về cái nhục cảm, nhục dục như vậy liên quan đến triết lí nhân sinh nhà Phật cho rằng nguyên nhân của khổ là “cái nhân dục vô nhai, nó làm cho con người tái sinh hoài; dục vọng đó kết hợp với sự ham thích, dâm dật, lúc nào cũng muốn thoả mãn cho được, nguyên nhân là cái ham mê, ham mê cái thực thể”(11). Triết lí nhà Phật trong khi chỉ ra căn nguyên của nỗi khổ, cũng vạch ra con đường thoát khổ là diệt dục. Phải tẩy chay lòng hám dục, cuộc sống mới an bằng, tránh được hoạ diệt vong.

Không phải ngẫu nhiên mà sử thi Ramayana dành 2 chương (chương 8, 9 khúc ca V) kể về buồng ngủ của Ravana. Hình ảnh những phụ nữ nằm ngủ chồng chất tạo thành không khí dâm dục đặc quánh bao quanh Ravana: “nàng thì gối đầu lên ngực của nàng khác trong khi một người thứ ba ngả lên đầu người này; một nàng đang nằm trên vạt áo người khác, trong khi một người thứ ba lại ngủ trên ngực của người này. Cứ thế đấy, họ ngủ chung ngủ chạ, kẻ này tựa vào vai kẻ kia”(12). Hơn nữa, khi miêu tả phòng múa của Ravana, hình ảnh những phụ nữ này được xếp lẫn lộn với đống đồ đạc, thức ăn thức uống của chủ nhân (gà, công, nai quay, thịt lợn xông khói tẩm bơ, gà gô, cá và thỏ”, “các thức uống ngon: xúp mặn, vị hơi chua…) cho thấy xu hướng vật chất hóa, dung tục hóa cái nhục cảm của Ravana. Trong sử thi Ramayana, Ravana biểu tượng cho lòng ham muốn vô độ của con người. Quá trình Rama tiết diệu Ravana chính là hành trình gian khổ của mỗi cá nhân thực hành diệt dục để đạt được hạnh phúc đích thực, hành trình con người “thoát khỏi mọi nỗi đau khổ nhờ tự huỷ diệt được mình – theo nghĩa tinh thần” để đạt đến cõi Niết Bàn – sự “an tính”, cân bằng, giao hòa.
Như vậy, việc chú ý đến cái nhục cảm của ấn Độ chỉ là “cách thức lấy vẻ đẹp của thế giới vật chất như một phương tiện để hướng đạo khát vọng các tín đồ tới vẻ đẹp tâm linh của giác ngộ chân thành(13). Tại các chùa chiền ấn Độ, sự xuất hiện các bức tranh phụ nữ gợi cảm là để nhấn mạnh vào bức thông điệp của Đấng giác ngộ về sự chế ngự, vượt qua cạm bẫy quyến rũ của dục vọng. Vượt qua cái ảo ảnh, giả nguỵ của cái đẹp, con người sẽ tìm thấy cái đẹp đích thực ở cõi thanh tĩnh, an bằng.
Như thế, nhục cảm một khi đã tước bỏ tất cả ý nghĩa xã hội văn hoá nó trở thành lực cản cho sự tồn tại của thế giới. Nhục cảm phải gắn với thế giới thanh sạch, hài hoà, an bằng mới là cái đẹp đích thực trong cảm quan ấn Độ.
Đến đây, chúng ta có thể hình thành một cách cơ bản quan niệm về cái đẹp nhục cảm của ấn Độ qua sử thi Ramayana: cái đẹp nhục cảm là giá trị phổ biến, tự nhiên của cuộc sống, gắn với khả năng sinh sản để duy trì sự sinh tồn của thế giới; gắn với những hành vi văn hoá của con người như tình yêu, đức hạnh, nhân cách… để gìn giữ sự an bằng, sạch trong của thế giới.
Quan niệm cái đẹp nhục cảm như trên xuất phát từ đặc trưng tôn giáo chi phối mọi mặt của đời sống trong truyền thống văn hoá ấn Độ. Tuy nhiên, “mặc dù được chỉ dẫn theo các quy luật, cách thức của mĩ học tôn giáo nhưng cảm xúc vẫn luôn chi phối trong quá trình sáng tạo nên họ không thể không mang vào… những tình cảm nhân bản”(13). Điều này chính Krishna Kripalani trong cuốn Literature of Modern India – A panoramic glimpse đã khẳng định: “Sự biểu đạt đầy tính dục rõ ràng không mâu thuẫn với trạng thái thăng hoa về tinh thần và lòng mộ đạo một cách sùng kính” (“Such erotic expression was obviously not inconsistent with flights of spiritual ecstasy or moral piety”) (14).
Phạm Phương Chi(*)
(Nguồn Tạp chí Văn hoá Dân gian, số 6(96)/2004)

Chú thích
(*) Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
(1) Evanina “Tình yêu và hôn nhân trong văn học ấn Độ thời trung đại”, Tạp chí Văn học nước ngoài, số 4/1996, tr.91
(2) Jawaharlal Nehru Phát hiện ấn Độ, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội, 1990, tr.106
(3) Ramayana, tập 2, Nxb Văn học, Hà Nội, 1988, tr.135
(4) Ramayana, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội, 1988, tr.136
(5) Ramayana, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội, 1988, tr.135
(6) Ramayana, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội, 1988, tr.178
(7) Ramayana, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội, 1988, tr.146
(8) Ramayana, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội, 1988, tr.146
(9) Ramayana, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội, 1988, tr.146
(10) Ramayana, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội, 1988, tr.171
(11) Lê Xuân Khoa Nhập môn triết học ấn Độ, Trung tâm học liệu – Bộ giáo dục, Sài Gòn, 1972, tr.62
(12) Ramayana, tập 2, Nxb Văn học, Hà Nội, 1988, tr.146 – 147
(13) Lương Duy Thứ (chủ biên) Đại cương văn hoá phương Đông, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1996, tr.200
(14) Krishna Kripalani Literature of Modern India a panoramic glimpse, Nation book trust, India, 1982, tr.73

Thứ Hai, 25 tháng 11, 2013

ĐỒ GỐM THỜI LÝ TRẦN, THỜI THĂNG HOA

Bùi Ngọc Tuấn
Tước gốm men nâu, thời Trần cao 10cm.
Sau khi Ngô Quyền dựng lại nền độc lập, nhà Ðinh, nhà Tiền Lê bắt đầu mở mang đất nước, nhưng phải đến đời nhà Lý, văn hóa Việt Nam mới phát triển rực rỡ. Ðời Lý, đời Trần là giai đoạn thăng hoa của đồ gốm Việt Nam. Khi Lý Thái Tổ dời kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) vào Thăng Long, xây dựng thành trì, cung điện, tôn sùng Phật giáo thì một nhu cầu to lớn về đồ gốm diễn ra. Theo gót dời đô, những nhà làm đồ gốm ở khắp nơi hoặc dọn về gần kinh thành, hoặc tăng mức sản xuất. Dưới thời đó, với tinh thần dân tộc mạnh mẽ, với tinh thần Phật Giáo ảnh hưởng tràn ngập xã hội, nhu cầu xây dựng cung thành, nhu cầu của giới trưởng giả, cuả các đình chùa được xây dựng tăng lên bội phần. Từ đó tài năng, kỹ thuật, nghệ thuật của những lò gốm phát triển, đưa đến một cuộc bừng nở rực rỡ của đồ gốm Việt Nam. Trong quyết tâm bảo vệ văn hóa dân tộc, họ đã phát triển đồ gốm thành một nghệ thuật tạo hình Việt Nam, riêng biệt, rực rỡ, phong phú, cũng như nền văn hóa Hoà Bình, Phùng Nguyên, Bắc Sơn, Ðông Sơn trước đó. Người thợ đồ gốm Việt Nam đã tạo nên rất những dáng kiểu, sắc men và hoa văn rất Việt Nam, thể hiện tinh thần sáng tạo phóng túng và phong phú. Họ tạo nên những dáng kiểu, nước men và hoa văn đa diện, không thể thấy trong văn hóa Trung Hoa vốn nhiều khuôn khổ gò bó. Vì thế, cho dù họ có học được một vài kỹ thuật nghề nghiệp, nhưng phần nghệ thuật đã gần như không mấy chịu ảnh hưởng của nghệ thuật đồ gốm Trung Hoa. Trong khung cảnh hứng khởi của nền tự chủ vừa tìm lại được, cùng các nhu cầu xây dựng thành quách, cung điện, đình chùa, ảnh hưởng mạnh của Phật Giáo, Lão Giáo và truyền thống văn minh Việt đã hội nhập trong các tô, chén đĩa, bình Việt Nam. Sự khởi đầu đơn giản, với các món đồ còn ảnh hưởng đồ gốm nhà Tống, bỗng vươn mạnh lên qua bàn tay sáng tạo của người thợ Việt Nam thành một nền văn minh rực rỡ, mà ngày hôm nay, khi nâng niu những món đồ tuyệt đẹp ấy trên tay, chúng ta còn cảm thấy bừng bừng sức sống mãnh liệt của dân Việt, như nhìn thấy cái phóng túng của bàn tay nghệ sĩ trên bàn xoay, hay trên nét vẽ nhanh, thoát như gió thổi, nước trôi dưới nước men mỏng. Người nghệ sĩ Trung Hoa vẽ đồ gốm một cách cẩn trọng, tỉ mỉ. Họ vẽ như người quan sát thiên nhiên một cách khách quan, tuân theo những quy luật nhất định, đường thẳng như kẻ thước, đường cong như cánh cung, bên phải bên trái đối xứng, bên trên bên dưới đều đặn. Ðề tài rất tôn nghiêm: Long Ly Quy Phụng. Họ vẽ như cử hành một nghi lễ. Trong khi đó, người nghệ sĩ Việt Nam vẽ tự nhiên, vẽ thoải mái, vẽ như chơi, như thả diều, như đánh đáo, vẽ tự nhiên như ăn như ngủ; Ðề tài là hoa, là lá, là chim, là thú, là côn trùng, là thảo mộc của đồng ruộng, thôn quê kề cận bên mình, như chim sẻ, như tôm, như cua, chuồn chuồn, cóc nhái. Tại sao rồng cứ phải bay với mây không thôi, rồng với hoa càng đẹp, càng thân cận chứ sao?! Vậy thì ta cứ bỏ mặc cái luật lệ của anh Tàu, ta vẽ rồng hoa chung nhau cho nó thích. Anh Tàu ảnh không có voi thì kệ ảnh, xứ mình nhiều voi thì mình làm bình vòi voi chơi; mình thích bình con rồng, thì mình làm bình con rồng theo kiểu mình; mình thương con gà cục tác lá chanh, thì mình làm cái ấm con gà cho vui. Ngồi nặn tô, thấy mấy con cóc nhảy quanh nhà, thì ta làm cái ấm hình con cóc, rồi tô cho nó một nước men xanh chơi, chao ơi là thú vị. Họ vẽ đời sống nông thôn của họ lên các món đồ gốm đó. Họ và đề tài của họ là một; Con chim sẻ, con cá bống, con chích chòe sống trong người họ rồi tràn ra nét bút tự nhiên, sống động, không cố gắng. Ôi! Khi cầm trên tay, làm sao mà ta không cảm thấy được cái khoái trá của người nghệ sĩ đầu đời Lý khi họ làm cái bình rượu nhỏ với dạng con tôm càng cưỡi trên lưng con cá chép. Con cháu Khổng Tử nghiêm túc với Kinh Lễ, Kinh Thư, nghe cái chuyện đó cũng hết vía rồi, làm sao mà dám nghĩ đến việc làm bình có cái hồn phóng khoáng đó được. Nét bút người nghệ sĩ Việt múa nhẹ, mũi tre cắt vào đất sắc mà nhanh, men chỗ dày chỗ mỏng thì càng tự nhiên chứ đâu có sao; cái hình bên này nhỏ hơn cái phía bên kia một chút thì lại càng ngộ càng xinh chứ hề chi. (Trong trống đồng tên là “Sông Ðà”, khi chạm xong con chim hạc thứ mười sáu, người nghệ sĩ thời Ðông Sơn mới thấy mình chỉ chia vòng tròn làm mười bảy phần, làm sao chạm mười tám chim hạc bây giờ? Thôi thì ta giải quyết bằng cách chạm chim hạc số mười bảy và mười tám sát nhau, mà đứng chứ không bay, cho đủ chỗ. Xin xem hình trống “Sông Ðà” trong Những trống đồng Ðông Sơn đã phát hiện ở Việt Nam của Nguyễn Văn Huyên và Hoàng Vinh, do Viện Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam ở Hà Nội xuất bản năm 1975. Ông thợ Trung Hoa mà gặp lỗi này thì phải bỏ hết để làm lại từ đầu chứ đâu có dám tự tiện như vậy. Nói như thế không phải là chê đồ gốm Tàu không đẹp, đồ Tàu cực đẹp là đằng khác. Nhưng hai cách làm đẹp và hưởng đẹp rất khác nhau. Ðồ gốm Tàu đẹp như một cô gái trang điểm lộng lẫy của dạ hội, đồ gốm Việt đẹp như cô gái hàng xóm thơ ngây, tươi mát. Cái đẹp của đồ Tàu là cái đẹp của thơ Lý Bạch: “Vân tưởng y thường hoa tưởng dung – Xuân phong phất hạm lộ hoa nùng”, trong khi cái đẹp của đồ Việt là thơ Nguyễn Khuyến: “Sóng biếc theo làn hơi gợn tí – lá vàng trước gió sẽ đưa vèo’. Một bên đẽo gọt tinh xảo, một bên gần gũi đơn sơ, một bên là cái đẹp của trí tuệ, một bên là cái đẹp của tâm hồn.
Gọi là đồ đời Lý, nhưng ta gồm cả nơi đây đồ gốm đời Trần, bởi vì đồ đời Trần tiếp tục truyền thống đặc sắc của đồ đời Lý. (Cho đến đời Hậu Lê, sự phát triển đặc sắc của đồ gốm Chu Ðậu, Bát Tràng mới thực sự trở nên cá biệt, tạo những chiều hướng khác). Hoa văn đồ gốm đời Lý thường là ám họa, hoa văn vẽ màu chỉ thấy trên các món Lý Trắng mà cũng chỉ là một màu men xám. Phải chăng đây cũng là ảnh hưởng Phật giáo trong tinh thần đơn sơ của truyền thống thôn làng? Nền Phật giáo nơi đây là Phật giáo truyền theo đường phương Tây, phương Nam mà vào chứ chưa phải là nền Phật giáo truyền từ Trung Hoa xuống như sau này, tương ứng vời thời Phật còn thường được gọi là bụt (Budha), cách ký âm Việt Nam, chứ chưa theo cách ký âm Trung Hoa và giọng đọc Hán Việt mà thành chữ Phật. Ða số đồ đời Lý thường để dấu con kê, đôi khi thấy có vành men cạo. Những kỹ thuật thường dùng cho đồ khỏi dính vào nhau trong lò nung.
Ngoài cách phân loại theo dáng kiểu, người ta thường phân loại đồ gốm Việt ra theo nước men: Ðồ men ngọc, đồ Lý trắng, Lý nâu, Lý lục.
1. Ðồ men ngọc (celadon): ảnh hưởng Phật giáo chen kẽ với ảnh hưởng đồ men ngọc đời Tống. Hoa văn với những mô thức Phật giáo như cánh sen, hoa cúc. Ðôi khí có ảnh hưởng đồ gốm nhà Tống nhưng đã Việt hóa (ám họa hình ảnh 2, 3 hay 4 em bé trai chơi trong một vườn hoa, ám họa hình 2 lực sĩ đấu vật…). Ngoài những bát, chén và đĩa men ngọc nhỏ, ta còn thấy có nhiều tước (hay bôi), bình trà, nậm rượu nhỏ. Có những nậm rượu men ngọc chạm nổi hình 2 con cá chép đang bơi. Có những nậm rượu hình quả bầu. Các nậm rượu này nhỏ, chắc để dùng trên bàn thờ nhiều hơn là để dùng chứa rượu uống. Ngoài những đĩa trang trí bằng các ám họa hoa sen, hoa cúc, cũng có những đĩa nhỏ (5cm) chạm nổi hình cá chép đang bơi. Men ngọc màu xanh rêu với nhiều sắc từ nhạt đến đậm, có khi rất đậm, gần như xanh đen. So với đồ men ngọc đời nhà Tống, đồ men ngọc đời Lý thường dày hơn, nước men cũng khá dày, cốt men bằng đất sét trắng pha cát, cầm trên tay thấy nặng, tiếng gõ đục tiếng vang ngắn và nhỏ. (Ðồ men ngọc đời Tống men mỏng, nhẹ, tiếng vang trong và ngân rất dài vì làm bằng đất pha đá nghiền). So với các món Lý trắng, Lý nâu thì đồ men ngọc (cũng như đồ Lý lục) không còn nhiều, phải chăng vì không được làm nhiều?
2. Ðồ Lý trắng: Bát chén Lý trắng cùng các bình ấm rất đẹp, một vẻ đẹp thanh nhã mà cao sang, càng nhìn càng ưa. Bình và ấm vẫn theo truyền thống Việt Nam, quai cầm chỉ có tính cách trang trí, không thực dụng. Nước men rất mịn, màu trắng tuyền, nhìn mát rượi, thảng hoặc có món men trắng thoáng ẩn sắc xanh dương. Có chén nhỏ lòng tráng men trắng, nhưng bên ngoài lại tráng men nâu. Bình men trắng đôi khi có phác họa một vài cánh hoa màu xám nhạt. Chúng tôi sưu tập được một bình Lý trắng (cao 15cm) có quai cầm là hình một con cá bống nhỏ màu trắng, mắt đen, rất linh động, nắp bình vẽ hoa cúc, thân bình vẽ cành trúc, cành mai màu xám nhạt. Những bình khác có quai cầm hình xoắn ốc hay hình một con rồng chui từ trong thân bình ra rồi lại chui vào, tạo thành quai cầm để lại chui sang mé bên kia cất cao đầu trở nên vòi rót. Rồng đây không phải là con rồng Trung Hoa, mà là một con rắn mình trơn, có kỳ trên lưng, đầu giống như hình linh vật Naga hay Makara của Ấn Ðộ. Miệng bình thường khá nhỏ, chỉ có thể dùng làm nậm rượu hay bình nước, chứ không thể thành ấm trà. Có những tô Lý trắng ám họa hình ảnh của văn hóa Ả Rập, hình ảnh trăng lưỡi liềm và các vì sao cùng với 2 đoản đao bắt chéo… Có những bát, trong lòng toàn biểu tượng Phật giáo như chữ Vạn, như hình ảnh bát bửu, hay trong lòng chén, lòng đĩa là cả một bông hoa sen, bông hoa cúc đang nở. Có lu nhỏ cao 20cm rông 15cm, nắp lu là cả một bông sen, miệng lu cũng chạm nổi những cánh sen đang nở. Có tô đường kính 12cm, đáy tô là một bông cúc nở, quanh lòng tô là những nhành lá và hoa cúc. Bình ấm rất đẹp, nhiều cái hình quả dưa, quả bầu, hình con tôm càng cưỡi trên lưng con cá chép…
3. Ðồ Lý nâu: ta gọi chung là Lý nâu, nhưng ở đây màu nâu có rất nhiều sắc, từ nâu nhạt đến nâu đậm gần như là đen. Ngay trên cùng một món, men nâu cũng pha nhiều sắc. Có những bát, chén men nâu có gờ miệng không nhẵn mà lại gẫy cạnh như hình hoa cúc, trong lòng bát là những ám họa hoa cúc khác, rõ ràng là chén bát dùng trên bàn thờ chứ không phải để dùng trong đời sống hàng ngày. Trong những số lượng sưu tập, bát chén có ám họa biểu tượng nhà Phật như hoa cúc, hoa sen… đồ men nâu có rất nhiều. Có phải đây lại là một ảnh hưởng Phật giáo khác? Bình ấm men nâu rất đặc sắc, có nhiều bình men nhoè (sau khi tráng xong men nâu, người ta tưới lên bình một sắc men nâu đậm hơn, rồi để cho tu chảy loang lổ, hoặc sau khi tráng men xong họ tạt nước lên cho men chảy nhoè). Nước men trên bát chén men nâu mỏng trong khi nước men trên bình men nâu dày, bóng sáng mịn, độ dày mỏng của nước men trên bình cũng không đều, tạo ra nhiều sắc đậm nhạt khác nhau. Có nậm rượu men nâu trang trí hình chân chim (do bút tre vạch lên nên men sau khi tráng). Nhiều bát men nâu có trang trí hình chạm nổi từ khuôn đúc rất đẹp. Cũng như đồ Lý trắng, bình ấm Lý nâu rất đẹp, hình dạng thay đổi từ tròn sang bầu hay hình con nghê…
4. Ðồ Lý lục: Màu men lục nơi đây là màu men xanh cánh trả, trong biếc. Nước men mỏng, ám họa nổi. Số lượng đồ Lý lục còn lại không nhiều. Tìm được một món Lý lục đẹp rất khó. Bình Lý lục rất đẹp nhưng hiếm thấy, hoa văn nhành rêu, vòi rót hình đầu makara. Bát đĩa, bình ấm Lý lục cũng có nhiều sắc, hoặc xanh biếc, hoặc xanh rêu, hoa văn trên bát đĩa cũng vẫn là biểu tượng hoa cúc, hoa sen của nhà Phật hay hình cá chép theo kiểu song ngư của văn hóa nhà Tống.
Tóm lại, đồ gốm thời Lý Trần là một giai đoạn rất quan trọng trong nghệ thuật đồ gốm cổ truyền Việt Nam. Ðây chính là giai đoạn thăng hoa của nghệ thuật này. Khởi đi từ những món đồ không tráng men dưới thời Bắc Thuộc, sang đời Lý đồ gốm Việt Nam phát triển rực rỡ. Số lượng rất nhiều, đủ mọi thứ loại, đủ mọi sắc men, đủ mọi hoa văn với ảnh hưởng Phật giáo đậm đà tạo nên một thời cực thịnh của nền đồ gốm dân tộc để rồi lên đến tuyệt đỉnh với đồ gốm Chu Ðậu vào thời Hậu Lê, thời nhà Mạc sau đó.
Bùi Ngọc Tuấn