Translate

Thứ Sáu, 5 tháng 9, 2014

HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI TRONG ĐIÊU KHẮC Ở ĐÌNH CHÙA VIỆT NAM THẾ KỶ XVII


large_hinh tuong cn trong dk dd1481348
Cuối thế kỷ XVII là giai đoạn phát triển đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc kiến trúc đình làng Việt và nhiều ngôi đình nổi tiếng xuất hiện trong giai đoạn này như: đình So, đình Chu Quyến (Hà Tây), đình Kiền Bái (Hải Phòng), đình Diềm (Bắc Ninh ) .
Hiện chưa có một thống kê đầy đủ về số lượng những ngôi đình thế kỷ XVII, nhưng có thể khẳng định chúng chiếm một tỷ lệ khá lớn trong loại hình đình làng Việt, tập trung chủ yếu ở đồng bằng Bắc Bộ và rất nhiều trong số đó còn bảo lưu được các giá trị về mặt kiến trúc, nghệ thuật.
Đi liền với những công trình kiến trúc công cộng làng xã là sự phát triển đến đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc dân gian, góp phần tạo nên giá trị độc đáo của kiến trúc đình làng thế kỷ XVII. Trong điêu khắc trang trí trên kiến trúc đình làng giai đoạn này, hình tượng con người nổi lên như một hình ảnh trung tâm, một điểm nhấn độc đáo(1).

hinh tuong con nguoi trong dieu khac (1)

hinh tuong con nguoi trong dieu khac
Điêu khắc gỗ tại đình Hà Hiệp – Hà Tây
Nghệ thuật đã phát triển lên một trình độ mới, thể hiện ý thức về cuộc sống tinh thần của người dân đương thời. Hình tượng con người không những phong phú về chủ đề, ý tưởng mà còn đa dạng về thủ pháp nghệ thuật diễn đạt và chiếm một vị trí trang trọng trong đình. Có thể chia theo hai nội dung chính:
- Hình tượng con người mang yếu tố thần thoại, ước lệ được thể hiện ở những mảng trạm khắc theo các chủ đề: “Vũ nữ thiên thần” “người cưỡi rồng, phượng, hạc”, “táng mả Hàm Rồng” “Người cưỡi hổ”
- Với hình tượng con người phản ánh cuộc sống xã hội đương thời được thể hiện ở cảnh”Đấu vật”, “uống rượu”; “đánh cờ”; “mẹ con”; “cưỡi ngựa”, “chọi gà, lễ hội”, “nam nữ tình tự”, “thiếu nữ tắm hồ sen”, “chèo thuyền”, “đi săn”.
Với hình tượng con người mang yếu tố thần thoại nổi bật với những hình tượng vũ nữ thiên thần có cánh và không có cánh.Tượng vũ nữ ở vị trí ván gió cánh gà thường chạm chính diện với khuôn mặt trái xoan , mũi thấp , môi mỏng , cổ cao thanh tú , đôi khi thể hiện rõ cả 3 ngấn (Đình Diềm – Bắc Ninh). Có khi tượng vũ nữ lại có những đặc điểm chung là ngực nở bụng thon , cánh tay dài với những ngón tay búp măng mềm mại.
Bên cạnh đó còn rất nhiều hình tượng con người khác như những đạo sĩ ngồi bó gối trầm tư (đình Hạ Hiệp), người bắt lợn (đình Hạ Hiệp, đình Hương Canh…), chồng nụ, chồng hoa, thôn nữ ngồi trên đầu rồng, đá cầu (đình Hạ Hiệp, đình Hương Canh), cưỡi ngựa, cưỡi voi, quản tượng… Với hàng trăm con người đã vẽ lên bức tranh làng quê xưa: có điều thiện và tội ác, có hạnh phúc và khổ đau, có nụ cười và nước mắt, có khát vọng, lạc quan và bi luỵ, đau thương… Tuỳ từng đề tài mà cách diễn đạt, mô tả, nhấn mạnh từng đặc điểm khác nhau. Đạo sĩ thường có khuôn mặt đăm chiêu (đình Hạ Hiệp), cảnh đấu vật, đi săn.. thì nhấn mạnh các bắp thịt cuồn cuộn của nhân vật chính (đình Hạ Hiệp, Đại Phùng, Hoàng Xá), cảnh nam nữ tình tự, cảnh thiếu nữ… lại chú ý diễn tả khuôn mặt vui vẻ, viên mãn; các cô gái được diễn tả với khuôn ngực căng tròn, đầy sức sống (đình Phù Lão); Người nông dân thường có đặc điểm: đầu tròn, to, cạo trọc; đàn bà thường có khuôn mặt đầy đặn, phúc hậu, để tóc dài, xoã hoặc búi thành búi lớn trên đỉnh. Nói chung hình ảnh con người đa phần đều mang những nét cơ bản của người bản địa, thuộc chủng tộc Nam á, với những đặc điểm: người thấp, đậm, mặt tròn, mũi to, sống mũi thấp, môi dày, mắt to… Cũng có một vài mảng chạm người đàn ông có vóc dáng khá cao lớn, mũi cao, và đặc biệt dựa vào trang phục (áo dài, chân đi ủng, đầu đội mũ phớt rộng vành…), có thể đó là những người phương Tây đến nước ta buôn bán trong giai đoạn này; Những bức chạm mô tả người đàn ông trong các cảnh đấu vật, đi săn, táng mả hàm rồng… thường có thân hình vạm vỡ, ngực nở, đôi khi các cơ bắp được phóng đại lên quá mức. Nhìn chung, hình tượng con người trong điêu khắc kiến trúc đình làng thế kỷ XVII thường có tỷ lệ giữa đầu và thân mang tính ước lệ, chỉ bằng 1/3.
Một đóng góp quan trọng của điêu khắc đình làng là sự phản ánh cuộc sống hiện thực của nông thôn Việt Nam thế kỷ XVII. Hoàn cảnh kinh tế xã hội lúc đó không chỉ có sự thay đổi về vật chất mà còn mang lại những trào lưu tư tưởng mới. Chính vì thế, khi ngọn lửa của cuộc nội chiến vừa tắt, thôn xóm mới trở lại yên bình, người dân đã bắt tay xây dựng đình, chùa. Người nghệ sĩ dân gian đã thể hiện cách nhìn lãng mạn của họ về một thế giới đang hồi sinh: cảnh náo nhiệt của hội làng, phút giây đoàn tụ chồng vợ, cuộc hò hẹn của bạn tình, sự nồng nàn của ái ân, nụ cười không tắt của cuộc rượu, phút thư nhàn của buổi săn… tất cả đều tươi mát tình nhân ái, tính nhân văn. Song, cái chất lãng mạn của điêu khắc đình làng không mang tính dung tục, thấp hèn. Có rất nhiều cảnh tình tự không hề khơi dậy cảm giác xác thịt mà chỉ thể hiện tình yêu và cái đẹp cùng ý thức phản kháng mãnh liệt của con người đương thời.
Có thể thấy qua những bức chạm của đình làng Việt thế kỷ XVII rất nhiều mặt của đời sống xã hội: trong lao động – cảnh đi săn thú, trong sinh hoạt – vợ chồng gãi chân cho nhau, đá cầu, đấu khiên, hát chèo, nam nữ tự tình, uống rượu… Ngoài ra còn khá nhiều bức chạm mô tả về tầng lớp quan lại: cảnh người hầu quạt cho quan, cảnh quan cưỡi ngựa, cảnh cướp con, đòi nợ và đặc biệt là cảnh phạt vạ gái chửa hoang ở sân đình (đình làng Phù Lão)… Tính hiện thực thể hiện ngay trong từng chi tiết: Khẩu súng kíp, đao, kiếm, cung của thế kỷ XVII; Y phục của con người thuộc các tầng lớp khác nhau trong xã hội đương thời: (váy, mũ miện, hạt cườm của phụ nữ; áo dài, ủng, mũ phớt của đàn ông…); Những nhạc cụ cổ xưa (kèn, sáo, trống, thanh la…) hay các trò chơi dân gian (đấu vật, chọi gà, đá cầu…) vv… Đó là những tư liệu phong phú, sống động cho các ngành khoa học như: Dân tộc học, Văn hoá dân gian, Lịch sử quân sự…
Thông qua tính hiện thực của đề tài, điêu khắc trang trí đình làng Việt thế kỷ XVII còn thể hiện tính đấu tranh sâu sắc. Dưới chế độ phụ quyền Nho giáo, người phụ nữ bị khinh miệt, coi rẻ “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, “phụ nhân nan hoá”)…. Vì vậy, người phụ nữ không được tới đình làng. Vậy nhưng điêu khắc đình làng lại dày đặc hình ảnh người phụ nữ. Họ tự do thể hiện tình yêu với chồng, với con, với bạn bè; tự do vui đùa, ca hát… Có thể nói, không ở một công trình kiến trúc dân gian nào khát vọng yêu đương lại được bộc lộ mạnh mẽ như ở đình làng Việt.

hinh tuong con nguoi trong dieu khac (3)
Điêu khắc gỗ tại đình Phù Lưu – Bắc Ninh
Bên cạnh chủ đề ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ, một phần nội dung nghệ thuật đã trở thành tiếng nói tố cáo chế độ phong kiến đương thời. Đó là cảnh những tên quan bụng phệ ngồi trên sập có thê thiếp hầu quạt. Cảnh phạt vạ của làng với một cô gái đang bụng mang dạ chửa (đình Phù Lão). Đây chính là những lời tố cáo đanh thép.
Tóm lại, dù phản ánh hiện thực cuộc sống hay phản ánh ước mơ, khát vọng của người nông dân đương thời thì những tác phẩm điêu khắc trang trí đó vẫn mang đậm tính dân gian, dân dã. Người thợ chạm khắc gỗ thế kỷ XVII đã tự vượt ra khỏi khuôn khổ gò bó để tạo nên những tác phẩm sinh động, cởi mở. Chỉ với vài nét đục, vài đường chạm sơ phác nhưng những tác phẩm điêu khắc đó đã trở nên có hồn, vô cùng sống động. Hơn thế nữa các đề tài thể hiện lại vô cùng phong phú, cho thấy đời sống và sinh hoạt của người dân rõ ràng đã có ảnh hưởng đến nghệ thuật trang trí kiến trúc và ngược lại, kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc lại là tấm gương phản ánh cuộc sống của người xưa.
Ghi chú:
1. Thực tế sang thế kỷ 18 ta vẫn gặp một số đình làng mô tả hình tượng con người trên điêu khắc kiến trúc (đình Hồi Quan – Bắc Ninh, đình Hoành Sơn – Nghệ An…).

hinh tuong con nguoi trong dieu khac (6)

hinh tuong con nguoi trong dieu khac (4)
Theo kientrucvietnam

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét