Translate

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2020

VĂN THÙ CHIÊM BỐC PHÁP - P 3

...29. Quẻ 29: Na-Na (5-5)
Biểu tượng: Kim Ốc (Tòa lâu đài bằng vàng)
Kim ốc xuất hiện ư quái tượng ,
Phàm sự quảng đại thả cát tường.
Chiêm giả sở vấn giai ổn cố,
Hạnh vận tiền trình vô hạn lượng.
Tạm dịch:
Tòa lâu đài bằng vàng xuất hiện,
Tất cả mọi sự đều rất tốt đẹp.
Những điều xin hỏi đều bền chắc và ổn định,
Tương lai vận may không hạn định.
Tín Hiệu: Hoàng kim địa thượng, kiến thất bảo lâu.
(Trên mặt đất bằng vàng, xây lầu bảy báu.)
Đa-Văn Thiên Vương nói rằng: “Trên mặt đất bằng vàng xây lầu bảy báu, làm cho nhười ta phải kinh ngạc và vui vẻ.” Lấy vàng thay đất thì nền móng rất chắc chắn, vì vậy quẻ nầy chủ về ổn định và rộng lớn. Người xin được quẻ nầy, những điều đã cầu đảo chắc chắn sẽ tốt đẹp trong tương lai. Tuy nhiên lấy vàng thay đất, xây lầu bảy báu thực ra là diển tả cảnh giới Tịnh Độ. Nhà Phật nói về Tịnh Độ không phải chỉ vàng ròng sáng chói, mà chỉ để so sánh với thế giới ngũ trược ác thế nầy: đất nầy dơ bẩn (do Tâm chúng sanh nhơ bẩn), đất Phật thanh tịnh (do Tâm Phật thanh tịnh). Vì thế mà nói có vô lượng của báu trang nghiêm. Nếu Tâm chúng sanh thanh tịnh thì Tâm tức là Tịnh Độ. Do đó người xin quẻ phải hiểu ý trên. Tâm không còn nhiễm độc, biết được sự tiến thối, lại có thể biết được công đức của Niết Bàn, ắt là tự phát sinh điều tốt lành.
GIẢI ĐOÁN:
1. Gia Trạch: Thời vận gia trạch đang lên, tương lai rạng rỡ, tăng thêm người, có thai sẽ sanh con gái.
2. Tài Phú: Hiện tại rất tốt, tài nguyên không dứt, có thể phát triển tốt trong tương lai, giữ cũ tạo mới đều tốt cả. Cùng người hợp tác phát triển càng nhanh.
3. Mưu vọng: Do cơ sở đã ổn định, cho nên những mưu tính đều được kết quả tốt đẹp. Tuy nhiên cũng có sự chậm trễ kéo dài đó là điều không thể tránh khỏi.
Nên cúng tế Thổ Thần và Tài Thần chắc chắn sẽ được mãn nguyện.
4. Nhân Sự: Sự quan hệ với người phát triển nhanh chóng, các nguồn giúp đỡ các nơi đều đưa đến. Đây là một biểu tượng thật vui mừng. Đặc biệt là chủ về sự giúp đỡ của đàn bà.
5. Cừu Oán: Chung quanh không có cừu oán và nhòm ngó, cứ yên tâm không có thị phi hay kiện tụng. Chỉ có một chút hiểu lầm, chỉ cần một lời để thông cảm là xong.
6. Hành Nhân: Khách đã bị chậm lại vì lạc đường, trên đường đi bình an vui vẻ, không cần lo lắng. Khách sẽ đến ngay. Đi ra khỏi cửa là đã bình an, nhưng có một chút không vừa ý như việc lạc đường. Mục đích sẽ đạt được. Tin tức tốt sẽ đến.
7. Tật Bịnh: Tuy bị trọng bịnh nhưng không nguy hại đến tính mạng. Giải phẫu kết quả sẽ tốt. Không nên thay đổi bác sĩ.
8. Ma Sùng: Không có ma sùng, cũng chẳng có đồng cốt, mà chỉ cần nghỉ ngơi một thời gian rồi làm việc lại. Sau thời gian nghỉ ngơi sẽ khỏe khoắn. Phong thủy tương đối tốt, chỉ có một chút là âm thịnh dương suy (Xem phần Kỳ Tha để chuyển hóa)
9. Thất Vật: Đồ bị mất đang còn để tại chỗ chưa di chuyển, nếu quá lâu không tìm lại thì vật mất sẽ lọt vào tay kẻ khác.
10. Thỉnh Thác: Phàm có tham khảo, nhờ cậy nên làm ngay, nếu không thì công việc sẽ kéo dài chậm chạp. Nên nhờ cậy người đàn bà.
11. Hôn nhân: Người chưa lập gia đình thì có quá nhiều đối tượng, vì thế khó lòng chọn lựa hay quyết định. Việc tình duyên cần nên lựa chọn người có đức độ hơn là sắc đẹp. Còn người đã có gia đình rồi chớ nên thay lòng sanh thêm tà ý nếu không thì ba năm sau sẽ nhận sự đau khổ.
12. Kỳ Tha: Công việc ổn định. Quẻ nầy rất tốt. Nếu hỏi về những việc có tính biến động như các loại đi đây đó, thay đổi nghề nghiệp, chức vụ… chắc chắn sẽ bị trở ngại và chậm trễ. Quẻ nầy chỉ lợi cho việc xây dựng không lợi về việc phá hoại. Tín đồ Mật Tông nên cầu Tài Thần Phật Mẫu, và nên chôn dấu một Bảo Bình ở hướng đông của nhà ở thì sẽ được lợi ích. Tín đồ Phật Giáo nên hướng về ngài Địa Tạng Bồ Tát mà cầu nguyện.
Tóm tắt ý nghĩa: “Để vật báu nầy chồng lên vật báu kia.” Thật là một quẻ tốt và phát triển ổn định. Quẻ nầy nghiên Tịnh không nên Động.


30. Quẻ 30: Na-Dhi (5-6)
Biểu tượng: Bảo Tạng (Kho Báu)
Tây môn thủ hộ cáo hỷ tấn ,
Bảo tang dĩ khai quân hoạch thủ.
Tùng thử vận trình tắc hanh thông,
Phóng tâm tiền hành định như ý.
Tạm dịch:
Người giữ cửa Tây báo tin vui,
Kho báu đã mở cửa mà bạn đang nắm giữ.
Nhờ đây mà thời vận được hanh thông,
Cứ yên tâm tiến hành công việc, sẽ được như ý.
Tín Hiệu: Do nhũ đắc lạc, tự hải thái châu.
(Do sữa mà có bơ, nhờ biển mà lượm được ngọc.)
Vị giữ cửa Tây của Mạn Đà La nói: “Cửa Đông của kho báu đã mở ra.” Ý câu nầy muốn nói nhờ sửa bò mà làm được bơ như trong đại dương mà tìm được ngọc quí. Theo Mật Tông Tây Tạng, Bảo Tàng còn có nghĩa riêng là “Tạng báu của Pháp”. Tạng nầy có nhiều Pháp như đá núi động rừng (Sơn nham lâm động), chờ sẳn người có duyên cầu học, nghiên cứu. Đó là “Nham truyền”. Nếu có một số đại đức đối với Mật Pháp đã đặc biệt thành tựu, do tâm ý mà Mật Pháp được nói ra ắt được gọi là “Ý truyền.” Do đó mà mở kho báulàm cho Tài và Pháp, hai loại nầy có ý vị. Người xin được quẻ nầy nên  bố thí, tốt nhất là Tài thí và Pháp thí. Thường bố thí tất gặp nhiều may mắn.
GIẢI ĐOÁN:
1. Gia Trạch: Gia trạch ổn định và bình an, tương lai tốt đẹp. Gia đình tăng thêm người. Trong nhà nếu có người có thai thì sẽ sanh con trai.
2. Tài Phú: Hiện tại nghiệp vụ phát triển thuận lợi. Thuận buồm xuôi gió, không có chuyện bất lợi. Mở thêm nghiệp vụ mới ắt gặp trở ngại. Nhưng trước sau đều khắc phục được, sau tiến trình nầy thì được nhiều may mắn vô kể.
3. Mưu vọng: Căn bản được ổn định, mưu vọng tự nhiên thành. Trong vòng một năm so với nhiều người đã có ý kiến khác, nên kiên nhẫn để giải thích cho họ, tức sẽ có nhiều người sẽ giúp đỡ.
4. Nhân Sự: Quan hệ nhân sự tốt, nhưng cần phải gia tăng thêm sự giải thích để thông cảm. Một khi đã giải thích thì mình nói đều gì người ta cũng nghe theo.
5. Cừu Oán: Hiện chưa có oán thù, nhưng về sau sẽ có người đố kỵ. Nên đề phòng sự ám hại. Chuyện thị phi tạm thời không có, tuy nhiên sự kiện thưa bất lợi.
6. Hành Nhân: Đi du lịch thuận lợi vui vẻ. Người khách sẽ đến, tuy trên đường đi có gặp trở ngại nhỏ, nhưng chưa đủ để gây ra tai họa. Tin tức sẽ đến, không cần nôn nóng.
7. Tật Bịnh: Mọi tật bệnh đều được phục hồi mau chóng. Có thể nghe theo lời bác sĩ mà giải phẫu.
8. Ma Sùng: Không có ma sùng quấy nhiễu. Nhưng nên cúng Địa Thần.
Phong thủy không tệ lắm, nhưng nên treo chú luân thì tốt hơn.
9. Thất Vật: Nên tìm đồ vật mất ở gần chỗ đã mất thì có thể tìm lại được.
10. Thỉnh Thác: Lâu dài mà nói, nhờ cậy có thể thành công. Nếu có mục đích muốn kết bạn với những người hiểu biết có sức lực giúp đỡ, nên mất một thời gian giao tế. Chớ không thể nhờ cậy ngay liền được.
11. Hôn nhân: Ra công tìm kiếm thì sẽ có duyên đẹp. Đối với người phối ngẫu nên tha thứ cho nhau. Có người thứ ba nên cần phải dành thời gian mà nói chuyện để hóa giải.
12. Kỳ Tha: Tất cả mọi chuyện đã hỏi đều dể thành công. Nếu hỏi về tài phú tất hướng về tài thần mà cầu đảo. Những sự liên hệ đến đất (đại địa) thì tương lai rất rực rỡ. Tín đồ Mật Tông có thể hướng về Hoàng Tài Thần, Đa Văn Thiên Vương mà kỳ đảo, ngoài ra cũng nên tu pháp Địa Thần cúng dường. Tín đồ Phật Giáo nên hướng về ngài Địa Tạng Bồ Tát mà cầu nguyện.
Tóm tắt ý nghĩa: “Đất bằng dựng lên lầu cao.” Đây là do nền móng vững chắc biểu thị sự thuận lợi và phát triển. Vì vậy mà người xin được quẻ nầy trước hết phải lo kiểm tra lại phần cơ sở có vững chắc không, sau đó mới tính chuyện phát triển .


31. Quẻ 31: Dhi Ah (6-1)
Biểu tượng: Diệu Cát Tường (Ngài Văn Thù)
Diệu Cát Tường Đồng Tử gia tỷ ,
Như châu bảo đắc nhập thử trung.
Chiêm vấn giả ký đắc thử tượng,
Tự nhiên sự sự tận hưng long.
Tạm dịch:
Diệu Cát Tường Đồng Tử đả che chở cho bạn,
Như viên ngọc quí lọt vào tay.
Người xin được quẻ nầy,
Mọi sự tự nhiên được hưng thịnh.
Tín Hiệu: Bổn giác trí khai, giác tánh tự lai.
(Bổn tánh đã giác ngộ, trí huệ đã khai mở thì giác tánh tự đến)
Đại Lạc Thần Kỳ của Tâm đã nói: “Một khi mà Trí Bổn giác thanh tịnh mở ra tức tự có thể thành tựu. Nhà Phật đã nói về Tánh Giác còn gọi là Tánh Không đó là sự chứng ngộ rất cần thiết cho người tu. Chứng ngộ được cảnh giới nầy cũng giống như cá gặp nước, lạnh nóng tự tri, không thể nói được vì cảnh giới nầy vượt ngoài ngôn ngữ. Đã ngộ nhập được Tánh Không tức đắc được Bổn Giác Trí. Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (Diệu Cát Tường Đồng Tử) được gọi là Đại Trí. Trí huệ đó cũng là trí Bát Nhã còn gọi là Tánh Không. Vì vậy mà Ngài cầm pháp khí gồm cây kiếm lửa trí huệ và một quyển Kinh Bát Nhã trên hoa sen để làm biểu tượng. Người xin được quẻ nầy cũng như được Ngài Diệu Cát Tường Đồng Tử hiện thân thuyết pháp cho, khi đã được đại trí rồi thì tự nhiên thành tựu. Tuy nhiên quẻ nầy cũng không lấy trí huệ của thế gian làm chủ, nên người xin được quẻ nầy cũng không nên đắm đuối quá đáng trong thế gian pháp vậy.
GIẢI ĐOÁN:
1. Gia Trạch: Thời vận gia trạch tốt, yên bình và không chướng ngại. Trong nhà tăng thêm người. Có thai sẽ sanh con trai.
2. Tài Phú: Tài sản tăng thêm hoàn toàn như ý, cầu tài thuận lợi, không có chướng ngại.
3. Mưu vọng: Mọi sự mong cầu, tính toán đều không có gì trở ngại, vì là một người có sức mạnh nên không bị bắt nạt, lừa bịp; do đó cũng không nên tự tâm phát lòng nghi ngờ. Nếu chuyên cần tu Mật Pháp, tức tất cả mọi việc sẽ dễ dàng thành công.
4. Nhân Sự: Quan hệ về nhân sự không ngừng gia tăng.
5. Cừu Oán: Những người cừu oán bạn sẽ quay lại tôn kính bạn, không cần phải lý lẻ cãi cọ, chuyện thị phi sẽ tự nhiên chấm dứt. Kiện tụng có thể được giải hòa.
6. Hành Nhân: Trên đường đi bình yên và lại an nhàn thoải mái. Khách đến đúng hẹn. Chẳng bao lâu tin tức sẽ đến.
7. Tật Bịnh: Bịnh nhân nên nghỉ ngơi để mau hồi phục. Không cần giải phẫu.
8. Ma Sùng: Không cần lo lắng. Không có ma sùng quấy nhiễu. Tương lai cũng không có ma sùng sanh sự cho nên không có sự xâm hại nào.
Phong thủy tốt, có một chút việc cần sửa đổi lại là thỏa mãn.
9. Thất Vật: Đồ vật mất dễ tìm lại, tự nó sẽ trở lại không cần lo buồn.
10. Thỉnh Thác: Phàm có nhờ cậy đều được như ý.
11. Hôn nhân: Trời ban cho nhân duyên nên không có chuyện bất lợi. Người yêu tình cảm rất tốt. Không có người thứ ba phá rối.
12. Kỳ Tha: Tất cả mục đích đều được thành tựu.
Tín đồ Mật Tông nên tu pháp Liên Hoa Sanh Đại Sĩ và pháp Ngài Văn Thù.
Tín đồ Phật Giáo nên hướng về Văn Thù mà cầu nguyện.
Tóm tắt ý nghĩa: “Vị đã thống trị 36 thành” Vì vậy mà cả thế gian và xuất thế gian, trí tuệ đều được như nguyện.


32. Quẻ 32: Dhi Ra (6-2)
Biểu tượng: Như Ý Kết (Nút Như Ý)
Vô tận Như Ý kết,
Chiêm giả tâm an lạc.
Như nhơn chí hoa phố,
Mãn nhãn xuân quang tại.
Tạm dịch:
Gút Như Ý vô tận,
Người xin quẻ tâm an lạc.
Như người đến vườn hoa,
Ánh sáng mùa xuân hoa ngợp mắt.
Tín Hiệu: Mãn nhãn phong quang, thỉnh quân nhập mục.
(Quang cảnh ngợp mắt, mời bạn nhìn xem)
Nút Như Ý còn gọi là Gút Vô Tận vì tượng trưng cho sự tốt lành nên cũng gọi là cát tường vô tận. Cũng giống như dưới ánh sáng xuân ngợp mắt, nhìn xem không cùng, mênh mông bát ngát. Người xin được quẻ nầy có thể nói là sự mong ước thành tựu một cách lộng lẩy mê hồn. Vì thế mà quẻ nầy lợi về sự hoàn thành tất cả mọi kỳ vọng cũng như ý muốn nói về con đường phía trước đầy tươi sáng. Những việc mong muốn đều lấy những việc trước mắt làm cơ sở, không thể nào không làm mà thành tựu được. Lại còn gọi là Cát Tường Vô Tận là chỉ về sự tốt lành mà nói. Nếu làm việc không tốt thì người xin quẻ phải chịu sự bất tường. Ở Tây Tạng xin quẻ để chế thuốc độc, dùng để sát trùng hoặc trị bệnh hoặc đi săn, đều không lấy quẻ nầy là quẻ tốt. Do vậy cứ theo phương pháp loại suy mà luận ra ý quẻ nầy.
GIẢI ĐOÁN:
1. Gia Trạch: Nhìn bên ngoài có vẽ bực bội, nhưng thực tế thì ồn ào nhộn nhịp. Nhân khẩu cứ tiếp tục tăng thêm, gia đạo cũng theo đó mà được đầy đủ. Có thai sanh được con trai.
2. Tài Phú: Tuy không thấy được sự đại phát, nhưng thấy được sự tiến bộ dần dần. Không cần tính toán kế hoạch mới, sự nghiệp củ cũng đã tốt lành rồi.
3. Mưu vọng: Do mục đích đúng đắn nên không có sự bất lợi. Nếu cầu sự việc được hài hòa và cát tường , tất được mãn nguyện. Nếu không thì khó tránh được sự chậm trể và chướng ngại sẽ phát sanh.
4. Nhân Sự: Sự quan hệ giao tế được tốt đẹp mỹ mãn. Một lần nói chuyện lâu dài với người ta , có thể mang lại nhiều kết quả lợi ích. Tất cả mọi người xem bạn như là hạt nhân của phạm vi phát triển công việc, do đó sự giao tế, quan hệ nhân sự đã tăng trưởng.
5. Cừu Oán: Không có cừu oán. Cuộc sống yên ổn như mặt hồ thu. Có những chuyện thị phi nhỏ nhặt không cần quan tâm. Không có chuyện kiện tụng.
6. Hành Nhân: Trên đường đi chơi an nhàn thoải mái, cũng có dừng chân một chút. Tin lành sẽ đến.
7. Tật Bịnh: Sẽ mau mạnh không cần lo lắng. Hãy nghe theo lời chỉ dẩn của bác sĩ là tốt nhất.
8. Ma Sùng: Tâm của bạn thanh tịnh, ma sùng tự nhiên sẽ không sanh. Nhưng nếu bạn có ác tâm, tức ma sùng sẽ khởi dậy. Phong thủy bình thường, nhưng có sức mạnh lâu dài.
9. Thất Vật: Phải đi tìm đồ vật bị mất ngay lập tức.
10. Thỉnh Thác: Nếu có nhờ cậy ai giúp đỡ đều được thuận lợi. Nếu còn nuôi ác ý trong việc nhờ cậy đối với người tuy là có thuận lợi nhưng rối cũng đưa đến tai họa.
11. Hôn nhân: Lương duyên đẹp đôi tự nhiên thành tựu. Tình cảm của người yêu càng lâu càng bền vững. Không nên nghi ngờ thần, quỷ, không có người thứ ba quấy phá.
12. Kỳ Tha: Nói chung quẻ nầy chỉ lợi cho việc làm thiện chứ không có lợi cho việc làm xấu, ác như sát sanh để cúng tế… Những việc làm tốt mới có thể duy trì được sự nghiệp liên tục. Tín đồ Mật Tông nên tu pháp Liên Hoa Sanh Đại sĩ hay Kim Cang Tát Đỏa. Tín đồ Phật Giáo nên hướng về Văn Thù hay Quan Thế Âm Bồ Tát mà cầu nguyện.
Tóm tắt ý nghĩa: “Nguyện vọng sung mãn trong tình hữu nghị.” Do đó phải nên hiểu quẻ nầy chỉ lợi cho hòa hợp không có lợi cho giải tán. Lợi cho việc thiện, không lợi cho việc ác.


33. Quẻ 33: Dhi Pa (6-3)Biểu tượng: Mẫu Kim Ngư (Cá Mẹ Vàng)
Mẫu Kim Ngư chiêm đắc tại thủy,
Bát thích thích sung mãn sanh khí.
Đới lai hảo vận thủy sanh cơ,
Chiêm giả phùng chi thật cát lợi.
Tạm dịch:
Nhìn được cá mẹ vàng dưới nước,
Làm cho nước bắn tung tóe ra đầy sức sống.
Đem lại vận tốt và nhựa sống,
Người xin đưọc quẻ nầy tật là tốt đẹp và lợi lạc.
Tín Hiệu: Cam lồ mộc dục, phước huệ câu tăng.
(Tắm nước Cam Lồ, phước huệ đều tăng.)
Cõi Tịnh Độ của Phật gồm có ao bảy báu, nước tám công đức, thực ra dó là nước Cam Lồ. Thường tắm nước ấy tự nhiên sanh ra mọi sự tốt lành, phước đức trí huệ đồng thời tăng trưởng. Vì vậy nguời xin được quẻ nầy, sức sống dạt dào như cá vàng lướt sóng ra biển để sanh cá con đông đúc. Thật là vận may đến nên với hai bàn tay trắng đã làm nên đại nghiệp. Gặt hái được điều nầy là đã có nhân trước về phước huệ tăng trưởng rồi. Phước, huệ hai thứ nầy: Phước là phước báo của thế gian. Huệ là trí tuệ xuất thế gian. Cả hai thứ đồng thời tăng trưởng, chắc chắn sự nghiệp phải thành công. Cho nên người xin quẻ hãy dựa vào Phật Pháp mà tu trì để chứng ngộ được Tánh Không, nhờ đó mà được pháp Cam Lồ Vị.
GIẢI ĐOÁN:
1. Gia Trạch: Trong nhà xương thạnh, của cải và nhân khẩu một đường đi lên. Người có thai lại chủ về sanh con gái.
2. Tài Phú: Của cải tăng gia thuận lợi, không có trở ngại. Cá vàng ra biển, theo điềm nầy mà tạo ra tình thế mới; của cải tự nhiên theo đó mà đến.
3. Mưu vọng: Mưu vọng thành công. Thật là điều vui mừng hết sức.
4. Nhân Sự: Giao tế nhân sự tăng lên dần dần, sự quan hệ với người ta càng ngày càng rộng lớn. Phái nữ sẽ mang đến sự giúp đở to lớn nhất.
5. Cừu Oán: Kẻ thù oán không có cơ hội để hại bạn được. Chuyện thị phi dù có cũng chẳng hại gì.
6. Hành Nhân: Trên đường đi rất vui vẻ, không có trở ngại. Khách sẽ đến ngay. Tin tốt đến chậm.
7. Tật Bịnh: Bịnh nhân được cho biết là sẽ hồi phục.
8. Ma Sùng: Ma do Tâm mình sanh. Tinh thần cởi mở Tâm Ma tư nó biến mất. Tụng Kinh nhiều, chuyên cần tu Mật Pháp thì không những không có Ma mà còn có thể giúp cho mọi điều cầu mong đều được thành đạt. Phong thủy tốt, làm thêm sẽ sinh ra tai họa. Chỉ nên treo Chú Luân ở những nơi tối tăm âm u.
9. Thất Vật: Vật bị mất đang ở nguyên chỗ cũ, rất dễ tìm, không cần sốt ruột.
10. Thỉnh Thác: Thời cơ đã đến, nếu nhờ cậy thì sẽ có kết quả, nhờ một giúp mười, hết sức vui vẻ.
11. Hôn nhân: Lương duyên sẽ mau thành tựu. Người phối ngẫu hòa nhã và đẹp.
12. Kỳ Tha: Những điều đã hỏi đều được thuận lợi hài hòa, đạt được thành công. Tốt nhất là việc hỏi thăm về y dược.
Tín đồ Phật Giáo Mật Tông nên Đốt Lửa Cúng, tu pháp Di Lạc Bồ Tát, tự nhiện mọi sự cát tường đều tăng trưởng. Tín đồ Phật Giáo nên hướng về ngài Di Lạc Bồ Tát mà sám hối kỳ nguyện.
  Tóm tắt ý nghĩa: “Có động cơ và tâm nguyện đều được thành tựu.” Vì thế mà quẻ nầy chủ về tương lai tươi sáng, do sự phát triển nhỏ từ từ thuận lợi cát tường, cuối cùng đều được mãn nguyện và thành tựu vượt quá mức mong muốn.


34. Quẻ 34: Dhi Tsa (6-4)
Biểu tượng: Bạch Pháp Loa (Tù Và Trắng)
Bạch pháp loa thanh vận du trường,
Bạch pháp loa thanh âm hưởng lượng.
Chiêm giả hỷ đắc thử quái pháp,
Định nhiên như ý thả cát tường.
Tạm dịch:
Thanh vận của tù và trắng vang rất xa,
Âm thanh của tù và trắng rất trong.
Người xin rất vui được quẻ pháp nầy.
Mọi ý định tự nhiên được tốt đẹp.
Tín Hiệu: Vinh dự như mỹ diệu nhạc âm.
(Vinh dự như âm thanh của nhạc điệu tuyệt vời)
Tù và ( pháp loa) là một loại pháp khí của Mật Tông. Ở miếu của các vị Lạt Ma sớm tối đều thổi tù và. Quan trọng nhất là lúc cử hành nghi lễ cũng có thổi tù và, vì tù và được thổi lên một tiếng là có nghi thuyết pháp của một vị Đại Đức hoặc vị đó đang tu trì Mật Pháp. Trong Mật Đàn Bát Cúng, một trong tám thứ cúng dường là Pháp loa đại biểu cho nhạc khí. Nhìn một cách đúng đắn về pháp loa so với các loại khác như linh, trống thì quan trọng hơn. Pháp nhạc của Mật Tông đều có tác dụng làm trang nghiêm cho nghi thức. Pháp loa là một loại pháp khí trang nghiêm nhất trong các loại. Vì vậy quẻ nầy lấy âm thanh của pháp loa làm biểu tượng vinh dự của người xin quẻ được tăng trưởng. Trong ngôn ngữ và hành động đều lấy vinh dự làm đầu. Có như vậy thì tự hái được sự tốt lành.
GIẢI ĐOÁN:
1. Gia Trạch: Hiện tượng không xấu, ảnh hưởng dược tốt và đem lại sự vui vẻ. Nhân khẩu tăng thêm, gia đạo tốt. Có thai sinh con trai, mang lại cho gia tộc thanh danh và vinh dự.
2. Tài Phú: Có cơ duyên đến, những tính toán về kinh doanh được đạt lợi. Có một số tin tức chính xác sẽ đến có lợi về tài nguyên. Không nên đầu cơ là điều tốt nhất.
3. Mưu vọng: Mưu vọng có thể như nguyện, sẽ có tin tức tốt. Những công việc đã tính toán cùng với giọng nói và âm nhạc đều có quan hệ với nhau, đặc biệt rất tốt , cũng có lợi về biện luận nữa.
4. Nhân Sự: Sự quan hệ nhân sự đúng, cũng nên giải thích rỏ ràng với tất cả tấm lòng cởi mở của mình với mọi người để thuyết phục được đối phương.
Bạn chỉ cần nói rõ lý do về những đề nghị của bạn tức thì được mọi phía ủng hộ.
5. Cừu Oán: Không có kẽ thù muốn hại. Những thù oán cũ đã tiêu tan hết rồi. Tất cả chủ trương sẽ phụ giúp bạn. Chỉ cần bạn thốt một lời là tất cả chuyện thị phi đều tan biến. Kiện tụng được thắng.
6. Hành Nhân: Trên đường đi có kết giao được người bạn tốt. Khách sẽ mang tin vui đến, thông tin sẽ đến ngay, tin tức đều vui.
7. Tật Bịnh: Đối với thân thể chẳng có sự tổn hại nào lớn cả, tuy nhiên tinh thần chịu đựng mọi điều khó khăn. Nên tụng kinh và tu các Pháp để ôn định tinh thần. Trì tụng chú Đại Bi cũng được. Nếu xả bỏ hết tất cả những chuyện khúc mắc trong lòng, vạn sự nhứt định sẽ cát tường.
8. Ma Sùng: Không có ma sùng, quỷ thần, hay đồng cốt xen vào quấy phá. Phong thủy tốt nhưng màu sắc không được ổn.
9. Thất Vật: Sẽ có tin tức xác thực đến, không cần phải lo lắng hay nôn nóng.
10. Thỉnh Thác: Phàm có nhờ cậy chỉ nên cùng đối phương mà trình bày lợi hại, tức có thể được đối phương giúp đở. Đạo lý cùng tranh luận càng sáng tỏ. Sự nhờ cậy được đáp lại.
11. Hôn nhân: Bạn là người có sức hấp dẫn nên hãy tự tin. Người yêu rất thích thú vì cùng một ý chí và cùng một đường đi. Nếu có người thứ ba xen vào tình yêu thì cũng nên thuyết phục khiến họ tự tách ra.
12. Kỳ Tha: Những điều đã hỏi đều được như ý
Tín đồ Phật Giáo Mật Tông nên tụng: “Tứ Tý Đại Hắc Thiên Pháp”. Tín đồ Phật giáo có thể hướng về Phổ Hiền Bồ Tát mà cầu nguyện.
Tóm tắt ý nghĩa: “Tin vui càng đến càng nhiều, thanh danh càng đến càng tốt” Vì thế quẻ nầy nghiêng về danh và lợi. Nhưng cầu danh thì tốt hơn cầu lợi, tuy nhiên cầu lợi cũng không tệ lắm. Nhưng trên thực tế thì “Tiên danh hậu lợi” tức là trước có danh sau mới đạt lợi.


35. Quẻ 35: Dhi Na (6-5)
Biểu tượng: Kim Luân Bảo (Ngôi Báu Của Ngài Kim Luân)
Kim Luân Vương thống trị bát phương,
Phổ thiên chi hạ giai vương thổ.
Trị hạ bách tánh tâm thành phục.
Chiêm giả đắc thử tài thế tăng.
Tạm dịch:
Vua Kim Luân thống trị tám phương,
Trên trời dưới đất đều của Người.
Cai trị trăm họ đều đem lòng thành qui phục,
Người xin được quẻ nầy, tiền tài thế lực đều gia tăng.
Tín Hiệu: Bất phí xung hôi lực, khai đắc đại bảo tang.
(Không tốn một chút hơi sức mà mở được kho báu)
Thời cổ đại nước Ấn Độ có rất nhiều vương quốc nên sanh ra sự tranh giành. Các vương quốc chinh phục lẫn nhau. Người thống nhất nước Ấn Độ gọi là Kim Luân Vương (vua Kim Luân). Tuy nhiên vua Kim Luân thống trị chỉ trọng đạo đức chớ không trọng sức mạnh. Chỉ có người có đức mới có thể  khiến cho dân trăm họ vui vẽ mà thành thật khâm phục. Người xin được quẻ nầy đức cả lực đều quan trọng cả vì thế mà được lợi ích, cũng giống như không tốn một chút sức nào mà mở được kho báu đó là điềm chỉ đưa tay ra là được. Người xin quẻ phải lưu ý, nếu chỉ trọng tài thế mà không trọng đức nghiệp ắt giống như vua Kim Luân không có đức, chinh chiến không ngừng, dù cho thắng thế đi nữa thì dân chúng cũng lầm than.
GIẢI ĐOÁN:
1. Gia Trạch: Gia đạo xương long, hạnh phúc yên ổn, ngày ngày đều tốt cả. Nhân khẩu tăng tiếng tăm gia đình ngày càng lên. Có thai sức khỏe bình an, sinh nam hay nữ theo ý nguyện.
2. Tài Phú: Như nước thủy triều dâng trong mùa xuân, tài sản tự nhiên tăng lên. Trong quá khứ cơ sở đả bị xuống, nhưng nay nghiệp vụ lại dần dần tăng lên phát đạt thịnh vượng.
3. Mưu vọng: Lâu dài mà nói, sự phát triển được ổn định, cơ sở đặt xuống là tốt rồi, do đó danh lợi đều như ý. Các sự việc đã tính toán thuộc về những cái dẫn đầu trong trào lưu mới thì rất dễ thành công mà lợi ích lại lâu dài, sự nghiệp to lớn. Lấy đức để cảm hóa người hơn là lấy thế mà thu phục người.
4. Nhân Sự: Được nhiều sự giúp đỡ, quan hệ giao tế càng ngày càng tốt. Sự liên hệ với người ta càng ngày càng rộng. Đừng theo những kẻ a-dua, nịnh bợ.
5. Cừu Oán: Tất cả mọi sự thù oán đều bị bạn khống chế, vì vậy nên dùng ân huệ để cảm hóa địch thành bạn. Chuyện thị phi trở lại đem về những lợi ích. Không có chuyện kiện tụng khẩu thiệt.
6. Hành Nhân: Người ra đi không những hưởng thụ mà còn lợi lạc. Người ấy sẽ hoàn thành nhiệm vụ và trở lại. Tin mừng sẽ đến, lợi lạc sẽ vượt quá mức dự định.
7. Tật Bịnh: Vì quỷ thần không được vui nên bịnh nhân có bịnh kéo dài. Nhưng không lo ngại lắm, hơi chậm nhưng sẽ bình phục. Có thể hành pháp Thanh Tịnh Mộc Dục.
8. Ma Sùng: Con người mà thời vận đang chuyển thì trăm tà cũng không xâm nhập được. Quỷ thần đã bị ếm nên cũng khó làm hại, hãy kỳ đảo Bổn Tôn, hoặc cúng tế Thủy thần hoặc Long Tộc hay Địa thần tức tốt. Phong thủy hiện tại không có trở ngại lớn, những chổ mới sửa lại có một chút không ổn, như là có một góc đối xứng với một hình vuông chẳng hạn, nên tu sửa lại là tốt.
9. Thất Vật: Dành thời giờ thêm vào việc tìm kiếm thì có thể tìm được..
10. Thỉnh Thác: Nhờ cậy thì có sự trễ nải, nhưng tương lai rất mỹ mãn. Tất cả các vị anh hung đều luôn luôn kính cẩn lắng nghe những điều Ngài căn dặn. Đáng tiếc họ đã chủ trương bất nhất, do đó mà lại bỏ lỡ thời cơ.
11. Hôn nhân: Hôn nhân do trời tác hợp, đừng nên lo lắng, người yêu sẽ sống đến trăm năm.
12. Kỳ Tha: Lâu dài mà nói, mọi sự sẽ thành công.
Tín đồ Phật Giáo Mật Tông nên tụng Đại Oai Đức Kim Cang hay pháp Vô Năng Thắng Kim Cang, chắc rằng quyền lực tự nhiên tăng trưởng. Tu pháp Trí Huệ Đại Hắc Thiên ắt có lợi lạc và danh vọng đều tăng thêm. Tín đồ Phật giáo có thể hướng về Tỳ Lô Giá Na Phật mà cầu nguyện.
Tóm tắt ý nghĩa: “Bước lên bản tòa” Vì quẻ nầy chủ về tài phú và quyền thế tăng trưởng nên người xin quẻ phải làm việc ân đức tự nhiên sẽ được cát tường như ý.


36. Quẻ 36: Dhi Dhi (6-6)
Biểu tượng: Thắng Lợi Tràng (Cờ Thắng Lợi)
Cao cử thắng lợi tràng,
Thắng lợi thập bát phương.
Chiêm giả đắc thử tượng,
Khả dị quái trung vương.
Tạm dịch:
Hảy phất ngọn cờ thắng lợi,
Chiến thắng cả tám phương.
Người xin quẻ được biểu tượng nầy,
Có thể gọi là quẻ vua trong các quẻ.
Tín Hiệu: Y thiếp cụ lực Như Ý Vương.
(Hãy dựa vào sức mạnh của vua Như Ý)
Đây là một tín hiệu tốt đẹp, gọi người xin được quẻ là người đả được sự che chở của Vua Như Ý bằng mọi sức mạnh. Phàm được dựa vào vị vua nầy, mọi sự đều như ý. Vua lại có nhiều sức mạnh nên đủ để ngăn chận tất cả những điều bất lợi xâm đến. Vì thế người xin được quẻ nầy có thể gọi là vận may, chủ về người có sức mạnh đem hết lực đó để ủng hộ. Kết cục mọi sự mong cầu tính toán đều đựợc thành công như ý. Trong lúc phất ngọn cờ chiến thắng lại không được say sưa mãn nguyện, mà nên hiểu rằng đây là phước báo ở đời trước, cho nên trong đời nay cần phải làm thêm việc thiện, tích tụ thêm phước đức và công đức để làm tư lương cho đời nầy và đời sau để cho các pháp thế gian và xuất thế gian đều được mãn nguyện. Dhi là tự chủng của ngài Diệu Cát Tường Đồng Tử, liền được hai thứ biểu tượng cho phước huệ đều tăng.
GIẢI ĐOÁN:
1. Gia Trạch: Vận trình của gia trạch kiên cố, rắn chắc như kim cương, không có tai họa, bịnh hoạn cũng không có thị phi khẩu thiệt. Nhơn khẩu tăng dần, vận nhà thịnh vượng. Có thai sức khỏe bình an, sinh nam hay nữ theo ý nguyện.
2. Tài Phú: Tài sản không bị tiêu hao, cũng không bị thất bại. Tài đến có chỗ, không cầu nhiều tài cũng tự đến. Không được đầu cơ.
3. Mưu vọng: Mười phần mỹ mãn, chỉ tính một phần cũng được mười phần. Phàm có mong cầu tính toán đều được vui vẻ vô cùng. Nên hướng về Bồ Tát hoặc Hộ Pháp mà cầu nguyện chẳng hạn như ngài Văn Thù.
4. Nhân Sự: Quan hệ nhân sự càng phát triển càng tốt, giúp đỡ càng ngày càng nhiều. Người xin được  quẻ nầy như có được viên ngọc quí Ma Ni trong tay, cho nên không có việc gì mà không mãn nguyện. Được người giúp đỡ vui mừng quá sức.
5. Cừu Oán: Không có một ai thù oán cả, cũng chẳng có thị phi kiện tụng.
6. Hành Nhân: Ra đi trên đường thoải mái, vui vẻ. Khách sẽ đến bình an, tin vui sẽ đến.
7. Tật Bịnh: Có bịnh nhẹ, cần nghe theo lời bác sĩ là sẽ hồi phục. Nếu bịnh nặng lâu ngày, sẽ có người tự nhiên đến để giới thiệu bác sĩ giỏi.
8. Ma Sùng: Không có ma sùng xâm quấy, cũng chẳng có Thần nhiễu phá, hoàn toàn bình an vô sự. Phong thủy tốt, không nên sửa đổi cũng không nên mở rộng thêm.
9. Thất Vật: Bạn tốt đã có chủ ý, mau mau đi tìm lại. Có người có sức mạnh xuất hiện can dự vào, nên vật sẽ trở về nguyên chủ.
10. Thỉnh Thác: Phàm có nhờ cậy đều thuận lợi, tất cả mọi việc đều thành công, hướng về người có sức mà nhờ cậy, chỉ yêu cầu là được, khiến bạn phải vui và nể sợ.
11. Hôn nhân: Người chưa lập gia đình đi tìm thì chắc chắn thành công. Người có gia đình rồi, vị phối ngẫu tuy tuy thấy tướng bình thường nhưng là người chung thủy. Người thứ ba không gây ra ảnh hưởng nào cả.
12. Kỳ Tha: Nói chung những điều đã hỏi đều được thành tựu, vì thế mà người xin quẻ cứ bằng vào tâm nguyện mà làm tức là đạt được. Tuy nhiên nên tích đức hành thiện để có thể duy trì được sự đầy đủ an lành. Tín đồ Phật Giáo Mật Tông nên tu pháp Phổ Ba Kim Cang, Hỷ Kim Cang, Mật Tập Kim Cang, Kim Cang Trì…ắt được cát tường. Cũng nên trì tụng Văn Thù Chơn Thật Danh Kinh hoặc Văn Thù Căn bản Chú. Tín đồ Phật giáo có thể hướng về Ngũ Phương Phật mà cầu đảo.
Tóm tắt ý nghĩa: “Phất cao bảy ngọn cờ thắng lợi” Vì vậy người xin quẻ mọi việc đều được thắng lợi như ý.
Diệu Cát Tường Chiêm Bốc Pháp Đến Đây Là Hết.

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2020

PHÁP TU PHỤ LUC- 2

Pháp Tu Phụ Lục

7. Kim Cang Tát Đỏa

Kim Cang Tát Đỏa tượng trưng diệu ý phiền não tức Bồ Đề và sự kiên cố bất hoại của Bồ Đề Tâm. Có thần chú Bách Tự Minh có khả năng sám hối, tiêu trừ tội chướng, làm cho hành giả có 3 nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh.
Kim Cang tiếng Phạn là Vajrasattva. Vajra là kim cương. Sattva là Tát Đỏa, cũng là hữu tình chúng sanh, tức loại chúng sanh có tình thức phân biệt với loại vô tình như đất, cát, đá, cây bao đồng. Tên tiếng Tây Tạng là Rdo-rje semsdpah, nghĩa là tâm Kim Cang dũng mảnh. Kim Cang Tát Đỏa còn gọi là Kim Cang Thủ Bí Mật Chủ, Chấp Kim Cang Bí Mật Thủ, Trì Kim Cang Cụ Tuệ Giả, Kim Cang Thượng Thủ, Đại Dược Kim Cang, Nhứt Thiết Như Lai Phổ Hiền, Phổ Hiền Tát Đỏa, Phổ Hiền Kim Cang Tát Đỏa, Kim Cang Thắng Tát Đỏa, Kim Cang Tạng, Chấp Kim Cang, Bí Mật Chủ, Kim Tát, Mật Hiệu Chơn Như, Kim Cang, hoặc Đại Dũng Kim Cang đều lấy Tâm Bồ Đề thanh tịnh, kiên cố, và bất động để hàng phục tất cả loài hữu tình ngoại đạo. Vì vậy nên được gọi là đại dũng. Còn tịnh tâm Bồ Đề là căn bản y thể của hằng sa công đức nên có tên là Chân Như.
Vậy Kim Cang Tát Đỏa tượng trưng cho tâm Bồ Đề kiên cố, bất hoại và diệu lý của phiền não tức Bồ Đề. Danh xưng nầy trong Phật giáo có 4 ý nghĩa:
1. Vị Tổ thứ hai truyền pháp Mật pháp.
2. Trong Mạn Đà La Kim Cang giới, ngài là một trong 37 tôn vị ở Bộ Viện Kim Cang.
3. Trong Lý Thú hội Mạn Đà La Kim Cang giới ngài là chủ tôn của 17 tôn vị.
4. Trong Lý Thú hội Mạn Đà La Kim Cang giới ngài là chủ tôn Đại Trí Kim Cang bộ của Kim Cang bộ viện.
Ngoài 4 ý trên, căn cứ Kinh Đại Giáo Vương, quyển 8 nói rằng: Ngài Kim Cang Tát Đỏa
đả giáng xuống hội Tam Thế Yết Na, trong hình tướng của Tam Thế Minh Vương 8 tay 3 mặt,
làm giáo lịnh luân thân của A Súc Như Lai. Cho nên tôn hệ nầy đã phụng giáo sắc của Như Lai
để hàng phục số cứng đầu khó hoá độ của Đại Tự Tại Thiên Chúng, nên đã thị hiện tướng Minh Vương.
Tuy đã kể ra các loại Kim Cang Tát Đỏa như trên, nhưng trong Mật Tông thường dùng Kim Cang Tát Đỏa là Tâm Bồ Đề. Trong 4 gia hạnh của Mật Tông Tây Tạng, Chú Bách Tự Minh là phương pháp sám hối quan trọng nhất. Bách Tự Minh còn có tên là Bách Tự chơn ngôn, Bách Tự Mật Ngữ, Kim Cang Bách Tự Minh, hoặc Kim Cang Tát Đỏa Bách Tự Minh.
Bách Tự Minh là có 2 loại: Trường chú và tâm chú. Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ, nên trì 7 biến để sám hối những lỗi lầm trong ngày đã phạm. Khi kết một nghi thức hành pháp cũng thường thường tụng chú Bách Tự Minh nầy để bổ khuyết những điều thiếu sót. Những hành giả Mật Tông thường nhận lãnh Quán Đảnh nhiều tôn, do đó nếu không có pháp để hoàn tất toàn bộ pháp tu của các tôn, thì một mặt đem các tôn dồn vào Bổn tôn mà tu, mặt khác mỗi tối phải nên niệm chú Bách Tự Minh để bổ khuyết.
Ngoài ra người lớn tuổi nếu sợ chú Bách Tự Minh quá dài trong Tứ Gia Hạnh (Noãn, Đảnh, Nhẩn, Thế Đệ Nhật), mà muốn sớm đạt được viên mãn công đức của 100,000 biến, đầu tiên có thể y theo Bách Tự Minh quán tưởng và trì chữ Ah (100,000 biến). Còn người trẻ tuổi thì đừng theo phương pháp nầy mà phải theo đúng nghi quỹ để tu hành. Trì Bách Tự Minh 100,000 biến là pháp tu căn bản.
Trì tụng chơn ngôn có thể chọn Phạn hoặc Tạng văn. nếu không phát âm được Phạn văn và Tạng văn thì có thể tụng nghĩa bằng Trung (Hoa) văn (Có thể tụng bằng Việt âm). Theo sự truyền thừa của Bạch giáo ở Tây Tạng, Bạch giáo đồ đã tu trì pháp Kim Cang Tát Đỏa cộng them phần quán vào phần giữa cũa cái đầu (trung mạch) thành một tam giác cân đáy lên trên, mũi chỉ xuống miệng như một cái phễu, phân rõ thành 2 huyệt thái dương và trung tâm của hậu não, từ từ hút vào yết hầu (mũi của tam giác). Đồng thời ở giữa phần trên đỉnh đầu quán thêm một chử Ah màu trắng.
Ngoại trừ đã quán tưởng trên đỉnh đầu Kim Cang Tát Đỏa Phụ Mẫu Cam Lồ quán đảnh, chữ Ah màu trắng nầy cũng chảy xuống cam lồ trắng.
Chú Bách Tự Minh: Dịch nghĩa
Om Qui mạng
Vajra -sattva Kim Cang Tát Đỏa
Samaya Tam muội da
Manu palaya Nguyện thủ hộ ngã
Vajra Sattvenopathistha Vi Kim Cang Tát Đỏa vị
Dridhome bhava Vi Kiên Lao ngã
Sutosyomebhava Ư ngã khả hoan hỉ
Supossyamebhava Kim ngã tùy Tâm dư
Anuraktomebhava Kim ngã thiện tăng ích dã
Sarva Siddhim Meprayassca Thọ dử ngã nhất thiết tất địa
Sarva Karmesu came Cập chư sự nghiệp
Cittam Siyam Linh ngã an ổn
Kuru Tác
Hum Hồng
Ha ha haha Tứ vô lượng Tâm
Ho Hỉ lạc chi thanh
Bhagavam Thế tôn
Sarva tathagata Nhứt Thiết Như Lai
Vajra ma me munca Nguyện Kim Cang mạc xả ly ngã
Vajra bhava Linh ngã vi Kim Cang
Maha samaya sattva. Tam muội da tát Đỏa
Ah Ah
Tâm chú: Om Vajra Sattva, Ah
 . Nếu thời gian không đủ, hành giả có thể tụng tâm chú

8. Phổ Ba Kim Cang

Ngài Phổ Ba Kim Cang có đầy đủ oai lực và lòng từ bi không gì so sánh được, có khả năng đọan trừ những bức hại của quỷ thần, phi nhơn, thiên ma, ác thú (trù yểm). Đồng thời cũng có khả năng hàng ma, chấm dứt tai họa và tiêu trừ các khó khăn nguy hiểm. Phổ Ba Kim Cang , dịch âm Hán là Đa Kiệt Thuấn Nổ, ý là Kim Cang Nhụ Đồng.
Theo âm Tây Tạng, Phổ Ba là cái “Cọc gỗ”. Sở dĩ có âm nầy là vì trong tay Ngài có một pháp khí chủ yếu. Đó là một vật hình tam giác có đỉnh rất nhọn, được gọi là “Cọc Kim Cang” hay “Kim Cang Quyết”. Ngày nay còn gọi là “chày Phổ Ba”. Chữ “Phổ” là Tánh Không. Phổ Ba là sự kết hợp giữa Tánh Không và Trí huệ mà thành chớ không phải nghĩa của 2 sư tánh.
Những hành giả Tây Tạng tu theo Mật Tông ngày xưa thường chọn ngài Phổ Ba là bổn tôn. Theo sự truyền thừa ở Tây Tạng, các phái Cát Cư Ba, Ninh Mã Ba, Cách Lỗ Ba, và Tất Ca Ba cả 4 dòng phái đều có Phổ Ba Kim Cang Pháp, tuy nhiên chỉ có 2 phái Ninh Ma Ba và Tát Ca Ba đặc biệt coi trọng.
Phổ Ba Kim Cang có đầy đủ đại bi oai lực không gì sánh bằng, bên ngoài hiện tướng phẩn nộ để loại trử tât cả những biến hại của chú yểm, Thiên Ma, phi nhơn, quỷ thần…. và hàng phục được ma quân để tiêu trừ tai nạn và nguy hiểm. Ngoài ra còn có khả năng để đối trị được sự chấp trước, tham lam, phiền não của tự ngã, dứt trừ mọi chướng ngại từ trong nội tâm đến ngoại tướng.
Nhân duyên ngài Phổ Ba Kim Cang thị hiện được tương truyền như sau:
Ngày xưa trong rừng Tử Đà Lâm (Rừng bỏ thây người chết) có một Đại Quỉ Thần trú ngụ tên là Ma Đương Lỗ Trác. Quỉ thần nầy có 3 đầu, 6 tay, 4 chân, sau lưng có một đôi cánh thường đem nguy hại đến loài hữu tình trong tam giới.
Trong lúc đó ngài Kim Cang Tát Đỏa hiện thân phẩn nộ Cát Mã Hắc Lổ Ca. Để hàng phục vị Đại quỉ thần nầy, ngài hóa thân thành Phổ Ba Kim Cang, thị hiện với hình tướng và sức mạnh như là Đại quỉ thần và không có sức mạnh hay oai thần nào sánh kịp.
Một thuyết khác lại nói rằng, ở giữa biên giới Ấn Độ và Nepal có một động đá tên là Lại Thư. Ngày xưa ngài Liên Hoa Sanh và công chúa Nepal là Thích Ca Đức Hoa trong lúc tu đạo thù thắng, có 3 con quỷ đến gây chướng ngại làm gián đọan sự tu hành; đồng thời gây hạn hán cho vùng đất ấy trong 3 năm không một hạt mưa; bịnh dịch hoành hành, và bịnh đói kém kéo dài nhiều năm. Vì thế mà ngài Liên Hoa Sanh đã phái 2 sứ giả đến Ấn Độ, mang theo phép trừ gián đọan tên là Phổ Ba để truyền lại rồi trở về. Trong khi sứ giả đang hành pháp để chống lại thì 3 vị quỷ nầy đều tự động tránh xa, lập tức  trời mưa xuống và bịnh dịch cũng chấm dứt.
Lại tương truyền rằng: Ngày xưa, ngài Liên Hoa Sanh cùng đệ tử đi từ Tây Tạng vào xứ của Doa Xoa, trên đường đi ngang qua vùng tên là Khổng Than Lạp, một con đường mòn lõm xuống giữa 2 hòn núi. Ngài Liên Hoa hóa thành 2 thân người: một là Phổ Ba Kim Cang với thân thể sáng chói, còn thân kia vẩn là thân củ của ngài.
Ngài Liên Hoa Sanh hỏi các đệ tử: “Các con sẽ hướng về ai để đảnh lễ.”
Các đệ tử đều trả lời: “Trước đây chúng con mỗi ngài đều thấy Liên Sư, mà chưa thấy được bổn tôn Phổ Ba Kim Cang, đến ngày hôn nay mới được thấy ngài, cho nên chúng con cần hướng về ngài Phổ Ba Kim Cang mà 2 đảnh lễ”.
Trong số đó có một đệ tử tên là Di Hỷ Tha Gia thưa rằng: “Từ trước đến nay con kính lễ thượng sư của con, hôm nay con cũng vẫn hướng về Thượng Sư của con mà đảnh lễ.” Vì thế mọi người trừ Di Hỷ ra đều hướng về Phổ Ba Kim Cang mà đảnh lễ.
Ngay sau đó, ngài Liên Hoa Sanh niệm: “Ban Tra Mảnh” lập tức thấy Phổ Ba Kim Cang nhập vào thân của ngài Liên Hoa Sanh. Sự kiện nầy cho thấy rằng Bổn tôn chính là Thượng sư hiện ra, mà chỉ có Di Hỉ Tha Da đã đặc biệt được Phổ Ba Kim Cang gia trì. Pháp Phổ Ba Kim Cang truyền thừa cho đến ngày hôm nay là từ ngài Di Hỷ Tha Gia. Đây là một lối nhận được sự truyền thừa từ phép gia trì đặc biệt.
Phổ Ba Kim Cang thân màu đen lam, có 3 đầu mổi đầu có 3 con mắt, 6 tay, và 4 chân. Giữa một đầu màu lam, đại biểu tướng phẫn nộ của ngài Đại Thế Chí (Kim Cang Thủ), đại biểu ý của chư Phật, mặt bên phải màu trắng đại biểu phẩn nộ tướng của ngài Văn Thù Bồ Tát (Đại Oai Đức Kim Cang) đại biểu thân của chư Phật. mặt phía bên trái màu đỏ, đại biểu A Di Đà Phật (có thuyết nói là Quan Thế Âm Bồ Tát) hiện tướng phẩn nộ (Mã Đầu Minh Vương) đại biểu “Ngữ” của chư Phật. Trong miệng của mỗi đầu có 2 răng lộ ra xỉ lên trên và 2 răng xỉ xuống dưới.

9. Cát Tường Thiên

Cát Tường Thiên là một vị năng trừ tất cả phiền não của chúng sanh, tiêu diệt tất cả tội chướng, gợi lên tất cả các phước đức, xua đuổi tất cả những điều bất tường. Cát Tường Thiên có Phạn danh là Sri-Maha-Devi, là thần hộ pháp của Phật Giáo, bảo vệ tất cả chúng sanh được cát tường, an lạc. Trong kinh Đại Cát Tường Thiên Nữ Thập Nhị Danh Hiệu đã kê ra những danh hiệu của Ngài gồm có như sau: Cát Khánh, Cát Tường Liên Hoa, Nghiêm Sức, Cụ Tài, Bạch Sắc, Đại Danh Xưng, Liên Hoa Nhãn, Đại Quang Diệu, Thí Thực Giã, Thí Ẩm giả, Bảo Quang, Đại Cát Tường… Trong kinh Đại Cát Tường Thiên Nữ cũng đã đưa ra 108 danh xưng. Ngoại trừ những danh xưng nầy ra còn có Bảo Tạng Thiên Nữ hoặc Đệ Nhứt Oai Đức Thành Tựu Chúng Sự Đại Công Đức Thiên.

Hình Tượng Của Cát Tường Thiên

Các kinh sách diễn tả không giống nhau về tôn tượng của Cát Tường Thiên. Theo “Chư Thiên Truyện” quyển hạ đã tường thuật như sau:
Thân ngài đoan chánh, có 2 tay màu trắng, đỏ. Tay trái cầm ngọc Như Ý, tay phải kết ấn Thí Vô Uý. Ngài ngồi trên một bảo đài, bên trái có Phạm Thiên tay cầm bảo kính, bên phải có Đế Thích rải hoa cúng dường. Sau lưng Ngài có 7 ngọn núi báu, trên đầu Ngài có 1 vừng mây ngũ sắc, trên vừng mây có 6 thớt voi ngà trắng, vòi voi nâng bình mã não, tự trong bình tuông ra đủ các loại đồ vật, tưới công đức xuống đầu Ngài. Sau lưng Thiên Thần có trăm rừng hoa báu, trên đầu Ngài có thiên diệp bảo cái, trên những lọng của chư Thiên có kỹ nhạc, rải hoa cúng dường.
Lợi Ích
Kinh Đại Cát Tường Thiên Nữ Thập Nhị Danh Hiệu dạy rằng: Nếu có chư tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc hay ưu bà di…cho đến tất cả những loại hữu tình thường niệm 12 danh hiệu Ngài, hoặc thọ trì đọc tụng, tu tập cúng dường, vì kẽ khác mà tuyên thuyết, làm được như vậy thì các nghiệp chướng bần hàn, nghèo khổ đều được tiêu trừ và sẽ được giàu sang phú quí. Lại nói, Đà La Ni nầy và 12 danh hiệu năng trừ bần cùng và tất cả những điều bất tường, làm cho tất cả những nguyện cầu đều được viên mãn, hoặc thường xuyên thọ, trì, đọc, tụng, phát tâm tinh tấn không gián đọan, tùy sức thành tâm cúng dường Đại Cát Tường Thiên Nữ Bồ Tát, đều được tất cả tài bảo mong cầu và cát tường an lạc.
Trong kinh Đại Cát Tường Thiên Nữ còn nói, trì Đại Kiết Tường chơn ngôn và 108 danh hiệu, năng trừ tất cả phiền não, tội chướng, mang lại những công đức, khử trừ tất cả những điều không lành.
Thần chú: Kiết Tường Chơn Ngôn
Nam mô tam mãn đa, mẫu đà nẫm
A bát ra để, ta nẳng nẫm
Đát điệt tha
Án. Khê hế, khê hế
Hồng, Hồng
Nhập phạ ra, nhập phạ ra
Bát ra nhập phạ ra
Bát ra nhập phạ ra
Để sắc sá, để sắc sá
Sắc trí rị, sắc trí rị
Ta phấn tra, ta phấn tra
Phiến để ca, thất rị duệ
Ta phạ ha

10. Hoàng Tài Thần

Hoàng Tài Thần là một trong năm họ tài thần chủ về tài phú, có khả năng giúp cho chúng sanh thoát khỏi cảnh nghèo khổ, thiếu thốn và được tài nguyên thăng tiến phong phú hơn. Trong ngôn ngử Tây Tạng, Thần Tài Thần là Tạng Ba Lạp Ta Ba
Thời gian đầu tiên khi đức Thích Ca giảng kinh Đại Bát Nhã trên núi Linh Thứu, tất cả các loại ma quỷ, thần từ trước đến nay thường gây ra trở ngại đã làm cho núi cao sụp lỡ, khiến đại chúng kinh hoàng. Lúc nầy Hoàng Tài Thần liền hiện thân để bảo vệ, sau đó Đức Thế Tôn đã dặn dò ngài Hoàng Tài Thần rằng trong thời vị lai hãy giúp cho tất cả chúng sanh nghèo khổ trong thế gian. Hoàng Tài Thần đã nhận lời ủy thác của Phật và trở thành một đại hộ pháp trong Phật môn.
Bổn tôn hình tướng ngài là bụng to, thân hình nhỏ, hai tay mạnh mẽ sức lực, da màu vàng hoe. Tay mặt Ngài cầm Ma Ni châu, tay trái nắm một con chuột đang nhả viên ngọc quí. Đầ ngài đội mũ Ngủ Phật, thân mặc thiên y trang sức bằng những tràng hạt ngọc quí và hoa sen màu lam. Ngực Ngài đeo tràng hạt ngọc Ô Ba La. Ngài ngồi trên nguyệt luân hoa sen, an nhiên với chân trái co lại, chân phải đạp lên trên những con ốc biển quí báu.
Thành tâm trì tụng tâm chú Hoàng Tài Thần, sẽ được sự bảo vệ và tài nguyện được thăng tiến, tăng trưởng, không bị cảnh ngèo khó, tránh được mọi tình trạng túng quẫn kinh tế. Nếu như phát tâm Vô Thượng Bồ Đề cũng như phát nguyện cứu độ tất cả chúng sanh ra khỏi cảnh nghèo khổ, chắc rằng phước đức vô lượng.
Thần Chú:
Tibetan : Om. Jambhala Jalandraye So HaHán-việt: Án. Tạng bạt lạp, trát niệm trát da. Tóa ha

11. Phật Đảnh Tôn Thắng Phật Mẫu

Phật Đảnh Tôn Thắng Phật Mẫu có khả năng trừ khử tất cả mọi nghiệp chướng, phiền não, phá tan mọi ác đạo đã gây ra cho chúng sanh vô số khổ ách. Ngài làm cho chúng sanh nhận được sự hộ trì, che chở của chư vị Bồ Tát trong cuộc sống hiện tại và không bị những chướng ngại khổ não bịnh tật.
Trong Phạn văn (tiếng Ấn Độ) Ngài được gọi là Vijaya, mật hiệu là Trừ Ma Kim Cang, lại còn có tên là Tôn Thắng Phật Mẫu, Trừ Chướng Phật Đảnh. Phật Đảnh, chỉ cho V Kiến Đảnh Tướng của Như Lai, người thường không có cách nào thấy được đức tướng thù thắng tối thượng ấy. Trong tất cả các Phật đảnh, Tôn Thắng Phật Đảnh có khả năng trừ khử tất cả mọi phiền não nghiệp chướng của chúng sanh, phá tan mọi khổ ách trong ác đạo vì vậy có tên là Tôn Thắng hay Trừ Chướng Phật Đảnh.

Hình Tượng Tôn Thắng Phật Mẫu

Phật Đảnh Tôn Thắng Phật Mẫu còn có tên là Đảnh Kế Tôn Thắng Phật Mẫu gọi tắt là Tôn Thắng Mẫu.
Hình tượng ngài có 3 mặt, 8 tay. Trên mỗi mặt có 3 mắt
Ba Mặt
1. Mặt chính giữa màu trắng, khuôn mặt trầm lặng đẹp đẽ, biểu thị cho sự yên dẹp tai chướng.
2. Mặt phải màu vàng sáng, trong dung mạo mỉm cười vui vẻ biểu thị cho các pháp Tăng Ích.
3. Mặt bên trái màu xanh lam của hoa sen, nhìn thấy hàm răng hiện tướng hung nộ, thân như trăng sáng mùa thu không gợn một tí mây, mặt như một cô thiếu nữ tuyệt trần, biểu thị pháp Hàng Phục.
Tám Tay
1. Tay phải thứ nhất cầm chày Yết Ma Kim Cang chử thập 4 màu để trước ngực, biểu thị hàng ma trừ tai chướng để sự nghiệp tu hành được thành tựu.
2. Tay phải thứ nhì nâng Ngài A Di Đà (hay Đại Nhựt Như Lai) ngồi trên toà sen làm thượng sư biểu thị Hòa Ái.
3. Tay phải thứ ba cầm mũi tên biểu thị sự khơi dậy lòng Từ của chúng sanh.
4. Tay phải thứ tư kết Thí nguyện ấn đặt phía trước đùi chân phải, biểu thị đáp ứng đầy đủ tất cả tâm nguyện của chúng sanh.
5. Tay trái thứ nhất kết ấn Phẫn Nộ Quyền cầm quyến sách (sợi dây) biểu thị sự thu phục tất cả chúng sanh khó điều phục.
6. Tay trái thứ hai kết ấn Thí Vô Úy, biểu thị hướng dẫn chúng sanh ra khỏi sự sợ hãi.
7. Tay trái thứ ba cầm cung biểu thị sự chiến thắng tam giới.
8. Tay trái thứ tư kết Định ấn nâng bình Cam Lồ biểu thị làm cho chúng sanh không bịnh tật, sống trường thọ.
Căn cứ vào những lời tường thuật trong nghi quỹ, Tôn Thắng Phật Mẫu lấy Quan Âm tay hoa sen và Bồ tát tay cầm Tịch Tịnh Kim Cang màu lam làm tả, hữu thị giả, Tứ Đại Thiên Vương làm hộ pháp. Phía đông là Bất Động Minh Vương tay cầm bảo kiếm, phía Nam là Ái Nhiễm Minh Vương tay phải cầm móc sắt, phía Tây là Trì Bổng Minh Vương tay phải cầm gậy màu lam, phía Bắc là Đại Lực Minh Vương tay phải cầm chày Kim Cang. Tất cả bốn Minh Vương thân đều màu lam, tay trái đều kết ấn Phẩn Nộ Quyền để trước ngực. Tóc, lông mi, và râu của 4 Minh Vương như hình lửa cháy, hàm răng lớn phẫn nộ nghiến lại. Tất cả đều mặc quần da cọp, đeo rắn làm chuỗi hột, hai chân trái thẳng, chân phải cong lại, đứng oai vệ như lực sĩ.
Tôn Thắng Phật Mẫu tâm chú:
Om. Brum So Ha
Om Amrita Ayuh Dade So Ha


12. Đại Tùy Cầu Bồ Tát

Hạnh nguyện của Ngài Đại Tùy Cầu Bồ Tát là theo sát chúng sanh để biết được lời cầu nguyện mà giải trừ tất cả khổ ách, tiêu diệt ác đạo, làm cho những mong cầu của chúng sanh được thành tựu viên mãn. Lại còn bảo vệ cho quốc gia, khiến cho mưa thuận gió hòa, hoa trái mùa màng được tốt đẹp.
Đại Tùy Cầu Bồ Tát tên Phạn ngữ là Maha Pratisara, phiên âm Hán Việt là Ma Ha Bát La Đê Tát Lạc, có thuyết cho rằng Ngài là hóa thân của đức Quán Thế Âm. Thường gọi tắt là Tùy Cầu Bồ Tát. Ngài thường làm cho mọi sở cầu của chúng sanh đều được thỏa mãn. Trong Thai Tạng Mạn Đà La, Ngài ngự ở Quan Âm viện. Đây là một Bồ Tát thường theo sát những điều mong cầu của chúng sanh để tiêu trừ khổ ách, diệt ác đạo, làm cho mọi mong cầu như ý, vì thế mà tên gọi là Đại Tùy Cầu.


Hình Tượng Ngài Đại Tùy Cầu

Thân ngài màu vàng, một mặt tám tay, làm thành hình trạng vô úy. Ngài đội mũ trong có Hóa Phật, mỗi tay của Ngài đều kết khế ấn. Tám loại ấn có tám loại chơn ngôn theo từng ấn. Trong Phật Giáo Nhật Bản, Phật tử thường tu pháp Ngài để cầu con và cầu cho sản phụ sanh được bình an. Tám tay cầm các vật khác nhau như:
Tay phải thứ nhất cầm chày Kim Cang
Tay phải thứ hai cầm bảo kiếm
Tay phải thứ ba cầm phủ (búa)
Tay phải thứ tư cầm kích ba chỉa
Tay trái thứ nhất cầm hỏa diệm kim luân
Tay trái thứ hai cầm luân sách
Tay trái thứ ba cầm bảo tràng
Tay trái thứ ba cầm hộp kinh
Mật hiệu là Dự Nguyện Kim Cang. Tam muội Da hình là Phạm khiếp (Phạm Khiếp: Phạm khuông là cái hộp gỗ kẹp quyển Kinh viết trên lá)
Đại Tuỳ Cầu chơn ngôn:
Om. Bhara Bhara
Sambhara Sambhara
Indriya Visodhani
Hum, Hum
Cale
Soha

20. Lục Độ Mẫu (Green Tara)

Hạnh Nguyện: Green Tara làm tăng trưởng phước đức, thành tựu tất cả mọi sự tốt lành, giàu sang, phú quí, khiến cho người tu hành an trú vui vẻ trong phước điền, được an nhiên tự tại. Phàm những người cầu tài bảo đều tùy nguyện được viên mãn. Lục Độ Mẫu tên xưng đầy đủ là Thánh Cứu Độ Mẫu, là hóa thân của ngài Quán Thế Âm Bồ Tát, là Phật mẫu trong Bộ Quan Âm Mật Giáo. Lại còn xưng là Thánh Đa La Bồ Tát, Đa La Tôn, Đa La Tôn Quan Âm, Đa La Quan Thế Âm, Lục Độ Mẫu, Cứu Độ Mẫu, Thánh Cứu Độ Phật Mẫu, gọi tắt là Độ Mẫu. Cộng tất cả là 21 tôn, gọi là 21 Độ Mẫu đều do ngài Quan Thế Âm Bồ Tát hóa thân
Căn Cứ theo Đại Phương Quảng Mạn Thù Thất Lợi Kinh, phẩm Quán Tự Tại Bồ Tát nói rằng: Trong khi ngài Quán Tự Tại Bồ Tát an trụ trong Phổ Quang Minh Đa La tam muội, dùng tam muội lực, trong mắt phóng ra đại quang minh, Đa La Bồ Tát tức theo ánh sáng mà hóa sanh thành một thiếu nữ xinh đẹp, dùng ánh sáng trong mát chiếu khắp chúng sanh, thương xót chúng sanh như người mẹ hiền, thệ nguyện độ hết tất cả chúng sanh ra khỏi biển khổ sanh tử.
Tu trì theo pháp của Ngài Lục Độ mẫu đọan trừ được sinh tử luân hồi. tiêu trừ tất cả mọi chướng ngại, bịnh , khổ…cũng trừ được tai nạn, tăng phước sống lâu, mở rộng trí huệ, phàm có cầu nguyện đều được thành tựu.
Trong Kinh Thánh Đa La Bồ Tát Nhứt Bách Bát Danh Đà La Ni: Nếu hành giả phát tâm chí thành trì niệm 108 danh hiệu và đọc Đà La Ni nầy 1 biến, 7 biến, cho đến 21 biến, trong lúc tụng niệm không được bỏ sót chữ hoặc câu, người tu hành làm được như vậy sẽ gặt hái được mọi sự tốt lành và phú quí cũng như thành tựu được pháp nầy, tùy nguyện của mình mà vĩnh viễn không có trở ngại. Ngoài ra trong kinh Tán Dương Thánh Đức Đa La Bồ Tát Nhất Bách Bát Danh cũng có đề cập như sau: Nếu có người theo đúng Pháp mà thọ trì Đa La Bồ Tát Nhứt Bách Bát Danh, sẽ được tăng phước, nổi danh, tiền của nhiều, tốt lành an trú trong ruộng phước, tài sản tăng lên và được tự tại. Kinh Cứu Độ Phật Mẫu Nhị Thập Nhất Chủng Lễ Tán nói: Cứu Độ Phật Mẫu Nhị Thập Nhất Chủng Lễ tán nói: Cầu tiền của, địa vị được tăng lên, đều được vào viên mãn ý nguyện.
Hình Tướng:

Vị tôn nầy hiện tướng một thiếu nữ toàn thân màu lục. Một mặt, hai tay, hiện tướng rất hiền lành. Đầu đội mũ Ngũ Phật. Thân mang các tràng hạt quí, mặc Thiên y. Hạ thân quàng váy. Thân tướng trang nghiêm, ngồi trên nguyệt luân Bồ Tát tòa. Chân phải ở trong tư thế đạp ra, chân phải co lại, Tay phải hướng ra ngoài đặt trên đầu gối phải, bắt Thí Nguyện Ấn, cầm hoa sen xanh. Tay trái để trước ngực cũng cầm hoa sen xanh.
Chơn ngôn:
Om. Tare Tuttare Ture Ye So ha
(Om. Ta-rê Tút-Ta-Rê Tu-rê Ye, So Ha)
 Đàn LỤC ĐỘ MẪU 
.

HẾT - dienbatn giới thiệu .

Thứ Tư, 15 tháng 7, 2020

PHÁP TU PHỤ LỤC- 1

Pháp Tu Phụ Lục
1. Phép Tu Nước Cam Lồ



Để trước mặt một chén nước sạch, đốt hương tốt cúng dường tượng Phật, cúng dường Thập Nhứt Diện Quan Âm và các bài chú là tốt nhất. Trên bàn Phật đơm hoa quả và vật cúng.
Tĩnh Tâm kỳ đảo:
Tay trái: Bưng chén, ngón tay cái và ngón tay trỏ bấm hai đầu ngón lại với nhau thành vòng tròn, còn lại ba ngón kia duỗi thẳng ra, lòng bàn tay giữ chặt khu chén. (Bảo Thủ ấn)
Tay phải: Ngón tay trỏ và ngón tay giữa duỗi thẳng, còn lại ba ngón kia bấm đầu với nhau. Trong lúc niệm chú trên dưới vẩy hai ngón tay trỏ và giữa. (Cam Lồ ấn)
Niệm chú: Om Ah Mi Ri Ta Hung Ra TaTrì chú 21 biến, trong lúc trì chú quán tưởng đức Phật phóng ánh sáng trắng đến chén nước để gia trì cho nước thanh tịnh..
Nước Cam Lồ nầy có thể dùng để tẩy uế, pha nước trà, hoặc hòa vào trong bồn nước để tắm, hay dùng để lau mặt, mình cho bệnh nhân.
Nếu dùng chú Đại Bi để gia trì vào chén nước theo nghi lễ trên cũng tốt.

2. Phép Trừ Chướng
Những vị tín đồ của Mật Tông có thể lấy ngài Kim Cang Tát Đỏa làm vị bổn tôn, niệm “Bách Tự Minh Chú” 21 biến. Quán tưởng Bổn Tôn trên đỉnh đầu của mình, hai ngón cái của Ngài chảy ra nước Cam Lồ màu trắng nhập vào đảng môn và chảy khắp thân thể của mình, thế là tự thân của mình chảy ra các loại máu mủ, chất dơ, cặn bã …bài tiết ra lỗ chân lông mà ra ngoài, rồi thấm sâu vào lòng đất, biến thành màu đỏ và được loại “Ma Ngưu “ nuốt vào.

Trong lúc thu kết, hãy quán tưởng hang ở dưới đất đóng cửa, không thấy được “Hồng Ngưu”. Ngài Kim Cang Tát Đỏa đã biến thành ánh sáng dung nhập vào tâm luân của chính mình, ánh sáng màu trắng cháy hừng hực.
Người chưa từng tu qua Mật Tông, có thể niệm chú “Đại Bi”, hướng về ngài Thập Nhất Diện Quan Âm mà cầu nguyện, và sám hối tội nghiệpcủa bản thân từ vô luợng kiếp đến nay. Đồng thời quán tưởng ngài Quan Thế Âm phóng ra ánh sáng màu trắng chiếu thẳng tới thân mình, làm cho tự thân mình được thanh tịnh

.
3. Pháp Mộc Dục



Hãy quán tưởng ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát phóng quang chiếu thẳng đến nước tắm khiến cho nước ấy thanh tịnh, đồng thời tụng chú Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát:
Om Ah Ra Pa Tsa Na Dhi
Hoặc tu “Đại Bi Chú Thủy” (Tham khảo Quật Trước trong “Thuyết Quan Thế Âm Bồ Tát dử Đại Bi chú ») về phương pháp tu chú Thủy nầy, xong đem nước đổ vào bồn tắm mà tắm. Trong lúc tắm, hãy quán tưởng nước sạch nầy đã mang đi hết tất cả những nghiệp chướng trên thân thể mình. Cũng có thể dùng nức nầy để lau thân thể, hoặc rửa mặt cho người bị bệnh ma, quán tưởng những bệnh ma đều bị tịnh thủy trừ sạch.


4. Diệu Cát Tường Chiệm Bốc Pháp Nghi Quỹ


Nghi thức xin quẻ:
Đảnh lễ Diệu Cát Tường Đồng Tử
(Chấp tay niệm ba biến)
1. Tán: (Trước hết là chấp tay, sau đó niệm một biến , tay lắc hột 1 lần)
Đaị Trí Diệu Cát Tường Đồng Tử,
Trí nhản tam thời vô chướng ngại.
Quy y Tam bảo tam căn bản,
Tâm hữu nghi hoặc sở khai thị
2. Tụng Văn Thù căn bản chú
Om Ah Ra Pa Tsa Na Dhi (21 biến)
Trong lúc niệm hãy quán tưởng Diệu Cát Tường Đồng Tử, tức Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát cao khoảng 2 thước ngồi giữa không trung đối diện với mình. Ngài có 1 đầu, 2 tay. Tay phải cầm kiếm, mũi kiếm phóng ra ngọn lửa trí tuệ. Tay trái cầm một cành hoa sen xanh, cọng hoa sen tựa vào vai trái và hướng lên trên. Đóa hoa nầy màu xanh nở bên lỗ tai trái của Ngài. Trên đóa hoa có một cuốn kinh Bát Nhả. Tướng của Bổn Tôn giống như một thiếu niên 16 tuổi, đầu đội mũ ngũ Phật, suốt thân thể có đeo những tràng hạt châu trang nghiêm, hai chân ngồi kiết già phu tọa, toàn thân màu vàng, ngay giữa ngực cũng có một bài chú, từ bài chú đó phóng ra ánh sáng màu vàng chiếu thẳng chiếu thẳng đến hột súc sắc. Niệm chú xong (21 biến), cầm hột thuận tay bỏ vào hộp và lắc hột.
3. Vứa lắc hột vừa đọc bài chú Nhân Duyên:
Om yeadharma hetu pra-bhawa
Hetunte khen ta thagato haya watet
Te khen tsayo nirodha ewam wadi
Maha shramana soha
Phát âm:
Om/yea dar ma/ Heh too/Pra bah wah/heh tun tay/Ken/Ta t’a ga toe/Ha ya/Wa tet/tay ken/cha yo/Nee ro da/Eh vam/Wa dee/ ma ha/ Shra ma na/So ha.Dich nghĩa:
Chư pháp nhân duyên sanh,
Pháp diệt nhân duyên diệt.
Thị chư pháp nhân duyên,
Phật đại sa môn thuyết.
Trong lúc tụng bài chú Nhân Duyên chấp tay tiếp tục quán tưởng Ngài Diệu Cát Tường Đồng Tử đang ngồi trong hư không ngay trước mặt mình và phóng ra ánh sáng mau vàng từ giữa ngực Ngài, chiếu thẳng đến hột súc sắc. Tụng xong bưng hộp lên nghĩ đến vấn đề muốn hỏi, lắc hộp đựng hột súc sắc, lắc lâu hay mau là tùy theo tâm ý mình mà định. Lắc xong một lần, nếu muốn xin quẻ lại một lần nữa thì lắc lại thêm một lần nữa. Trong lúc lắc, đương nhiên quán tưởng ngài Diệu Cát Tường Đồng Tử đang phóng ra ánh sáng màu vàng từ ngực chiếu thẳng đến hột và nghĩ đến vấn đề muốn hỏi như lần trước.
4. Sau khi lắc hột xong:
Chấp tay niệm 1 lần: Cát Tường Hoàn Mãn. Nam mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nghi thức đã trình bày trên đối với người đã được pháp Văn Thù Quán Đảnh từ Mật Tông (thí dụ như Mật Tông Tây Tạng) có thể quán tưởng tự thân biến thành Diệu Cát Tường Đồng Tử tuyên thuyết bài kệ Nhân Duyên nói trên.
Nghi thức đã trình bày đây rất đơn giản, hy vọng độc giả sẽ làm đầy đủ để đạt được mục đích lợi sanh. Nếu thường ngày thường trì tụng Văn thù Tâm chú nầy và quán tưởng đều đặn thì chắc chắn sẽ thành tựu. Trong khi đọc lời giải thích các quẻ, nên đồng thời lý giải một số pháp nghi, do đó mà có thể nhập vào Phật Đạo (thông suốt nhân quả). Đây là mục đích chính của việc biên chép quyển sách chiêm bốc pháp nầy. Chỉ hy vọng độc giả không dùng quyển sách nầy để mưu lợi, nều không có thể mất hết những gì đã đạt được từ trước.
Kính chúc quí vị độc giả vạn sự cát tường viên mãn.

5. Thập Nhất Diện Quan Âm
Hạnh Nguyện:
Thần chú của ngài Thập Nhất Diện Quan Âm có khả năng làm cho tất cả ma, quỹ, thần không thể khởi sanh những chướng nạn, hiện thân có được 10 điều thắng lợi.
Thập Nhất Diện Quan Âm, tiếng Phạn là Ekadasa-Mukha, dịch ý từ Phạn văn là có 11 điều tốt nhất, hoặc là 11 đầu. Là một trong sáu vị Quán Âm. Nói đầy đủ là Thập Nhất Diện Quan Âm Bồ Tát là hóa thân của ngài Quan Thế Âm, có lúc lại xưng Đại Quan Âm Phổ Chiếu Quan Âm.
Theo Kinh Phật thuyết Thập Nhất Diện Quan Âm Thần chú viết: Lúc ấy Quán Thế Âm Bố Tát bạch Phật rắng: “Thế Tôn, con có Tâm Chú tên là Thập Nhất Diện. Tâm chú nầy 11 ức chư Phật đã nói, vì tất cả chúng sanh nay con nói lại, mong muốn tất cả chúng sanh nhớ đến thiện pháp, muốn chúng sanh tránh khỏi tất cả những chướng nạn do ma, quỹ, thần khởi lên.”
Chú Thập Nhất Diện Quan Âm nầy có sức mạnh rất rộng lớn, có khả năng tiêu trừ mọi tai chướng. Theo kinh Thập Nhất Diện Thần Chú nói rằng: Chí tâm khẩn niệm mỗi sáng như pháp thanh tịnh. Tụng chú nầy 108 biến, nếu làm được như vậy, hiện tại sẽ được 10 loại lợi ích:
1. Thân không có bệnh tật
2. Thường được 10 phương chư Phật bảo vệ
3. Tài bảo, y phục, thực phẩm thường dùng không thiếu thốn
4. làm cho người thù oán phải kính phục và mình không còn lo sợ nữa
5. Khiến mọi người đều tôn kính
6. Trùng độc, ác quỷ không hại được
7. Tất cả dao gậy không làm hại được
8. Không bị chết chìm
9. Lửa đốt không cháy
10. Suốt đời không bị chết bất đắc kỳ tử
Trong Kinh cũng nói, nếu có người một ngày không ăn, một đêm thanh tịnh nhất tâm tụng niệm, tức được vượt qua sanh tử trong 4 vạn kiếp (40,000 kiếp). Tất cả các loại hữu tình chỉ xưng niệm danh hiệu Như Lai, đều được Bất Thối Chuyển, viễn ly tất cả bệnh hoạn, tránh mọi tai họa hoạnh tử yểu vong, không bị nghiệp bất thiện do thân, khẩu, ý gây ra. Nếu y theo giáo pháp tương ứng mà quán hành, quả Phật và Bồ Tát chắc chắn là dễ đến được.
Lại còn có những sự quan hệ giữa Thập Nhất Diện và Thập Nhất Diện Quan Âm, trong kinh Hữu Vô Biên Phật Độ Công Đức nói: Thập Nhất Diện Quan Âm còn được gọi là Thập Nhất Phật, phía trước có ba mặt với tướng hảo rất từ bi, phân rỏ là: Thích Ca Thế Giới Năng Tịch Phật, An Lạc Thế giới Vô Ngại Quang Phật, Cà Sa Tràng Thế Giới Kim Cang Kiên Cố Hoan Hỷ Phật.
Bên trái 3 mặt, tướng hảo từ bi là: Bất Thối Luân Âm Cực Diệu Viên Mãn Hồng Liên Phu Thân Phật, Tuyệt Trần Thế Giới Pháp Tràng Phật, Đăng Minh Thế Giới Sư Tử Phật.
Bên phải 3 mặt, tướng răng trắng là: Trang Nghiêm Thế Giới Nhất Thiết Thần Thông Tuệ Quang Phật, Kính Kuân Thế Giới Nguyệt Giác Phật, Phổ Hiền Thế Giới Hiền Thủ Phật.
Phía sau, mặt Phật với nụ cười vui vẻ là: Nan Siêu Thế Giới Thân Phóng Pháp Quang Phật, Tối Thượng Phật Diện Nguyện mãn Túc, cũng là Diệu Giác Thế Biến Chiếu Như Lai. Sau đâ là công đức và cách tụng niệm, trong “Giác Thiền Sao” có đưa ra bài Thập Nhất Diện Quan Âm như sau:
Nam Mô Đương Tiền Tam Diện Từ Bi Tướng
Nam Mô Tiền Tam Từ Diện Cầu Như Ý
Nam Mô Tiền Tam Bi Diện Trừ Quỷ Bệnh
Nam Mô tả Biên Tam Diện Sân Nộ Tướng
Nam Mô Tả Tam Diện Phục Oán Tặc
Nam Mô Hữu Biên Tam Diện Bạch Nha Tướng
Nam Mô Đương Hậu Nhất Diện Bạo Tiếu Tướng
Nam Mô Đảnh Thượng Nhất Diện Như Lai Tướng
Nam Mô Đảnh Thượng Phật Diện Trừ Tật Bệnh
Nam Mô Tối Thượng Phật Diện Nguyện Mãn Túc.
Lại nói: Nếu trong nước người và súc vật bị bệnh dịch, một bài chú một nút để lên trên đỉnh cao nhất của Phật Diện, khiến cho bệnh dịch sẽ tiêu trừ. Cũng theo trong Giác Thiền Sao nói: Nếu theo Kinh nầy đã nói, có thể nói rằng trên đỉnh Phật Diện trừ được bệnh dịch mà còn theo tiếng nói rỏ ràng phát ra từ trên đó cho người cầu đầy đủ mãn túc nữa. Kinh dạy rằng (Thất La Phiệt) từ trên miệng của Phật Diện cao nhất đã phát ra âm thanh ca tụng người hành giả nầy rằng: “Thiện tai! thiện tai! Thiện nam tử, con có thể cầu nguyện như thế, ta sẽ làm cho con được mãn nguyện đầy đủ.” Nếu y theo như trong bản văn nầy, cổ đức đã nói rằng: “Trên đỉnh Phật diện trừ bệnh dịch, còn đỉnh của Phật diện cao nhất là để thỏa mãn những cầu nguyện.”
Trong Thập Nhất Diện, phía trước ba mặt (Tam diện) với tướng tĩnh lặng, đó là công đức của Đông Phương Đại Viên Cảnh Trí, là Bất Động Phật từ xưa đến nay luôn tĩnh lặng, biểu thị cho ý nghĩa chấm dứt các tai nạn.


Hình Tướng Thập Nhất Diện Quan Âm:

Căn cứ theo Kinh Thập Nhất Diện Quan Thế Âm Thần Chú, hình tượng là thân dài 1 thước 3 tấc, có 11 đầu, phía trước có 3 mặt, làm theo mặt của bồ tát, bên trái có 3 mặt sân tướng, bên phải có 3 mặt, làm theo mặt bồ tát, nhe răng dữ, phía trên sau có 1 mặt, làm mặt cười vui, trên cao 1 mặt làm mặt Phật, 1 mặt hướng về phía trước, sau có ánh sáng. 11 mặt đó đều có đội mũ hoa, trong mũ hoa đều có tượng Phật A Di Đà. Tay trái Ngài Quan Thế Âm cầm một bình đượng nước, trong miệng bình có 1 hoa sen mọc ra, tay phải Ngài có đeo một tràng hạt và kiết Thí Vô Úy Ấn
Mười một mặt của Thập Nhất Diện Quan Âm, mỗi mặt đều có ý nghĩa tượng trưng khác nhau. Trong 11 mặt, 3 mặt trước là Đại Từ tướng, trong lúc bồ tát nhìn thấy được chúng sanh hành thiện, cho nên sanh ra tướng vui vẽvà lòng đại từ. Ba mặt ở phía bên trái là sân tướng khi thấy chúng sanh hành ác, sanh ra lòng từ bi và tướng đại bi cứu khổ. Ba mặt phía bên phải, xuất tướng hàm răng trắng ở trên là thấy được tịnh nghiệp của chúng sanh nên phát xuất ra sự tán thán , khuyến tấn tướng. Một mặt ở phía sau là mặt cười là trong khi thấy thấy sự thiện ác, tạp uế cuả chúng sanh khiến cho cải ác quy thiện nên phát xuất ra nụ cười. Mặt Phật ở trên hết là tướng thuyết pháp cho chúng sanh tu tập pháp Đại Thừa.
Từ trước đến nay chỉ nhìn thấy bằng đồ tượng và sự diễn tả trong kinh điển hoặc nhiều hay ít đều có sự khác nhau, đó là sự xếp đặt 11 mặt không giống nhau, cũng như có tượng 2 tay, 4 tay, hoặc 8 tay…
Hình Tam Muội Da của Thập Nhất Diện Quan Âm là Quân Trì tức là bình đựng nước tắm (Tảo bình), còn gọi là Hiền Bình. Hiền Bình chưá nước Cam Lồ năng trừ tất cả lữa phiền não hay đốt chúng sanh. Trị liệu bệnh khổ của chúng sanh, trong Tập Kinh quyển thứ 12 nói rằng: “Vị Tọa Chủ có tên là Thập Nhất Diện Quan Âm, ngồi trên hoa sen cầm bảo bình có ánh sáng rực rỡ vây quanh.” Lại nói: “Ấn Cam Lồ là ấn đệ nhất để trừ hết tất cả mọi tật bệnh ở những nơi phát ra. Chí tâm niệm chú tức được lành bệnh.” Hoặc là dùng MA ( Ma Ni) nầy thành bình đựng nước tắm. Quán chữ Hrih thành bông sen có 12 cái gương sen hoặc chử MA thành quân trì. Trong quân trì có 11 chữ Hrih, trong quân trì có nước từ bi, đó là nước Cam Lồ vậy. Hoặc nói nước Cam Lồ trong bình có chử Hrih màu trắng.
Tự chủng của Thập Nhất Diện Quan Âm là: MA, SA, HRIH
Chơn ngôn:
Om Maha Karunika Svaha
Om Loke Jrala Hrih
Dich nghĩa:
Qui mạng Đại Bi Thành Tưu
Qui mạng Thế Gian Quang Minh Hật Rị (Thông Chủng Tự)

6. ĐẠI HẮC THIÊN

Đại Hắc Thiên là một vị Trời rất kính ái Tam Bảo, hộ trì người tu hành, thỏa mãn đầy đủ tư tài (tiền bạc, của cải cho tất cả chúng sanh thế gian và xuất thế gian). Trong Phạn ngữ, Đại Hắc Thiên là Mahakala, là một trong những vị thần thủ hộ Mật Giáo, còn trong tiếng Hán Việt là Ma Ha Ca La hoặc Mặc Ha Ca La, Đại Hắc, hoặc Đại Thời, hoặc còn gọi là Ma Ha Ca thần….
Trong Ấn Độ giáo (Hindu) vị thần có biệt danh là Siva (Thấp Bà hay Bà Đột Ca, hậu của Thấp Bà hóa thân) chư phá hoại chiến đấu. Phật giáo lại thấy đây là hóa thân của Đại Tự Tại Thiên, hoặc ngài Tỳ Lô Giá Na Phật hóa thân. Các thuyết không giống nhau, trong đó có thuyết xem ngài Đại Hắc Thiên như một vị phước thần để cúng bái cầu xin. Trong Đại Nhật Sớ kinh nói rằng đây là vị thần phẫn nộ, hàng phục Đồ Cát Ni. Cũng có thuyết nói rằng vị thần nầy là Ma Ê Thủ La (Đại Tự Tại Thiên) hóa thân, tức là Trưng Gian thần, Chiến Đấu thần. Thuyết nầy đã công nhận Đại Hắn Thiên là Ma Ê Thủ La hóa thân cùng với vô số quyến thuộc quỷ thần ban đêm du hành ở trong rừng, ăn máu thịt của người sống để có sức mạnh cho các phép chiến đấu để đạt toàn thắng. Do đó Đại Hắc Thiên còn gọi là Chiến Đấu Thần.
Căn cứ vào kinh Đại Tập Đại Phương Đẳng, quyển 55, phẩm Phân Bố Diêm Phù Đề đã nói rằng: “Đại Hắc Thiên Nữ và Thiện Phát Cát Thát Bà đều hộ trì cho nước Bà La Nại.”
Trong Mật giáo Tây Tạng, Đại Hắc Thiên được gọi là Mahakala, là vị tôn chủ hộ pháp trọng yếu. Sự truyền thừa hình tượng Ngài trong các trường phái Tây Tạng thì không đồng nhau, tánh chất và tác dụng cũng bất đồng. Tôn tượng và đặc tính của Ngài Đại Hắc Thiên có rất nhiều cách diễn tả khác nhau như: Đại Hắc Thiên hai tay chủ yếu là hộ trì cho những hành giả tu Hỷ Kim Cang. Đại Hắc Thiên bốn tay chủ yếu hộ trì cho hành giả tu Đại Thủ Ấn. Đại Hắc Thiên sáu tay chủ yếu hộ pháp cho phái Hương Ba Cát Cử và Cách Lỗ. Đại Hắc Thiên sáu tay màu trắng chủ yếu hộ pháp của phái Tát Ca Cử, trong đó Bạch Ma Ca La còn có tên là Bổn Tôn Tài Thần. Ngoài ra vị Trời nầy còn là Tài Phước thần, Ty Ẩm Thực.
Trong Nam Hải Ký Quy Nội Pháp truyện, quyển 1 Thọ Tế Quỷ Tắc có đề cập: “Tất cả các đại tu viện ở phía tây, bên cột nhà bếp hoặc trước các kho tàng, đầu cột có điêu khắc hình tượng Đại Hắc Thiên màu đen.”
Tương truyền vào thời cổ đại, Đại Hắc Thiên là thuộc hạ của Hỏa Thiên, rất kính ái Tam Bảo, hộ trì 5 chúng để khỏi bị hoa tổn, phàm có nghười cầu đều được xứng nguyện. Mỗi khi đến giờ ăn cơm, vị thầy đặc trách nhà bếp thường thường dâng cúng lên ngài Đại Hắc Thiên hương đèn, đồ ăn trước. Trong văn bản cũng có đề cập đến chùa, miếu ở Hoài Bắc, tuy nhiên không có phong tục cúng dường ngài Đại Hắc Thiên. Phàm có người cầu xin đều có ứng nghiệm một cách lạ lùng.
Ngoài những điều nầy, ở Nhật Bản các chùa đều căn cứ vào Nam Hải Ký Quy truyện có nói: “Thịnh hành nhất là các nhà kho ở nhà bếp đều an trí tượng ngài Đại Hắc Thiên hai tay”. Trong Nam Hải truyện cũng có viết về sự tích ứng hóa của Đại Hắc Thiên.
Có một ngôi chùa tên là Đại Niết Bàn Thiền Na Tự, thường ngày ở trong chùa có khoảng 100 tăng sĩ, nhưng hằng năm đến mùa lễ bái thì có nhiều tăng sĩ các nơi hội về. Điều nầy làm ban ẩm thực ở chùa gặp nhiều khó khăn. Có một lần, vào buổi trưa có khoảng 500 tăng khách đến đây lễ bái, chùa không còn khả năng cung cấp đồ ăn uống trong lúc nầy, nhưng cũng không thể để cho 500 vị tăng khách nhịn đói. Trong khi tất cả mọi người trong chùa không biết giải quyết bằng cách nào, thì có một bà già nói: “Chuyện nầy là thường xảy ra, đại chúng đừng nên lo lắng.” Chỉ thấy bà lão đốt một nắm hương lớn, hướng về ngài Đại Hắc Thiên, thành kính bạch rằng: “Đại thánh! Chư tăng bốn phương đến đây để dâng lễ bái thánh tích. Kính mong ngài đừng để cho đại chúng thiếu đồ ăn.” Khi lời cầu nguyện nầy chấm dứt, liền khiến cho đại chúng lấy số thực phẩm trước đây dự trù để cung cấp cho tất cả đem ra, nhưng lạ thay, số người ăn so với số bình thường hơn nhau mấy trăm người, nhưng thức ăn vẩn không thiếu. Đại chúng vô cùng cảm kích và kinh dị.
Người Nhật cũng lấy ngài Đại Hắc Thiên là một trong bảy vị phước thần. Vị Đại Hắc Thiên được công nhận giúp cho thế gian quan vị và phú quí, đã được nhân gian sung tín rộng rải. Đông Mật tương truyền ngài Đại Hắc Thiên nguyên là Đại Nhựt Như Laithị hiện hình tướng của thần Dược Xoa phẫn nộ để hàng phục ác ma. Tạng Mật lại truyền là Quan Thế Âm Bồ Tát thị hiện hóa làm vị đại hộ pháp. Có sự tương đồng giữa 2 hệ phái Mật Tông Nhật Bản và Tây Tạng đều xem trọng pháp tu của Bổn Tôn.
Do tôn nầy thống lãnh vô lượng quỷ thần quyến thuộc, lại còn them kỹ thuật phi hành và ẩn hình lâu, cho nên trong chiến tranh thường gia hộ cho các sở cầu của chúng sanh khiến cho thực phẩm được đầy đủ. Do đây mà các tu viện ở Ấn Độ và Trung Quốc, tỉnh Giang Nam người dân thường thờ cúng trong nhà bếp. Người ta cũng thờ cúng vị Đại Hắc Thiên trong nghĩa địa. Cũng tương truyền rằng vị thần nầy cùng với quyến thuộc của Thất Mẫu Nử Thiên thường cứu giúp người nghèo khó. Do đó mà Đại Hắc Thiên được thông dụng gọi bằng 4 tên: Chiến Đấu Thần, Trù Phòng Thần (nhà bếp), Trủng gian Thần (Nghĩa Địa), Phước Đức Thần.

Đại Hắc Thiên Hình Tướng

Liên quan đến tôn tượng của Ngài, trong Tuệ Lâm Âm Nghĩa, quyển 10, mô tả tượng ngài có 8 tay, thân ngài màu mây đen xanh. Hai tay ôm ngang bụng cầm cái kích chỉa ba, tay phải thứ hai cầm con dê màu đen xanh, tay trái thứ hai nắm đầu tóc của nột ngạ quỷ, tay phải thứ ba cầm kiếm, tay trái thứ ba cầm Khiết Trá Cang Ca tức là cái chuông đầu lâu dấu hiệu phá hoại, tai họa. Hai tay sau, mỗi tay để ở trên vai đở một tấm da voi trắng như trong thế mặc áo. Dùng rắn độc xâu đầu lâu là chuỗi hột. Phía trên nhe răng cọp ra tạo nên hình tướng rất hung giữa. Dưới có Địa Thần Nữ Thiên đang dùng 2 tay để đỡ chân.
Ngoài những điều tương tự mà sách Đại hắc Thiên Thần Pháp đã ghi, còn có hình ngài là 3 mặt sáu tay màu xanh. Tay trái và tay phải của mặt trước để ngang cầm kiếm, tay trái thứ nhất cầm búi tóc của người nâng lên, tay mặt thứ nhứt cầm một con dê cái, hai tay thứ hai để sau lưng trùm 1 tấm da voi. Cổ dùng đầu lâu làm hột chuỗi. Trong tranh Mạn Đà La có tôn hình và hình tượng nầy giống nhau, chỉ trừ con dê và đầu người là khác nhau. Nhưng trong Tối Thắng Tâm Kinh nói rằng ngài Đại Hắc Thiên mặc da voi, cầm ngang một cây thương, một đầu đâm thẳng vào một đầu người, đầu kia đâm vào một con dê. Trong Nam Hải Ký Quy truyện nói hình của vị nầy đeo túi vàng, ngồi trên một giường nhỏ và thòng một chân .
Nói tóm lại, liên quan đến tôn hình của ngài thông thường có 2 loại, một loại hiện phẫn nộ như thân màu đen, ngồi trên tòa hình tròn, trên tóc phát ra lữa dựng đứng, ba mặt sáu tay, tay phải thứ nhất cầm mặt dao hình mặt trăng nằm ngửa, tay thứ nhì cầm tràng hạt bằng xương, tay thứ ba cầm trống nhỏ. Tay trái thứ nhất cầm thiên linh cái, tay trái thứ hai cầm chỉa ba, tay trái thứ ba cầm xích Kim Cang, phía trên 2 bên trái phải 2 tay nắm một miếng da voi căng rộng.
Một loại khác tạo hình theo phước thần, làm theo hình dáng của phàm nhơn, đầu đội mũ tròn, vai mang 1 cái bị, cầm một cái chày nhỏ, chân đạp bị gạo.
Trong lúc tu pháp điều phục, phẫn nộ hình được dùng nhiều trong pháp hàng ma. Phước thần được dùng trong pháp tu cầu phước đức.
Người tu tập về Đông Mật hoặc Tạng Mật, đối với ngài Đại hắc Thiên có phần quan trọng. Hành giả dùng ngài để cầu đảo, trừ ma, thành tựu thắng lợi và công đức.
Tự chủng: Ma
Chơn Ngôn: 
Om Maha-Kalaya svahaNghĩa: Qui mạng, Đại Hắc thành tựu
Chơn ngôn: Om Micch micch svare taragate svaha
Nghĩa: Qui mạng hàng phục, tự tại, cứu độ thanh tịnh.




HẾT - dienbatn giới thiệu .

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2020

VĂN THÙ CHIÊM BỐC PHÁP - 2

 ( tiếp theo và hết )

Quẻ 21: Tsa Pa (4-3)
Biểu tượng: Không hư tâm trí (Tâm trí trống không)
Hữu như phong tuyền ư không cốc,
Thanh âm tuy hưởng khước không hư.
Chiêm giả ký đắc như thị chiêm,
Tâm trí không hư diệc nhược thị.
Tạm dịch:
Như có gió thổi xoáy vào trong hang trống,
Âm thanh tuy vang lên nhưng vẫn là hư không.
Người xin quẻ nầy đã được như thế đó,
Tâm trí trống không cũng như vậy.
Tín Hiệu: Phong quyện bạch chỉ, thùy năng tróc trì?
(Gíó cuốn tờ giấy trắng, có ai chụp lại được không?)
Sứ giả của Đại Ma La đi tuần du tất cả đô thị và thôn ấp của thế giới yêu tinh. Trong lúc tuần du về phía Tây Bắc đã nói rằng: “Thật là rất khó để chụp lại một tờ giấy trắng đã bị gió thổi bay tung và cuốn đi. Ai có thể chụp lại được?” Vì vậy nên tin tức trong quẻ nầy không tốt. Những điều mong cầu đều như bắt gió. Tất cả những sự đã mưu tính tại sao lại thất bại, e rằng trong lòng của người xin quẻ không có chủ động, chẳng có một ý định nào, thật khó mà thành công. Lại có thể vì căn bản chưa đủ, nhưng lại làm việc không tưởng (không thực tế) như xây lâu đài giữa không trung là một điều khó thực hiện.
Nhà Phật nói về Tánh Không, còn gọi bản chất của sự vật là không thật, chứ không nói Tâm Trí là hư không, trống rổng. Người xin quẻ nên rõ điều nầy.
GIẢI ĐOÁN:
1. Gia Trạch: Người trong nhà bất an, ồn ào cãi cọ rất bực bội. Người trong gia đình hoặc sinh ra ly tán, hoặc bị tổn thương, hoặc sinh bịnh tật. Tất cả đều không tốt. Hãy mau mau cầu đảo hóa giải. Nên tụng nhiều chú Đại Bi.
2. Tài Phú: Có mưu tính thì cũng không có ý, mất tiền tốn của. Hãy gấp rút chỉnh đốn lại kế hoạch. Chưa tính toán suy nghĩ kỹ lưỡng, nhất định không khai triển kế hoạch mới, tức làm cho sự việc đã định rồ sẽ bị thay đổi. Cho nên phải suy nghĩ thật kỹ rồi hãy làm sau. Không đuợc đầu cơ. Tiền tài vào trong tay mình, và cũng do mình mà tiền tài chạy ra.
3. Mưu Vọng: Không vì những việc nhỏ nhen mà mất quá nhiều tâm trí, không nên; phải biết mọi sự việc khi đến thì tự nhiên nó đến. Nếu nhờ người khác, chi bằng không nhờ, trái lại mọi việc đã tính toán đều được hữu ích. Tâm tư chưa định được, thì cũng mờ mịt như bắt gió.
4. Nhân Sự: Đem sự việc của mình mà giao phó cho người khác làm, kết quả cũng hư hỏng. Nên chỉ dẫn thật rõ ràng, sau đó người ta mới có thể thực hiện được. Nếu trong lòng mình do dự, chẳng bằng đem sự việc ấy mà bỏ đi. Phụ nữ làm việc nầy đều hư hỏng.
5. Cừu Oán: Người mang ơn mình lại trở thành kẻ thù. Nếu có thể gặp đối phương mặt đối mặt để khai thông những bế tắc thù oán, chắc chắn không có hại lớn. Tốn tiền để khỏi tai nạn, bạn có thể giúp đỡ cho người thù hận bạn, họ đối xử với bạn tốt ngay và bạn sẽ có lợi. Có kiện tụng nên hòa, có cãi cọ thì nên giải thích.
6. Hành Nhân: Trên đường đi tuy không gặp khó khăn lớn, nhưng cũng khó đạt được mục đích. Người đi trở về với tay không, tin tức sẽ đến nhưng vô ích.
7. Tật Bệnh: Chủ về bệnh nhiễm gió lạnh, hoặc thuộc bệnh khí đại. Trong thân thể ngũ đại không đều hòa: Địa, Thủy, Hỏa, Phong, và Không đại. Bởi vì sự quan hệ với người khác không tốt, nên chi tinh thần bực nhọc, tâm trí bất an, tách rời bọn họ tức được tự tại.
Không kể tinh thần hay thể xác bệnh hoạn, đều phải nên điều dưởng từ từ, không có cách gì để phục hồi ngay được. Có giải phẫu cũng vô ích.
8. Ma Sùng: Tuy không có hại lớn, nhưng cũng nên cầu đảo, có thể tu pháp Thanh Tịnh Mộc Dục., hoặc Trừ Chướng. Thần quỷ đều thuộc về âm tánh, vì thế nên tế cúng nữ Bổn Tôn. Phong thủy không tốt, thiếu ánh sáng mặt trời chiếu đến. Nên treo các bài chú nơi chổ thiếu ánh sáng.
9. Thất Vật: Vật mất rồi khó tìm lại được. Tìm kiếm chỉ phí tâm lực mà thôi.
10. Thỉnh Thác: Nếu có đi nhờ cậy đều khó vừa ý. Công việc nhờ cậy mà có mục tiêu bất minh thì bạn tốt cũng khó giúp đỡ.
11. Hôn Nhân: Theo đuổi cũng giống như bắt gió. Người phối ngẫu có tâm bệnh, mỗi người mong nhớ tự thất bóng mình. Có người thứ ba xen vào, rất khó tách ra.
12. Kỳ Tha: Nếu có chủ trương, người khác cũng chẳng nghe theo. Tất cả mọi hy vọng đều lạc vào hư không. Do hai điều trên mà người xin quẻ nên kiểm thảo lại kế hoạch của mình, nếu thấy rằng chính xác tức hạ quyểt tâm tiến hành. Trong tiến trình phải luôn kiểm thảo, xem xét lại. Nên tích lũy công đức, đọc tụng kinh luận để cầu tâm khí an bình. Tín đồ Mật Tông nên tu pháp Bổn Tôn. Còn tín đồ Phật giáo nên tìm hiểu và học về Tánh Không. Nên tụng Bát Nhã Tâm Kinh.
Tóm tắt ý nghĩa: Lòng nát tan từng mảnh, vì thế mà tinh thần bấn loạn, vật chất tốn hao.


22. Quẻ 22: Tsa Tsa (4-4)Biểu Tượng: Thăng dương danh vọng
(Danh tiếng vang lừng)
Thắng lợi cổ thanh hưởng,
Thanh vọng định thăng dương.
Chiêm giả đắc thử quái,
Kim sí điểu phi tường.
Tạm dịch:
Thắng lợi tiếng trống vang xa,
Thanh danh nhất định lẩy lừng.
Người xin được quẻ nầy,
Chim Kim Sí Điểu bay xa.
Tín hiệu: Chinh phục thập phương, kỳ phiêu sơn điên.
(Chinh phục hết thảy 10 phương, cờ bay phất phới trên đỉnh núi)
Quân Trà Lợi Minh Vương nói: “Thời giờ đã đến, hãy chinh phục khắp 10 phương, phất cờ xí và cắm trên đỉnh núi.” Quẻ nầy chủ về danh tiếng vang lừng của người xin quẻ, tên tuổi vang vội xa gần như con của chim Kim Sí Điểu đã chiến thắng rồng ác, đang rong chơi trên bầu trời. Danh vọng đã cao, công việc cũng dễ thành công, vì thế quẻ nầy chủ về sự nghiệp thành công, vì thế quẻ nầy chủ về sự nghiệp thành công, danh lợi song thu. Tuy nhiên, bạo phát cũng dễ bạo tàn, tức thì Kim Luân Vương liền chinh phục khắp nợi, cho nên sự nghiệp đó cũng khó để lại cho muôn đời sau. Vì thế mà người xin được quẻ nầy hãy dành một ít cho người khác, không nên chiếm hết toàn bộ lợi ích về tay mình, hãy ban cho người một chút ân huệ, ắt là phước đức sẽ đến. Nếu thường làm việc công đức, hoằng dương Phật Pháp thì điều tốt lành sẽ đến.
GIẢI ĐOÁN:
1. Gia Trạch: Hiện trạng không có gì sai trái, tương lai lại tốt đẹp hơn, tăng nhơn khẩu, người có thai sanh con trai. Con trai đó không đến nổi nghịch ngợm, bướng bỉnh. Khi vận nhà của mình đang lên, hãy để tâm săn sóc kẻ dưới.
2. Tài Phú: Tài sản tiền của sẽ tăng thêm. Không nên ỷ thế mà lăng mạ người khác, nếu làm việc trên thì hậu quả về sau bị ảnh hưởng không ít, trước mắt tuy có được nhiều lợi, nhưng cái được chẳng thể bù được cái mất. Cũng không nên dùng sức mạnh để đấu với người, vì thâu hoạch kết quả rất ít.
3. Mưu Vọng: Phàm có tính toán thì được tốt, nên thành thật ở tốt với mọi người để thu phục họ như thế là tự giúp mình rồi. Nếu dùng uy lực để áp bức hay dụ dỗ, chắc chắn chỉ gặt hái được việc nhỏ, việc lớn không thành ví như cvông việc đã xong được 9 phần chỉ còn 1 phần nữa mà không hoàn tất được. Đôi khi người đàn bà cũng gây sự hiểu lầm.
4. Nhân Sự: Quan hệ nhân sự tốt, tuy có người khác giúp đỡ cũng được tốt.
5. Cừu Oán: Kẻ thù tuy muốn gây cản trở, nhưng cũng thất bại, kiện tụng được thắng, không có thị phi.
6. Hành Nhân: Trên đường đi vui vẻ, hết sức vui mừng, khách sẽ đến ngay, lại có mang tin tức tốt. Tất cả tin tức đều tốt.
7. Tật Bệnh: Nguyên nhân là Phong đại không điều hoà, nên cũng không có trở ngại lớn, trị liệu sẽ hồi phục dần dần, không cần giải phẩu.
8. Ma Sùng: Không có ma sùng quấy phá, nhưng trong nhà có một người nữ thường thấy những điều quái dị. Lý do gây nên việc nầy hoàn toàn do tâm lý tác dụng. Phong thủy tốt, chỉ cần quét vôi (sơn) lại mới một lược là xong, chẳng cần làm thêm gì nữa.
9. Thất Vật: Hãy mau mau đi tìm vật bị mất ở hướng Đông Bắc, thì có thể tìm lại được.
10. Thỉnh Thác: Có nhờ cậy thì được như ý, nhưng đối xử với kẻ dưới lịch sự một chút thì người dưới sẽ tận tâm tận lực giúp mình.
11. Hôn Nhân: Trời tác hợp, nhân duyên sẽ thành tựu. Không có hiềm khích gì với người phối ngẫu. Vợ chồng hoà hiệp, nghe lời nhau. Có người thứ ba cũng không đủ để gây nên tai họa. Hãy tu pháp Cam Lồ Thủy.
12. Kỳ Tha: Ngoài sự liên quan đến đất và nước (Địa đại và Phong đại) ra không hề có một trở ngại nào cả, không cần hao hơi tốn sức mà cũng thành công. Tuy nhiên những công việc liên quan đến Địa đại và Thủy đại tức có gặp trở ngại, nên tìm sự giúp đỡ để giải quyết.
Tín đồ Mật Tông nên tu pháp hộ pháp. Tín đồ Phật giáo nên hướng về đức Thích Ca mà sám hối cầu xin.
Tóm tắt ý nghĩa: Thành công tức thì lại còn có thanh danh. Quẻ nầy thật đúng là “Danh lợi song thu”. Thật là một quẻ tốt.


23. Quẻ 23: Tsa Na (4-5)
Biểu Tượng: Tụ hội quần Ma (Quần Ma tập trung)
Đại Ma La tụ hội,
Phàm sự giai bất tường.
Chiêm giả phùng thử quái,
Mộc đoạn tại trung ương.
Tạm dịch:
Thế giới Ma đang tập hợp lại,
Tất cả mọi sự đều không tốt.
Người xin được quẻ nầy,
Như cây bị chặt tại giữa thân.
Tín hiệu: Cây cỏ bị cắt ngay chính giữa thân.
Người giữ cửa Đông ngoài Thành Đàn Thế Giới đã lớn tiếng gào thét: “Hãy dùng lưỡi liềm mà cắt sạch tất cả các loại cây cối.” Tín hiệu nầy cho biết công việc sẽ thất bại giữa đường, giai đoạn giữa không hoàn tất được. Người xin được quẻ nầy thật là không tốt. Tuy nhiên cũng có nhiều sự việc, Ma do Tâm sanh ra, như hành giả của Mật Tông tu trì Mật pháp, tự nhiên cảm thấy chán nản, nữa đường bỏ tu. Như thế gọi là “Trung Đoạn Ma”, đó cũng do tâm Ma (Tâm) mà thôi. Người xin được quẻ nầy, phải có thành tâm quyết chí, cắt nhưng không bỏ (Tổn hữu dư, bổ bất túc) thì mọi sự việc có thể thay đổi, không nên nản lòng thối chí.
GIẢI ĐOÁN:
1. Gia Trạch: Hiện trạng không được tốt đẹp, cãi cọ phiền não, sanh nhiều khẩu thiệt, hoặc có bệnh nặng đến nỗi tử vong….Đề phòng xẩy thai hoặc sanh non.
2. Tài Phú: Bị thiếu thốn khó khăn, tạm thời chưa có cơ hội thay đổi. Nên tu pháp trừ chướng. Cũng phải nên tính trước tình huống bị thất nghiệp. Đầu cơ là đại bất lợi, thời cơ sẽ mang đến lầm lẫm, sai trái.
3. Mưu Vọng: Tính toán và ước mong đều bất lợi, kế hoạch sẽ đổ vỡ nửa đường.
4. Nhân Sự: Tuy có bạn tốt nhưng họ không thể giúp đỡ được.
5. Cừu Oán: Ở trong thành hoặc hướng Đông của thành, có cừu thù quấy phá, có thể tập kích rất mạnh, nên chú ý hết sức cẩn thận. Kiện cáo bất lợi, khó mà biện minh nổi oan cho mình.
6. Hành Nhơn: Trên đường đi gặp nhiều trở ngại, chi bằng không đến. Khách bị trở ngại và chậm trễ, sau nầy người ta mới hối hận về chuyến đi nầy. Tin tức không đến được.
7. Tật Bệnh: Bệnh nhân bị bịnh đàm có phần nghiêm trọng, giống như loại trúng gió. Chủ về bệnh thuộc hệ thống hô hấp, đưa đến tình trạng khó thở. Thử đổi bác sĩ, nhưng không được mời bác sĩ ở giữa thành phố hoặc phía Đông thành phố vì rất bất lợi. Giải phẫu cũng không giúp ích được gì. Nên hướng về 7 đức Phật Dược Sư mà cầu đảo và trì tụng chú Đại Bi.
8. Ma Sùng: Vì có Địa Thần xâm quấy. Người trấn yểm đã làm một gói đồ màu vàng, một gói đồ hình vuông, hoặc một ngội nhà nhỏ hình vuông. Người đó đã bỏ những món đồ đó vào rồi, nên mình phải nhanh chóng hóa giải ngay. Vật mà người ta bỏ cho cho mình do một người đồng cốt đứng van vái rồi, và qua tay một người đàn bà để đưa đến bỏ ở nhà mình. Người xin quẻ nầy đã ở tại một nơi trước đây mà chưa có người ở, phong thủy quá xấu, nên dời đi nơi khác là tốt nhất. Tạm thời có thể treo chú Quán Âm Thập Nhất Diện đối dịện với cửa ngõ hay cổng vào để hóa giải.
9. Thất Vật: Tiền bạc đã vào tay kẻ vô loại (vô luân thường, đạo lý) tiêu xài. Nếu là đồ vật đã lọt vào tay kẻ tham lam, cả hai tiền bạc và đồ vật bị mất đều không thể tìm hay lấy lại được.
10. Thỉnh Thác: Người được yêu cầu giúp đỡ đã buộc mình phải làm đủ các loại kiến nghị, đến nổi yêu cầu phải quan tâm săn sóc họ vô thời hạn, rồi kết quả chung cuộc cũng chẳng như ý. Người được yêu cầu giúp đỡ đầu tiên là có ý thành thật, nhưng vì bị xúi dục nên giúp đỡ nữa chừng đành nghỉ luôn.
11. Hôn Nhân: Lời thề non hẹn biển cũng trở thành không có. Người phối ngẫu cũng rất dễ xa nhau. Có người thứ ba vào phá. Tình cảm của người thứ ba nầy tuy có nhưng cũng không giữ được làm bền.
12. Kỳ Tha: Ngoài việc trừ tà ác ra đều rất khó thành công. Chỉ có làm việc ác là thành công nhưng cuối cùng lại nhận quả xấu. Tín đồ Mật Tông nên tu pháp Phóng Đa mã, hiến Mạn Đạt, cúng dường Thượng Sư, đồng thời tu pháp Thanh Tịnh Mộc Dục, pháp Trừ Chướng. Còn tín đồ Phật giáo nên hành nghi thức Sám Hối.
Tóm lược ý nghĩa: “Trên đầu bị hòn núi đè nặng” cho nên tất cả mọi sự việc đều phải tạm hoãn tiến hành để tiêu trừ áp lực.


24. Quẻ 24: Tsa Dhi (4-6)
Biểu Tượng: Như Ý bảo thọ (Cây quý Như Ý)
Chiêm đắc Như Ý bảo thọ,
Trị đương vạn sự như ý.
Hung sự diệc năng giải tán,
Chiêm giả cát tường vô lượng.
Tạm dịch:
Xin được quẻ cây quý Như Ý,
Tự nhiên vạn sự đều được như ý.
Mọi chuyện hung dữ đều tan biến,
Người xin được quẻ nầy có cát tường không kể xiết.
Tín hiệu: Khai thành bố công, vạn sự hanh thông.
(Công khai thành thật, mọi việc đều hanh thông.)
Người giữ cửa hướng Đông của Thành Đàn nói rằng: “Bạn đã tiến vào được cung điện vận may.” Vì vậy mà quẻ nầy thật là thuộc vận may, đến lúc vui mừng quá đỗi. Cây quí như cây Như Ý sanh ở trên trời (Thiên giới), nếu có sự cầu xin, cây đó liền có thể ra trái Như Ý. Có thể sanh ra người trời. Tất cả là đại phước báo do cây công đức sanh ra, nên người xin quẻ nầy cũng phải vun trồng công đức, thì sau mới hưởng được quả tốt lành.
Quẻ nầy khuyên rằng nên thành thật khai báo. Nếu người làm ác mà xin được quẻ nầy thì phải thành thật thú nhận tội lỗi và sám hối thì sẽ chuyển họa thành phúc, còn làm trái lại là không tốt. Như vậy nhất định là không nên làm xằng làm bậy thì khỏi phải rắc rối về sau.
GIẢI ĐOÁN:
1. Gia Trạch: Nhà cửa bình yên đầy phước trạch. Mọi sự đều được viên mãn, có điềm vui tăng thêm người. Người có thai bình an. Nếu có sinh non cũng không có hại. Nếu có thể cảm hóa được người trong nhà thì thật là một điều phước đức cho gia đình.
2. Tài Phú: Không nên dùng sức mạnh để giành giật, nước đến đâu thì mương đến đó. Lập nghiệp vụ mới ắt có lợi, không nên cạnh tranh mang tánh xấu ác. Của cải, tiền bạc sẽ dần dần nhnư mầm nẩy mùa xuân, thời cơ đã đến lúc chín muồi.
3. Mưu Vọng: Tất cả mọi toan tính đều được cát tường, chỉ thời gian ngắn tức được thành tựu. Những công việc mà người khác bỏ, bạn cứ nhận lấy mà làm, nhất định thành công không cần do dự.
4. Nhân Sự: Sự hợp tác với nhau lâu dài, ta và người được hòa khí, phát tài, người khác quê hương sẽ đem đến vận khí tốt. Chư Thần bảo vệ, gặp được cơ duyên, vì thế mà cùng với người ta bàn bạc tức gây được sự chú ý hoặc được sự giúp đở đặc biệt.
5. Cừu Oán: Hãy mở rộng lòng mình thì không có một ai là cừu oán cả. Mọi sự cừu oán đều theo tâm hòa giải của bạn mà chuyển biến. Nên tu pháp Cam Lồ Mộc Dục, chuyện thị phi dễ chấm dứt. Kiện tụng có thể thắng (được minh oan).
6. Hành Nhân: Đang đi thì gặp được người bạn tốt, trên đường đi rất vui vẻ. Khách đến ngay lại có mang theo tin tốt.
7. Tật Bệnh: Cứ theo lời dặn của thầy thuốc tức dễ thuyên giảm. Nếu có giải phẫu thì cũng không có trở ngại. Duy chỉ hệ thống sinh đẻ bị bệnh nên có phần khó lành, nên nghỉ ngơi để lấy thời gian mà trị liệu.
8. Ma Sùng: Muôn điều lành vân tập lại, nên 100 thứ xấu cũng chẳng hại được. Phong thủy tốt, nếu cửa chính và đường đi đối xứng nhau thì tốt.
9. Thất vật: Nên tìm đồ vật đã mất tại hướng Đông hoặc hướng Bắc.
10. Thỉnh Thác: Kế hoạch đang làm có phần hơi chậm, nhưng một khi tiến hành chắc chắn được sự trợ giúp trên nhiều phương diện. Phàm có nhờ cậy đều được vui vẻ.
11. Hôn Nhân: Người chưa lập gia đình chắc chắn lập được gia đình. Người đã có gia đình thì được tốt đẹp, không có hiềm khích nhau. Không có người thứ ba xen vào.
12. Kỳ Tha: Mọi sự đều như ý, tốt đẹp. Nếu có tính toán đi làm ăn xa, thì cơ sự có thể hơi bị kéo dài, điều nầy cũng không trở ngại vì kết cuộc rồi cũng như ý muốn. Tín đồ Mật Tông nên tu pháp Tứ Tý Đại Hắc Thiên. Tín đồ Phật giáo nên hướng về ngài Bảo Sanh Như Lai mà cầu đảo.
Ý nghĩa chung: Mang tin tức tốt đẹp và vui vẻ lên đỉnh núi.


25. Quẻ 25: Na-Ah (5-1)
Biểu tượng: Kim Sơn (Núi Vàng)
Hoàng kim vi sơn tại nhản tiền,
Bất đán phong nhiêu thả kiên ổn.
Chiêm giả năng đắc thủ quái tượng,
Đinh thị tiền sanh hữu túc nhân.
Tạm dịch:
Vàng đã tạo nên một hòn núi trước mắt,
Không những vô số mà còn vững chắc nữa.
Người xin được quẻ nầy cũng được như biểu tượng của quẻ,
Nhất định kiếp trước đó đã có đủ nhân duyên.
Tín Hiệu: Bất biến chi cát tường tấn hiệu.
(Tín hiệu tốt không đổi thay)
Tín hiệu tốt lành không thay đổi, nghĩa là được điềm tốt lành đến một cách chắc chắn. So sánh những vận may đã đến với những điều ước muốn thì quá nhiều. Người xin được quẻ nầy đã có đủ thiện nghiệp để hưởng phước báo. Nhà Phật rất coi trọng nhân quả. Tất cả nhân quả căn bản đều do nghiệp lực, nhưng để tạo ra kết quả nghiệp lực cũng có vô số trợ duyên. Như trồng hoa thì phải bón phân, tưới nước, săn sóc, tỉa nhánh, bắt sâu… Do đó muốn có kết quả được mỹ mãn, cũng phải tạo trùng trùng thiện duyên tương trợ. Người được quẻ nầy đừng say sưa mãn nguyện mà nên làm việc thiện, chắc chắn sẽ đạt những điều tốt đẹp lâu bền. Nếu như một khi mà ác nghiệp sanh quả, tức thì các điều tốt lành không còn tồn tại lâu bền nữa.
GIẢI ĐOÁN:
1. Gia Trạch: Gia trạch hưng long không suy sụp, tăng thêm nhân khẩu. Người có thai bình an.
2. Tài Phú: Tiền của tài sản tiếp tục tăng thêm. Sự nghiệp ổn định, có thể phát triển thêm sự nghiệp mới. Nên mở văn phòng địa ốc có thể thâu lợi.
3. Mưu vọng: Phàm có tính toán làm ăn đều được kết quả tốt đẹp, và được chắc chắn lâu bền. Chuyện lớn chắc có chậm trễ một chút, nhưng kết cuộc so với dự tính thì rất tốt.
4. Nhân Sự: Có một người bạn lớn tuổi sẽ tăng phần giúp đỡ. Sự giúp đỡ sẽ nối tiếp nhau không dứt.
5. Cừu Oán: Vì người xin quẻ có sức mạnh nên kẻ thù không thể làm hại đưọc. Chuyện thị phi cũng dễ chấm dứt. Kiện tụng cũng được thắng.
6. Hành Nhân: Trên đường đi gặp chuyện phiền phức như mất đồ, lỡ chuyện… Khách tuy chậm nhưng đến được, tin tức sẽ đến sau, chờ không lâu.
7. Tật Bịnh: Không tai họa, chẳng bịnh hoạn.
8. Ma Sùng: Không có ma sùng nào đến quấy phá cả. Phong thủy tốt, không cần thay đổi, sửa sang lại là tốt, nên dùng các màu sắc tươi sáng để sửa sang. Nên treo chú luân và cờ cầu đảo.
9. Thất Vật: Đồ vật mất chưa lọt vào tay người khác.
10. Thỉnh Thác: Kế hoạch trước mắt phàm đi nhờ cậy người ta giúp đỡ đều sinh chướng ngại về người, hoặc trả lời chậm, nhưng một khi đã tiến hành kế hoạch, tức thì thuận lợi. Những việc đã xin giúp đỡ đều được thàng công.
11. Hôn nhân: Lương duyên do trời tác hợp, nên tình yêu keo sơn. Người phối ngẫu tình cảm rất hòa mỹ. Không có người thứ ba phá rối.
12. Kỳ Tha: Tất cả những điều đã hỏi đều được tốt đẹp. Duy chỉ việc hỏi đường đi làm ăn, buôn bán ở xa, chắc có chuyện trì trệ, nhưng cũng chẳng cần vội vã, cuối cùng cũng sẽ thành.
Tín đồ Mật Tông có thể tu pháp Liên Hoa Bộ, hoặc pháp Mẫu Tục Phẫn Nộ Tôn. Cũng có thể cúng dường Hoàng Tài Thần và Đa Văn Thiên Vương. Tín đồ Phật Giáo hướng về ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát để sám hối và kỳ đảo.
Tóm lược ý nghĩa: Đứng thật vững chắc chẳng lay động. Vì thế mà quẻ nầy nên Tĩnh chớ nên Động. Giữ sự nghiệp cũ tốt hơn là kế hoạch mới. Tất cả mọi sự việc đều đã có cơ sở tốt lành và ổn định.


26. Quẻ 26: Na-Ra (5-2)Biểu tượng: Thiên Ma (Ma Trời)
Ma La Thiên Ma dĩ xuất hiện,
Sở chiêm giai kiến bất cát tường.
Hiệp như hỏa thiêu tân phòng xá,
Chiêm giả nan miễn tân ưu tiễn.
Tạm dịch:
Ma La và Thiên Ma đã xuất hiện,
Những điều xin hỏi đều không tốt.
Giống như ngọn lửa đốt cháy ngôi nhà mới,
Tâm người xin quẻ khó tránh khỏi nổi ưu phiền.
Tín Hiệu: Hy vọng chi hỏa, phần thiêu tự thân.
(Ngọn lửa hy vọng, đốt cháy chính mình)
Trong lúc tuần du ở cửa Tây ngoại thành đàn (Mạn Đà La) Ma Lừa Dối đã nói rằng: “Ngọn lửa hy vọng một khi đã cháy lên tức kết quả đã trái ngược là tự đốt cháy chính bản thân mình.” Vì vậy mà tín hiệu của quẻ nầy không tốt. Ý của quẻ nói rằng: “Con người khi có bất cứ sự mong cầu nào đều đưa đến kết quả trái ngược là sợ hãi và ưu phiền.”
Nhà Phật từ trước đến nay đã nói rằng Vô Minh là gốc rễ dẩn đến luân hồi. Gọi là Vô Minh là vì sự chấp trước về Ta và Người (Ngả, Nhân) hay Ta và Pháp (Ngả, Pháp). Niềm hy vọng đều do sự chấp trước của Tự Ngã mà sinh ra. Vì thế mà ngọn lửa hy vọng có thể đốt cháy tự thân. Người xin được quẻ nầy cũng chưa nếm được vị của đạo lý Không nên có trở ngại cho việc phản tỉnh bản thân mình. Một niềm hy vọng, một sự mong muốn không chỉ cầu một việc tư lợi cho chính mình mà còn cầu cho được những sự tốt lành nữa.
GIẢI ĐOÁN:
1. Gia Trạch: Nhà cửa không yên, sanh nhiều chướng ngại. Chuyện thị phi khẩu thiệt đãphát sanh nhiều do các sự hiểu lầm dẫn đến. Càng muốn thêm người lại càng khó có.
2. Tài Phú: Rất dể dàng đưa đến tổn thất, nhất là đầu cơ. Sự nghiệp cũ vốn đả không yên, lập nghiệp vụ mới lại không dễ dàng. Hãy cẩn thận! Nghiệp vụ có nhiều trở ngại lớn, chủ về cạnh tranh có tánh xấu ác.
3. Mưu vọng: Tất cả mọi sự tính toán, mong cầu mờ mịt như bắt bóng. Có một nam nhân sẽ đem đến nhiều rắc rối, nhưng lại có thể góp được ý tốt.
4. Nhân Sự: Bạn bè cũng giống như đám tro tàn của gấm, lụa vừa đốt xong, rất là mềm yếu. Nên tụng chú Đại Bi để cầu nguyện..
5. Cừu Oán: Cừu oán sẽ tăng phần phá hoại nhất là tại hướng Tây Nam, phải hết sức cẩn thận. Chuyện thị phi có thể tăng nhiều thêm. Kiện tụng sẽ bị thất bại. Nên tụng chú Đại Bi để cầu nguyện.
6. Hành Nhân: Trên đường đi gặp nguy hiểm, tiền bạc và tánh mạng khó bảo toàn. Người khách đang ở trong vùng nguy hiểm, tin tức đã bị thất lạc.
7. Tật Bịnh: Chủ về bịnh đàm, nhiệt, và máu huyết. Bịnh tình ngày càng trầm trọng. Có thể thử đổi thầy thuốc xem sao. Nên tụng chú Đại Bi và treo chú luân của ngài Quán Âm Thập Nhất Diện. Không nên giải phẫu.
8. Ma Sùng: Những vật mà người ta làm cho mình phải kinh sợ đó là những vật có hình tam giác, vật màu đỏ, hoặc là những gói đồ có máu và thịt từ hướng Tây đem đến để hại bạn. Nếu bạn đốt những tạp vật hoặc rác rến ở nhà bếp trong đó có những vật lạ xâm hại bạn sẽ dẫn đến nguy hiểm cho bạn. Phong thuỷ bất lợi, đổi chỗ ở là tốt. Tạm thời có thể treo chú Quán Âm Thập Nhất Diện ở hướng Đông.
9. Thất Vật: Vô phương tìm lại vật đã mất. Không nên phí công.
10. Thỉnh Thác: Do vì chướng ngại đến quá nhiều, nên có nhờ cậy cũng không có kết quả. Sau khi được sự trả lời thì mình lại ân hận. Chỉ nói chơi một lời, mọi việc tốt đều hỏng.
11. Hôn nhân: Người mình yêu không phải là người tốt, không bằng tìm lại đối tượng khác. Người yêu đó, dung mạo thì được, nhưng lòng dạ lại xa cách. Người thứ ba đang chiếm hết ưu thế.
12. Kỳ Tha: Tất cả mọi việc xin hỏi đều không tốt. Muốn làm việc hư hỏng lại trở nên thành công. Nên phải cẩn thận để ý về hậu quả, nhất định chịu đựng sẽ bất lợi, sẽ bị luật pháp trừng trị.
Nên tu pháp Trừ Chướng. Ngoài pháp nầy ra không còn một pháp nào nữa hết. Nếu không biết tự tu pháp nầy thì cũng không được tìm người tu thế cho mình. Cho nên chỉ có cách là đến trước bàn Phật thành tâm sám hối vô lượng tội khiên, đồng thời tụng chú Đại Bi 100 biến.
Tóm tắt ý nghĩa: Đau khổ làm cho người sinh phiền não. Vì vậy mà người xin quẻ nên biết về nghiệp lực và nhân quả, phải tích đức và làm việc thiện để bù đắp lại.


27. Quẻ 27: Na-Pa (5-3)Biểu tượng: Bảo Bình (Bình Báo)
Bảo bình mãn tải định phong thu,
Thử tượng hựu dang như ý ngưu.
Chiêm giả đắc ngưu vi canh khẩn,
Bất lao khí lực bội thu thành.
Tạm dịch:
Bình báu chứa đầy những loại định thu vào,
Biểu tượng nầy lại có tên là Con Trâu Như Ý.
Người xin quẻ được con trâu khai khẩn cày bừa,
Chẳng tốn công sức mà kết quả lại bội thu.
Tín Hiệu: Ký đắc kim bình, hựu đắc Cam Lồ.
(Đã được bình vàng, lại được nước Cam Lồ)
Ngài Bạch Văn Thù Sư Lợi dạy rằng: “Được Bình Báu bằng vàng chứa đầy nước Cam Lồ, mười phần tốt đẹp.” Trong biểu tượng của quẻ nầy nói về bình báu là một trong 8 biểu tượng cát tường của Mật Tông Tây Tạng. Thông thường dùng Bảo Bình để đựng đồ ăn như các loại lúa mạch. Cho đến cả Con Trâu Như Ý cũng là thuộc loại thần vật trong truyền thuyết dùng để cày đất. Người cày có thể được thỏa mản tất cả những điều như ý nguyện. Như nay trong Bảo Bình đã đựng đầy nước Cam Lồ, đương nhiên là điều kiết tường.
Ngài bạch Văn Thù có khả năng hóa giải tai nạn, vì thế mà quẻ nầy làm tiêu trừ tai ách, là một điềm tốt thu hoạch được sự thành công gấp đôi. Trở ngại từ trước không còn nữa, nên từ nay trở đi mọi sự mưu tính đều không phí mất sức lực nữa.
GIẢI ĐOÁN:
1. Gia Trạch: Trong gia đình vui vẻ, sau cơn mưa trời lại sáng. Người đã lâu chưa có con, nay có tin vui sẽ sanh được một cháu gái.
2. Tài Phú: Nghiệp vụ từ đây sẽ rất thuận lợi và hanh thông, tài sản cũng từ đây mà tích tụ lại. Những tổn thất trong quá khứ nhất định sẽ được bù đắp lại. Có thể hợp tác với người để tiến hành kế hoạch mới.
3. Mưu vọng: Trong lòng sinh vui vẻ, không còn những điều bất lợi nữa. Những tính toán trước đây còn có những sự trở ngại, nay thì thuận lợi hoàn toàn. Đàn bà xin được quẻ nầy thì tốt.
4. Nhân Sự: Trở lực nay đã biến thành trợ lực. Chỉ cần mở miệng tức thời thành tựu.
5. Cừu Oán: Không có cừu oán, cũng chẳng bị trộm cướp. Trước đây thì gặp chuyện thị phi rắc rối, những điều đó đã tan thành mây khói.
6. Hành Nhân: Trên đường đi có chút trở ngại nhưng cũng vui vẻ nhiều. Khách đến trễ một chút cũng chỉ vì vui thích, cao hứng. Tin lành sẽ tới.
7. Tật Bịnh: Bệnh nhân từ từ hồi phục. Không cần giải phẫu, không cần đổi bác sĩ.
8. Ma Sùng: Tuy có yêu tinh yểm trấn, nhưng không có hiệu quả. Phong thủy nếu có thể sửa đổi thì tốt hơn. Hãy chú ý đến một vật hình tròn ở hướng Nam hoặc hướng Bắc.
9. Thất Vật: Đối với chổ ở thì ngay ở giữa hoặc phía Đông mà tìm. Đối với địa điểm đối với vật bị mất thì về hướng Nam.
10. Thỉnh Thác: Đối với người được yêu cầu giúp đỡ, nếu họ không tận lực, họ sẽ ân hận. Một lần yêu cầu thì không thành, lần thứ nhì tức được toại nguyện. Nên yêu cầu người vợ vì bà có ảnh hưởng với người chồng.
11. Hôn nhân: Chớ vì những chuyện nhỏ không vừa ý trước mắt mà thối lui. Người yêu còn giữ kẽ chưa thân mật nhưng cảm tình đã phát triển. Người thứ ba sẽ tự động rút lui.
12. Kỳ Tha: Tất cả mọi điều xin trong quẻ đều được tốt lành như ý. Nếu được tiếp nhận pháp Quán Đảnh của Tài Thần càng tốt đẹp hơn.
Tín đồ Mật Tông có thể tu phép “Tượng Vương Kim Cang” hoặc tu “Hộ Pháp Bí mật Cúng Dường” Tín đồ Phật Giáo hướng về ngài Tỳ Lô Giá Na Phật mà cầu đảo, hoặc tụng chú Văn Thù Sư Lợi.
Tóm tắt ý nghĩa: Đất tốt sẽ mọc lên cây Như Ý lớn, vì thế người xin quẻ nầy sẽ được tâm nguyện.


28. Quẻ 28: Na-Tsa (5-4)
Biểu tượng: Sa Khưu (Đụn cát)
Sa khưu trình hiện chẩm phàn đăng,
Tâm nguyện do như phong quyện trần.
Chiêm giả nhược nhiên đắc thử quái,
Đồ lao không tưởng uổng lao tâm.
Tạm dịch:
Đụn cát xuất hiện làm sao mà trèo lên?
Những gì mà tâm đã nguyện giống như gió cuốn bụi trần.
Người xin nếu tự nhiên mà được quẻ nầy,
Đã phí công vào chuyện không tưởng lại còn phải lao tâm.
Tín Hiệu: Kim ốc di vi bình địa.
(Nhà vàng đã sang bằng thành bình địa)
Sứ giả của Ma-La ở hướng Đông Bắc nói rằng: “Ngôi nhà bằng vàng sẽ dần dần bị san bằng và trở về với cát bụi. Vì thế mà quẻ nầy biểu tượng cho sự thất bại. Hãy nhìn lại những sự việc rất thàng công từ trước đến nay có khi cuối cùng lại tan nát thất bại. Vì thế người chiếm được quẻ nầy nên cẩn thận, để tâm theo việc, không nên chủ quan mà khoe khoang. Từ xưa đến nay các hành động đều vô thường, cho nên người đã thành công cũng có thể chỉ một ý nghĩ thoáng qua mà trở nên thất bại, vì không tự chế được một xử sự nhỏ, chung cuộc có thể thành đại nạn. Người xin quẻ nên hiểu ý nầy. Nếu còn giữ cái cũ, hoặc những điều ước muốn, mong cầu đã tiêu tan, hãy chờ thời cơ thì vô sự, nhưng sự nghiệp cũ cũng chẳng sợ hãi lắm.
GIẢI ĐOÁN:
1. Gia Trạch: Gia đạo dần dần đi xuống, chuyện thị phi ngày ngày phát sinh. Có tổn hao nhân khẩu.
2. Tài Phú: Của cải tài sản ngày càng hao mòn. Nếu trong lòng vẫn thủ cựu, phải kiểm thảo những khuyết điểm, khắc phục những việc làm thiếu suy nghĩ để đổi mới. Như thế mới có thể giử được những điều may mắn. Nhất định không nên đầu cơ, cũng như đừng mạo hiểm mà đầu tư.
3. Mưu vọng: Nửa đường làm ăn gặp một sự biến đổi to lớn cuối cùng những sự tính toán không thành. Đừng bao giờ có ý định dốc hết túi đánh ván bài cuối cùng.
4. Nhân Sự: Không nên dựa vào những quan hệ mới, còn những quan hệ cũ thì hoàn toàn bất lực. Đừng tin vào những lời mà người ta vui miệng nói lung tung.
5. Cừu Oán: Có kẻ thù oán xen vào để lấy bớt lợi ích và tài sản. Chuyện thị phi tự nhiên gia tăng. Chuyện kiện tụng đột nhiên trở nên phức tạp, thậm chí đến chỗ thua kiện. Nên tu pháp Cam Lồ Mộc Dục.
6. Hành Nhân: Trên đường đi vẫn bình an, rất đáng tiếc là sau khi đến đuợc mọi sự đều không được như ý. Khách sẽ đến ngay, cũng đáng tiếc là đã mang đến đau thương, phiền muộn. Tin tức sẽ đến ngay nhưng chỉ là tin xấu.
7. Tật Bịnh: Bịnh nhẹ không có hại lắm, có thể bình phục nhanh. Nếu có giải phẫu phải suy nghĩ cẩn thận.
8. Ma Sùng: Tuy không có ma sùng lớn, nhưng cũng đủ để làm cho thân tâm khốn khổ. Đã từng gây ra những vioệc bất thiện nên khiến cho ma sùng phát sinh, nên lập tức sám hối để cầu xin. Nên tu pháp Cam Lồ Mộc Dục. Phong thủy không tốt. Bạn đã từng sửa lại những điểm sai ở đây, nhưng những sửa sang nầy đã làm hư phong thủy
9. Thất Vật: Vật bị mất để càng lâu càng khó tìm lại.
10. Thỉnh Thác: Nhờ cậy ngay thì được như ý, nhưng trên thực tế cũng vô ích mà thôi. Phàm có nhờ cậy, đều có khó khăn. Người ta không thương bạn đâu!
11. Hôn nhân: Có thành công trong việc đi tìm cũng chẳng làm đẹp lòng gia đình. Người phối ngẫu đã biến đổi sự nhớ thương và đã đổi lòng. Người thứ ba không ngừng nghỉ thắt chặt sự thân mật.
12. Kỳ Tha: Những điều đã hỏi đều không có kết cuộc. Chỉ những công việc có tính cách phá hoại có thể nói là thành công. Tín đồ Mật Tông nên hướng về ngài Liên Hoa Sanh Đại Sĩ mà cầu nguyện thật nhiều. Cũng nên tụng Kinh Mai Tàng Kim Tử để tiêu trừ tai chướng. Tín đồ Phật Giáo nên hướng về Bảo Sanh Phật mà kỳ đảo. Có thể thành tâm tụng chú Đại Bi.
Tóm tắt ý nghĩa: “Núi lở tan tành thành cát bụi.” Vì thế mà biểu tượng tợ như không có gì là xấu nhưng thực chất đã nhìn thấy những hao tổn không thấy nằm chờ sẵn bên trong. Người xin quẻ nên hiểu ý nầy.


Còn tiếp


Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2020

NHỮNG NGỘ NHẬN VỀ CẤN SA

Hôm nay tôi muốn thay đổi không khí nên sẽ nói về cần sa và những điều có thể bạn chưa biết hay vẫn thường lầm tưởng. Tôi sẽ cố gắng tập hợp tất cả những dữ liệu có cơ sở nhất để trình bày trong bài viết này. Thử dạo một vòng trên Google đọc các bài viết nói về cần sa ở các trang Việt Nam tôi thấy đa số các bài viết đều không có trích dẫn, căn cứ nguồn gốc xác minh cụ thể nào, một yếu tố tối cần thiết khi viết một bài research, và chỉ cần đọc một hai câu trong đó là thấy không đúng sự thật rồi. Ngay cả trang của những bác sĩ Việt Nam cũng không khác. Wiki Việt Nam thì lèo tèo vài ba câu thông tin. Quá thất vọng nên tôi quyết định là sẽ làm cái mà cả đất nước Việt Nam chưa có ai làm.
[Thuốc là một danh từ đã làm ô nhiễm cái giếng ngôn ngữ. Một trong những lý do mà chúng ta gặp phải vấn đề có liên quan tới thuốc là vì chúng ta không có được một hệ thống ngôn ngữ thông minh để nói về nhiều loại chất, cây cỏ khác nhau, những trạng thái thức thần của tâm trí, những trạng thái êm dịu của tâm trí, những trạng thái hưng phấn kích thích. Chúng ta sẽ không thể hiểu được những vấn đề này và những cơ hội mà nhiều hoạt chất mang lại trừ khi chúng ta biết dọn dẹp hệ thống ngôn ngữ của mình. Thuốc là một danh từ đã được dùng bởi các chính phủ để khiến chúng ta không thể nào có thể tư duy một cách sáng tạo được về các hoạt chất, và tình trạng lạm dụng, và mức cung ứng, vân vân và vân vân.]
“Drugs is a word which has polluted the well of language. Part of the reason we have a drug problem is because we don’t have an intelligent language to talk about substances, plants, psychedelic states of mind, sedative states of mind, states of amphetamine excitation. We can’t make sense of the problem and the opportunities offered by substances unless we clean up our language. Drugs is a word thats been used by governments to make it impossible to think creatively about the problem of substances and abuse and availability and so forth and so on.” - Terence McKenna
Trong tiếng Anh thì chữ drug, danh từ, thường được dịch sang tiếng Việt là “thuốc”. Một danh từ quá chung chung trong ngôn ngữ để nói về tất cả các loại thuốc khác nhau, tích cực lẫn tiêu cực. Đó cũng là ý của McKenna muốn nói ở đây. Chúng ta cần phải hiểu rõ ngay là tất cả mọi loại thuốc bản chất của nó chỉ như những công cụ, không hơn không kém. Mọi công cụ đều có hai mặt như một chân lý thường tình hiển nhiên trong đời. Câu hỏi không phải là công cụ đó như thế nào, mà là cách người ta sử dụng công cụ đó như thế nào. Tiền bạc cũng là một công cụ. Internet, công nghệ, kĩ thuật, kiến thức, sách vở, văn chương, nghệ thuật, truyền thông, chính trị, kinh tế, tôn giáo, triết lý …. tất cả mọi thứ trên đời này đều là những công cụ. Nếu đã xác định được như vậy thì câu hỏi tiếp theo sẽ là chúng ta làm chủ các công cụ đó, hay nó làm chủ chúng ta? Chúng ta tôn nó lên bàn thờ hay chúng ta đặt nó dưới chân làm những bậc thang?

Ảnh: Clowncrack
Dịch/Edit: THDP
Chris Hedges là một nhà văn, nhà báo, phóng viên chuyên viết về chính trị và xã hội. Đồng thời cũng được biết đến với những cuốn sách best sellers của New York Times, và một số cuốn sách khác với những giải thưởng khác nhau.
Có thể sẽ có người thắc mắc không biết tôi có hút cần không mà tại sao lại có hứng thú về vấn đề này. Trả lời ngay luôn là không. Tôi chỉ đang làm nhiệm vụ của một học giả chân chính. Theo tôi thì vấn đề về cần sa này quan trọng hơn là nhiều người tưởng; nó soi ánh sáng vào những ngộ nhận lầm tưởng mà nhiều người có thể đang có và nguồn gốc của những ngộ nhận đó, và tại sao?
“Chất thức thần (psychedelics) bị cấm không phải là vì một chính phủ đáng yêu lo rằng bạn có thể nhảy khỏi cửa sổ từ lầu ba. Chất thức thần bị cấm bởi vì nó làm tan biến đi các cấu trúc nhận định và những kiểu mẫu hành vi cộng quá trình xử lý thông tin đã được xã hội áp đặt. Nó mở bạn ra tới cái khả năng rằng mọi thứ bạn biết đều sai.” – Terence McKenna
Trang Tử có câu, “Khôn cũng chết. Dại cũng chết. Biết thì sống.” Muốn viết chi tiết về cần sa thì tôi nghĩ cũng tốn khoảng ít nhất vài trục trang giấy, nhưng có lẽ là ở cái thời đại sống nhanh sống vội này không ai có đủ thời gian để đọc một lần mấy chục trang, nên tôi sẽ chia ra thành nhiều bài, viết và đăng lên dần dần. Khỏe cho tôi và cũng khỏe cho bạn ;)

Những tác dụng phụ ngắn hạn của cần sa

- Giảm trí nhớ ngắn hạn (short-term memory) (1)(2)(3) – Khô miệng (1) – Giảm khả năng kiểm soát thăng bằng (1) – Đỏ mắt (1) – Tăng nhịp tim (2)(3) – Thèm ăn (2)(3) – Giảm huyết áp (2)(3) – Giảm khả năng tập trung (2)(3) – Hại phổi (4)
Ngoài những tác dụng phụ ngắn hạn nhiều người có thể biết được kể trên, vẫn chưa có được một nghiên cứu y khoa được chính thức công nhận nào cho thấy ảnh hưởng dài hạn của cần sa, đặc biệt là những người sử dụng nó lâu dài. Đề tài này vẫn luôn là một vấn đề được nhiều người tham gia tranh luận lâu nay nhưng kết quả của cuộc tranh luận đó vẫn còn chưa ngã ngũ.

Lịch sử về cần sa

Trung Hoa và Đài Loan

Trong tiếng Trung, chữ cần sa được viết là 大麻, tiếng Việt phiên âm đọc như “tài mà”. Cây tài mà (hay gai dầu) đã được dùng tại Đài Loan để lấy sợi từ khoảng 10000 năm trước [5]. Nhà thực vật học Li Hui-Lin đã viết, tại Trung Hoa “Việc sử dụng cần sa để làm thuốc đã có một giai đoạn phát triển từ rất sớm. Vì loài người xa xưa đã biết dùng hạt cây gai dầu làm thức ăn, việc họ phát hiện ra những tính chất y dược của nó là hoàn toàn bình thường, tự nhiên.” [6]
Cuốn y thư cổ xưa nhất trong y học Trung Hoa còn được truyền lại tới ngày nay vì không biết tiếng Trung nên tôi tạm dịch theo tiếng Anh là Thần Nông Y Thư Kinh Điển (Shennong Bencaojing 神農本草經 (“Shennong’s Materia Medica Classic”)) cũng đã có vài dòng mô tả cây cần sa, cách trồng, và đặc tính của từng bộ phận của cây. [12]

Ảnh: Köhler, 1897
Thần y Hoa Đà (140-208) [7] một vị lương y nổi tiếng thời Đông Hán trong lịch sử Trung Hoa và được xem là một trong những ông tổ của Đông Y, đã được ghi nhận là người đầu tiên biết sử dụng cần sa để làm chất gây mê (anesthetic) [7]. Ông đã thực hiện nhiều ca phẫu thuật với sự trợ giúp của gai dầu Ấn Độ. Thuật ngữ “chất gây mê” trong tiếng Trung được viết là 麻醉, và được người Việt phiên âm đọc là “ma túy”. Chữ “ma” trong “tài mà” (gai dầu, hemp); và “túy” như “túy lúy”, “túy quyền”.
Ngày nay chữ “ma túy” đã bị biến tướng, biến dị, không còn đúng như ý nghĩa nguồn gốc của nó nữa. Người ta dùng nó để gom hết đũa vào một nắm, y như câu nói của McKenna ở trên. Chữ ma túy ngày nay chỉ được hiểu theo một nghĩa duy nhất, chất gây nghiện. Cần sa có gây nghiện không? Đọc tiếp để biết.
Elizabeth Wayland Barber (một tác giả người Mỹ, chuyên gia về vải, giáo sư đã về hưu ngành khảo cổ học và ngôn ngữ tại occidental College. Tốt nghiệp cử nhân khảo cổ học tại Bryn Mawr College và tốt nghiệp tiến sĩ ngôn ngữ học tại Yale University) đã nói rằng các bằng chứng về việc sử dụng cần sa tại Trung Hoa đã chứng minh họ đã có được một kiến thức về các đặc tính của cần sa ít nhất là 1000 năm trước công nguyên, khi từ 麻 (“ma”) đã được sử dụng với cái nghĩa phụ của nó là “tê”, “mê”. “Một loại thuốc rất mạnh, tuy nhiên, đã gợi ý rằng các y sĩ Trung Hoa đã sử dụng tới loại cần sa có tên khoa học là Cannabis Sativa, chứ không phải Cannabis Indica, mạnh đến nỗi nó sẽ khiến bạn mê man bất tỉnh.” [8]

Cannabis Sativa vs. Cannabis Indica
Cần sa là một trong 50 dược thảo cơ bản trong y học Trung Hoa truyền thống [9]. Nó được thầy y kê đơn để trị nhiều loại bệnh khác nhau.
Tất cả mọi bộ phận trong cây gai dầu đều được sử dụng để làm thuốc: những bông hoa đã được phơi khô (勃), hạt (achenia) (蕡), nhân (麻仁), dầu (麻油), lá, cuống, rễ, và nước (juice). Hoa được khuyến khích dùng trong việc điều trị 120 loại bệnh khác nhau, các chứng rối loạn kinh nguyệt, và những vết thương. Tuy hạt có chứa độc tố, nhưng nó khả năng kích thích hệ thần kinh, và nếu dùng quá liều sẽ gây ra ảo giác và chao đảo. Nó được chỉ định cho các chứng bệnh rối loạn thần kinh, đặc biệt là được dùng làm chất gây mê khoanh vùng (local anaesthesia). Nhân, lõi màu trắng của hạt, được dùng cho khá nhiều trường hợp khác nhau, và được xem như thuốc bổ, thuốc giảm đau (demulcent), phục hồi chức năng (alterative), nhuận tràng (laxative), điều kinh (emmenagogue), lợi tiểu (diuretic), chống giun sán (anthelmintic), chất điều hòa (corrective). Chúng được sắc thành từng thang thuốc, trộn với rượu, vo thành viên, và đập dẹp. Một cách rất thông dụng khác để hấp thụ là đơn giản chỉ cần nuốt trực tiếp cái nhân đó. Người ta nói rằng những ai tiêu thụ thường xuyên thì da dẻ của họ sẽ săn chắc hơn và ít nếp nhăn. Nó còn được dùng để trị nội thương những ca tiêu chảy, băng huyết, giai đoạn hậu sản, ngộ độc củ ấu tàu, ngộ độc thần sa (vermilion), táo bón, và nôn mửa không ngừng. Nó còn được dùng để trị các bệnh ngoài da như đau răng, mọc răng, lở loét, bệnh chốc đầu (favus), trày xước, rụng tóc. Dầu cần sa cũng có thể trị rụng tóc, ngộ độc lưu huỳnh, khô cổ họng. Lá cần sa được xem là có độc, tuy nhiên khi được ép thành nước thì thứ nước đó sẽ được dùng để trị giun sán, bọ cạp chích, rụng tóc, và chống bạc. Đặc biệt, nó còn được biết đến với khả năng ngăn ngừa những căn bệnh có tính tái phát. Cuống, hay vỏ cây được xem như có thể giúp lợi tiểu, và được kết hợp với những loại thuốc khác để trị sỏi thận. Nước ép từ rễ cũng được dùng trong các mục đích tương tự, và có nhiều ích lợi trong việc bảo vệ cuống nhau và tình trạng xuất huyết hậu sản. Ngoài ra người ta còn cất sắc cần sa để làm thành một thứ nước giảm đau, giải khát và ngăn tiêu chảy, xuất huyết. [10]

Cần sa có gây nghiện không?

Tiến sĩ Jack E. Henningfield của NIDA, Hoa Kỳ (National Institute on Drug Abuse – Viện Phòng Chống Lạm Dụng Thuốc Quốc Gia) đã xếp hạng mức độ gây nghiện của 6 loại chất từ mạnh nhất tới thấp nhất. Cần sa được xếp hạng thấp nhất, thấp hơn cả chất caffeine có trong cà phê, thấp hơn cả rượu bia. Danh sách đó như sau: [11] 1. Nicotin 2. Heroin 3. Rượu bia 4. Cocaine 5. Caffeine 6. Cần sa
[Nếu cụm từ “Quyền được sống, tự do, và mưu cầu hạnh phúc.” không bao gồm quyền được trải nghiệm thần thức của một người, vậy thì Bản Tuyên Ngôn Độc Lập không xứng đáng với loại giấy được làm từ gai dầu mà người ta đã dùng đã viết trên nó.]
[Nếu cụm từ “Quyền được sống, tự do, và mưu cầu hạnh phúc.” không bao gồm quyền được trải nghiệm thần thức của một người, vậy thì Bản Tuyên Ngôn Độc Lập không xứng đáng với loại giấy được làm từ gai dầu mà người ta đã dùng để viết trên nó.] – Terence McKenna


ST
http://nguyenhoanghuy.com/2013/07/22/nhung-ngo-nhan-lam-tuong-ve-can-sa/

Thứ Tư, 15 tháng 4, 2020

THỤT XE



Có một ví dụ rất hay để hiểu được ý nghĩa của giảm xóc (hay phuộc nhún) đó là: Chim đà điều luôn giữ thẳng đầu và mình mặc dù nó chạy rất nhanh lên đến 60km/h trên mặt đất gồ ghề. Đà điểu làm được như vậy là do đôi chân có các khớp nối uyển chuyển giữ cho thân mình phía trên luôn ổn định.
Giảm xóc xe máy có chức năng kép đó là:
1) Đóng góp vào khả năng lái và khả năng phanh (thắng) của xe. 
2) Đem đến sự an toàn và êm ái bằng cách tách biệt một cách tương đối giữa người lái những chấn động, xóc, ồn ào dội từ mặt đường.

Hiện nay phutungchinhhieu.com nhận được rất nhiều câu hỏi về hiện tượng giảm xóc của xe máy bị kêu “cụp cụp” sau khoảng 1 năm sử dụng. Khi xe chở hai người thì có cảm giác rất xóc khi qua các ổ gà hay các gờ giảm tốc trên đường. Kèm theo đó là cảm giác bánh xe không còn bám đường, đuôi xe “bê” hay sàng khi ôm cua.
Để giải quyết được vấn đề các bạn cần tìm hiểu về cấu tạo của phuộc. Về cơ bản phuộc có 2 phần chính là lò xo ngoài để chuyển động đàn hồi theo những chấn động của bánh xe và phần ti phuộc + ống phuộc có chức  năng hấp thụ nhữn
Chúng ta hãy xem cấu tạo của phuộc theo xe như hình vẽ bên trái. Phuộc “zin” gồm một ống phuộc (mono tube) có chứa dầu và 2 piston ở bên trong và một 1 van di chuyển lên xuống để hấp thụ lực. Ở những nước có điều kiện khí hậu nóng ẩm như Việt Nam, dầu sẽ bị nóng lên đồng thời xuất hiện bọt khí làm choáng chổ khoang dầu sau một thời gian sử dụng. Thể tích dầu tăng lên trong khi thể tích khoang chứa dầu vẫn vậy. Hậu quả là đường chạy của piston bị giảm xuống rõ rệt, chiều dài hành trình giảm xuống, phuộc mất khả năng giảm xóc. Khi bọt khí xuất hiện nhiều chúng có xu hướng trào ra ngoài kéo theo dầu gọi là hiện tường xì dầu (leaking). Ngoài ra khi bụi cát hay làm cho xước ty phuộc, phuộc cũng bị xì dầu thì mất khả năng hấp thụ lực.
Chính vì vậy những nhà sản xuất phuộc độ như YSS đưa đến cho khách hàng lựa chọn khác cho khách hàng đó là phuộc hai ống (twin tube). 


Ở phuộc độ YSS có ống xy lanh nằm ở trong ống phuộc và piston (ti phuộc) di chuyển ở trong ống xylanh này. Phuộc sẽ có 2 khoang: 1 khoang chứa dầu và một khoang chứa khí ni tơ. Khi dầu nóng lên sinh bọt khí sẽ hòa vào khoang chứa khí ni tơ ở bên ngoài và hành trình của phuộc vẫn được đảm bảo. Ở những loại phuộc YSS cao cấp như C Euro, G Euro hay X series được trang bị một ống chứa khí ni tơ riêng để tránh các va đập làm ảnh hưởng đến đường chạy piston và khả năng hấp thụ lực của phuộc. Xem thêm thông tin phuộc YSS tại đây.

Một số câu hỏi về phuộc:
Q: Tại sao các nhà sản xuất xe máy không sử dụng phuộc Twin Tube mà sử dụng phuộc Mono Tube?
A: Thông thường đối với các dòng xe máy phổ thông, để có giá thành hợp lý, các nhà lắp ráp xe máy sử dụng loại phuộc Mono Tube. Tuy nhiên ở những dòng xe đắt tiền như Spacy hay SH thì được trang bị Twin Tube.
Q: Phuộc của tôi bị xì dầu, có thể phục hồi lại được không? Phục hồi phuộc ở đâu?
A: Các loại phuộc cho xe ga và xe số trên thị trường đa số là dùng loại Mono Tube. Bạn vẫn có thể phục hồi được phuộc khi bị xì dầu. Bạn có thể đến các cửa hàng chuyên phục hồi phuộc hoặc có thể đến trạm sửa chữa của phutungchinhhieu.com để xử lý. Cách làm là thay phốt mới và bơm dầu mới để phục hồi khả năng hấp thụ lực và đảm bảo hành trình chạy của piston.
Q: Phutungchinhhieu.com hãy cho biết ưu nhược điểm của YSS Thailand và các loại phuộc độ khác trên thị trường?
A: YSS là một nhà máy cơ khí chắc chắn là lớn nhất của Thailand cho đến thời điểm hiện nay. YSS được ưa chuộng không chỉ ở Châu Á mà còn được lựa chọn để độ xe ở Châu Âu, Mỹ, Canada. Chúng tôi tin rằng YSS sẽ đem lại lợi ích tốt nhất cho người tiêu dùng Việt Nam về cả chất lượng và kiểu dáng. Chúng tôi tự hào là nhà nhập khẩu chính thức từ YSS Thailand và có chế độ bảo hành 1 năm cho khách hàng khi mua phuộc YSS.
Q: Tôi dùng YSS cảm giác như cứng hơn phuộc “zin”, có phải như vậy không?
A: Phuộc YSS với lò xo lớn, Twin Tube (2 ống phuộc lớn) sẽ cải thiện làm xe của bạn chắc chắn hơn, tăng khả năng lái và khả năng thắng (phanh) của xe. Việc này làm xe “chắc” chứ không phải là “cứng”. Có thể cảm giác của bạn đã quen với phuộc “zin” lò xo yếu và nhỏ. Bạn sẽ cảm nhận cảm giác giảm xóc tuyệt vời khi xe chạy qua các ổ gà hay gờ giảm tốc, khi bạn chạy tốc độ cao hay khi ôm cua. Ở những dòng phuộc cao cấp của YSS bạn có để điều chỉnh lò xo ngoài nặng nhẹ theo nhu cầu.
Để khách hàng hiểu rõ hơn về hệ thống giảm xóc và cảm nhận được dòng sản phẩm phuộc YSS tốt nhất thị trường hiện nay. Công ty Thiên Nhẫn xin gởi đến toàn thể quý khách hàng, chương trình giảm giá đặc biệt 15% cho tất cả các loại phuộc YSS do công ty độc quyền phân phối. Riêng phuộc YSS Xseries giảm giá đến 30%. Ngoài ra, khách hàng sẽ được lắp ráp miễn phí tại Trạm dịch vụ TpHCM: 168/80 Lê Thị Bạch Cát, P.11, Q.11, TP.HCM.