Translate

Thứ Hai, 15 tháng 3, 2021

KỲ MÔN ĐỘN GIÁP BÍ KÍP ĐẠI TOÀN- P3


Phép ẩn náu giấu hình

Ngũ Tử Tư nói:
Ví muốn ẩn náu giấu hình, nên cưỡi Thanh long (sáu Giáp), trải Bồng tinh (sáu Ất), qua Minh đường (sáu Bính), nép Thái âm (sáu Đinh), ra Thiên Môn (sáu Mậu), vào Địa hộ (sáu Kỷ), đánh Thiên hình (sáu Canh), dứt (phán) Thiên Đình (sáu Tân), buộc Thiên lao (sáu Nhâm), lấy cỏ bẻ một nửa che mình, một nửa vào Thiên tàng (6 Quý), từ dưới Thiên tàng chạy về phương Nguyệt yểm (tháng Giêng ở Tuất, mỗi tháng chuyển ngược), có thể giấu thân. Nguyệt yểm với Thiên hỷ cùng.
Giả như ngày Sáu Giáp, giờ Giáp Tý, muốn nép giấu, Sơ khởi từ Giáp Tý, trải Sửu, qua Dần, Phục Mão, ra Thìn, vào Tị, lấy cỏ bẻ nửa che thân, đặt đất Mão, vào đất Dậu, thì ra vào không ai thấy.
 Qua Thái âm thì chú rằng:
 Trời bay đất úp, chín lối đều tắc,
 Người đến Bách ta. Đến đây là cực.
 Nhìn ta thì mù. Dưới ta thì chết,
 Ta vâng Cửu thiên huyền nữ đạo màu nguyên quân luật lệnh.
(Thiên phiên địa phú, Cửu đạo giai tắc, Hữu lai bách ngã. Chỉ thử nhi cực. Thị ngã giả manh, truy ngã giả vong. Ngô phụng cửu thiên huyền nữ, đạo màu nguyên quan luật lệnh).
Chú xong nhẹ nhàng vào Thiên tàng, chớ có ngoảnh lại. Canh là Thiên ngục, Tân là Thiên đình, Nhâm là Thiên lao đều nên tránh. Đừng có hướng đến mà bị bắt trói.

PHÉP KỲ MÔN BAY TRÊN ĐẨU

Khi gặp việc gấp, không được Kỳ môn, dùng phép này cũng diệu. Khi bay trên Đẩu, chân bước tay khoa, miệng đọc chú rằng:
Trời tròn đất vuông : Thiên vi địa phương-Chủ phương này, bản nguyên viết là Bộ).
Sáu luật chín chương :Lục luật Cửu chương.
Ra đi đại cát : Xuất hành đại cát
Giữ mãi an khang : Vĩnh bảo an khang
Quét trừ hung ác : Tảo trừ hung ác
Loại bỏ tai ương : Tước khứ tai ương
Người đuổi đến ta : Nhân lai truy ngã
Che hai mắt nó : Yếm kỳ lưỡng mục
Ngựa đuổi đến ta : Mã lai truy ngã
Bẻ gãy bốn vó : Chiết kỳ tứ túc
Xe đuổi đến ta : Xa lai truy ngã
Chặt vành bánh nó : Đoạn kỳ luân bức
Việc cầu như ý : Sở cầu toại ý
Điều mong vừa lòng : Ham nguyện tòng tâm
Ta vãng Cửu thiên huyền nữ: Ngọ phụng Cửu Thiên Huyền Nữ
Kíp Kíp như luật lệnh sai    : Cấp cấp như luật lệnh sắc.




PHÉP CHÂN NHÂN BẾ LỤC MẬU

Khi xuất quân phải nghỉ nên, cần phải yên doanh, hạ trại, tránh họa, trốn nạn, nên dùng phép này thì quỷ thần cũng không dám phạm gần

BÙA CHÍN TINH 8 MÔN

Phép này, lấy đất phương sáu Mậu trong tuần. Dùng dao khởi từ Quỷ môn vòng về bên trái, vạch đất một vòng. Rồi lấy đất ở trung ương một đấu, chia đặt sáu nơi trên sáu Mậu, mỗi nơi để một thăng, còn dư thì để vào nơi lấy dao đào đất trước. Vào trung ương mà chú rằng:
Dương nơi đỉnh thái : Thái sơn chi dương
Âm non ở Hằng : Hằng sơn chi Âm
Đạo tặc không dấy : Đạo tặc bất khởi
Hổ lang không xâm. : Hổ lang bất xâm
Thành quách không vẹn : Thành quách bất hoàn
Đóng lấy then vàng : Bế dĩ kim quan
Ngàn hung muôn ác : Thiên hung vạn ác
Không dám đến can : Mạo chi cảm can
Kíp kíp như luật lệnh : cấp cấp như luật lệnh
Chú xong vào trung ương nghỉ, đừng cho ra vào. Sáng hôm sau, lúc ra đi lấy dao gạt tan đất đi mà ra. Nếu không gạt đất đi, thần ấy không dám đi (Sáu Mậu tức Cương thần).
Muốn nghiệm phép Lục Mậu, đau mẹ con con nghé, để trâu mẹ ở trong, nghé con ở ngoài không dám vào. Muốn để thần đi, gạt bỏ đất một Mậu, Nghé sẽ theo chỗ trống ấy mà vào.
Tuần Giáp Tý là Mậu Thìn. Tuần Giáp Tuất là Mậu Dần
Tuần Giáp Thân là Mậu Tý Tuần Giáp Ngọ là Mậu Tuất.
Tuần Giáp Thìn là Mậu Thân. Tuần Giáp Dần là Mậu Ngọ.



PHÉP VŨ BỘ
(Khi làm việc đều nên Vũ bộ = Bước Vũ)
Mới đầu rời một bước không ở trong số 9 bước. Mỗi bước 7 xích, hợp thành 2 trượng 1 xích, cho nên nói thấy vết bước Vũ mà thành Quái Nhiếp Tế.
Đứng ngay, chân phải để trước, chân trái để sau. Rồi lại bước chân trái, rồi lại bước chân phải, lấy chân trái theo chân phải là đủ một bước Vũ.
Rồi trở lại chân phải, lại đến chân trái trước, gồm đủ 2 bước vũ.
Rồi trở lại chân trái trước, lại đến chân phải trước. Đến chân trái phải, gồm đủ 3 bước vũ.

Vũ bộ cương CỤC NGỌC NỮ PHẢN BẾ

Kinh nói:
Cục Ngọc Nữ phản bế, trong nhà, trong sân thì dùng 6 bước, ngoài đồng ruông thì dùng 60 bước, tùy theo đất rộng hẹp mà liệu dùng, đều lấy 6 làm cơ. Trước định số xong, rồi tay trái năm 6 con toán. Mỗi con taosn dài 1 xích 2 thốn. Hớp một ngụm vượng khí, đập răng 12 lượt mà chú thầm trong lòng về việc mong muốn. Rồi sau quay mình, lựng tựa vượng khí mà kêu cầu rằng:
Duy Năm X tháng X ngày X : Duy Nở niên, Nở Nguyệt, nở Nhật
Giờ X. Cầu xin trời đất cha mẹ : thời. Khải Thiên Địa Phụ Mẫu
Sáu Giáp, sáu Đinh, 12 thần thời : Lục Giáp, Lục Đinh, thập nhị thời thần
Thanh long, Bồng tinh, Minh đường : Thanh long, Bồng tinh, Minh đường
Ngọc Nữ trên trời, thần sáu Mậu. : Thiên thượng Ngọc Nữ, Lục Mậu chi thần.
Tôi mong học thuật trường sinh : Mỗ hiếu học trường sinh chi thuật
Làm không chọn ngày, đi không chọn giờ  : hành bất trạch nhật, xuất bất trạch thời
Nay muốn đi đến sứ X, làm việc K : Kim lục du hành mỗ sứ, vi cơ sự
Mong nhờ Đại thần giúp đỡ : Lục lại đại thần sỷ hựu
Gắng ám ở Thiên môn (cửa trời) : cần án thiên môn
Vạch địa số cục, ra thiên môn : Hoạch địa số cục, xuất thiên môn
Vào địa hộ, khép then vàng : Nhập địa hộ, bế kim quan
Theo ngọc nữ, mong thỉnh Ngọc nữ : Thừa Ngọc nữ. Cấn thiết Ngọc nữ
Thanh long, Chu tước, Bạch hổ : Thanh long, Chu tước, Bạch hổ
Huyền vũ, Câu trận, Lục hợp : Huyền vũ, Câu trận, Lục hợp
Lục Giáp, Lục Đinh, 12 thời Thần : Lục Giáp, Lục Đinh, thập nhị thời thần
Theo tôi đi đến xứ X làm việc K : thừa ngã nhi hành chĩ mỗ xứ, vi mõ sự
Trái phải phòng gần bên cạnh : Tả hữu cận phòng.
Theo đi, theo làm, theo ngồi theo dậy : tùy hành tùy công, tùy ngọa tùy khởi
Loại trừ trộm cắp quỷ ma mất tiêu : tị trừ đạo tặc, quỷ mị tiêu vong.
Quân tử mà gặp, vui vẻ bội phần : Quân tử kiến chi, hỷ lạc bội thường
Tiểu nhân gặp tôi, vui mừng hớn hở : tiểu nhân kiến ngã hoan hỷ hoàng hoàng
Nam nhi gặp tôi, đem thết rượu thịt : Nam nhi kiến ngã, cộng tương tửu tương
Trăm ác quỷ tặc, đương ta thì vong : Bách ác quỷ tặc, đưỡng ngã giả vong
Hôm nay bước Vũ, trên ứng Thiên cương : Kim nhật Vũ bộ, thượng ứng Thiên cương
Ngọc nữ chờ bên, dẹp hết không hay : Ngọc nữ thị bằng, hạ kích bất tường
Muôn tinh ép phục, hướng đi không ương : Vạn tinh yếm phục, sở hướng vô ương
Trị bệnh phải khỏi, công đâu đạt đấy : Sở trục bệnh sai, sở công giả đạt
Kích đâu phá đó. Đẩy thì phải đổ : Sở kích giả phá, sở suy giả khuynh
Cầu thì phải được, nguyện thì phải thành : Sở cầu giả đắc, sở nguyện giả thành
Đế vương đại thần, hai ngàn thạch trưởng lại: Đế vương đại thần nhị thiên thạch trưởng lai
Thấy ta mến như con đỏ : kiến ngã giả, ái như xích tử
Hôm nay triệu thỉnh Ngọc nữ sáu thần : Kim nhật triệu thỉnh Ngọc nữ Lục thần
Theo ta mà tiến : tùy ngã sở tiến.
Mỗi khi ra đi dùng việc, mà không được phương cát, giờ cát thì có thể dùng phép này. Tiện vạch bát quái đồ cục, hãy định Đông Tây Nam Bắc trong 10 Can, 12 thần, 4 góc.

CHÚ BỘ ĐẨU

(Mỗi rời một bước, đọc chú một câu)
Chú rằng : Chú viết
Khí trắng hỗn độn tưới ngả hình : Bạch khí hỗn độn quán ngã hình
Bước vũ theo nhau hợp Đăng minh : Vũ bộ tương thôi hợp Đăng minh
Thiên hồi Địa chuyển bước bảy tinh : Thiên hồi Địa chuyển bộ Thất tinh
Bước Cương, giẫm Đẩu. Đều chín Linh : Nhiếp Cương, Lý Đẩu tề Cửu tinh
Ngón trỏ phục yêu, chúng tà kinh : Á chỉ phục yêu, chúng tà kinh
Chúng tai tiêu diệt, ta còn trường : Chúng tai tiêu diệt, ngã trường
Ta được trường sinh! : Ngã đắc trường sinh
Ta được trường sinh! : Ngã đắc trường sinh
Chí tâm kiến thành, bước sao Đẩu xong, thi niệm chú này:
Sáu Giáp chín chương : Lục giáp cửu chương
Trời tròn đất vuông : Thiên viên địa phương
Bốn mùa năm hành : Tứ thời ngũ hành
Xanh đỏ trắng vàng : Thanh, xích, bạch, hoàng
Thái ất là thầy : Thái ất vi sư
Nhật nguyệt sáng choang : Nhật nguyệt vi quang
Bước vũ soi đường : Vũ bộ trị đạo
Suy Vưu lánh binh : Suy Vưu tị binh
Thanh long quanh xe : Thanh long phù cốc
Bạch hổ che đường : Bạch hổ phục hành
Huỳnh hoặc dẫn bước : Huỳnh hoặc tiền dẫn
Trừ những bất tường : Tị trừ bất tường
Bắc Đẩu đánh giết : Bắc Đẩu chu phạt
Sạch hết tai ương : Khứ giang hung ương
Năm thần theo ta : Ngũ thần tòng ngã
Đi khắp tám phương : Chu du bát phương
Đương ta thì chết : Đưỡng ngã giả tử

Ghét ta thì thì thương : Tật ngã giả vong
Xã tắc hai bên : Tả hữu xã tắc
Trộm cắp ẩn núp : Khấu đạo phục tàng
Đi thì có mừng : Hành giả hữu hỷ
Ở thì có phước : Lưu giả hữu phúc
Muôn thần hộ ta : Vạn thần hộ ngã
Mãi trừ trộm cắp : Vĩnh trừ đạo tặc
Kíp kíp như luật lệnh : Cấp cấp như luật lệnh 

Cách bầy địa cục
Đồ hình cách bầy địa cục

Kính thỉnh phương Đông Công tào, Thiên xùn, Thiên Cương, Thanh đế Đại thần, Giáp Ất đại thần, giáng vào cục này gìn giữ thân ta.
Phương Nam: Thái ất, Đằng quang, Tiểu cát, Xích đế đại thần, Bính Đinh đại thần, giáng vào cục này, gìn giữ thân ta.
Phương Tây: Truyền tống, Tòng khôi, Hà khôi, Bạch đế đại thần, Canh Tân đại thần, giáng vào cục này, gìn giữ thân ta.
Phương Bắc: Đăng minh, Thần hậu, Đại cát, Hắc đế đại thần, Nhâm Quý đại thần, giáng vào cục này, gìn giữ thân ta.
Đã thỉnh thần 4 phương xong, lấy từ ngày hôm nay, trên nhật thần hạ một con toán. Như gặp ngày Tý thì ttreen Tý hạ con toán 1, trên Sửu hạ con toán thứ 2, trên dần hạ con toán thứ 3, trên Mão hạ con toán thứ 4, trên Thìn hạ con toán thứ 5, trên Tị hạ con toán thứ 6....Bốn ngày Trọng, Địa hộ không thành thì mới đầu hạ con toán 1, an trên Thìn, có xung là xung Mệnh trị nhiên thành môn Ngũ văn thuật (câu này bản nguyên viết: Sở xung khước dĩ xung mệnh khởi tự nhiên thành môn ngũ văn thuật
Chú rằng:
Chuột đi vào hang, chó vào chợ, rồi rời con toán, an trên Tuất hô lớn Thanh long nhập hạ!
Lại chú rằng:
Trâu vào chuồng thỏ ăn ngon ngọt, rồi rời con toán 2 trên Sửu, an trên Mão, hô lớn Chu tước Hạ!
Lại chú rằng:
Hổ mạnh đăm đăm................................, rồi tời con toán 3 trên Dần, an trên Tị, hô lớn Câu trận Hạ!
Lại chú rằng:
Thỏ vào chuồng trâu nép không dậy, rồi rời con toán 4 trên Mão, an trên Sửu hô lớn Bạch hổ Hạ.
Lại chú rằng:
Rồng vào lán ngựa khốn không còn, rồi rời con toán 5 trên Thìn, an trên Ngọ, Hô lớn Huyền vũ hạ!
Lại chú rằng:
Rắn bay uyển chuyển tới trong Thân rồi rời con toán 6 trên Tị, an trên Thân, hô lớn Lục hợp hạ.
Nếu là ngày Ngọ thì đặt con toán 1 trên Ngọ. Trên Mùi đặt toán 2, trên Thân đặt toán 3, trên Dậu đặt toán 4, trên Tuất đặt toán 5, trên Hợi đặt toán 6.
Lại chú rằng:
Ngựa vào suối Rồng uống nước giếng, rồi rời con toán 1 trên Ngọ, an trên Thìn, hô lớn: Thanh long hạ.
Lại chú rằng:
Dê kêu rời Mùi vào trong Dậu, rồi rời con toán 2 trên Mùi, an trên Dậu, hô lớn: Chu tước hạ.
Lại chú rằng:
Vượn hầu chăm chắm chạy Hợi Bắc, rồi rời con toán 3 trên Thân, an trên Hợi, hô lớn: Câu trận hạ.
Lại chú rằng:
Gà bay tan tác trong chuồng Dê, rời con toán 4 trên Dậu, an trên Mùi, hô lớn: Bạch hổ hạ.
Lại chú rằng:
Chó vào hang chuột bắt chuột con, rồi rời con toán 5 trên Tuất, an trên Tý, hô lớn: Huyền vũ hạ.
Lại chú rằng:
Lợn vào hang Hổ tự lấy chết, rồi rời con toán 6 trên Hợi, an trên Dần, hô lớn: Lục hợp hạ.
Bầy toán xong. Thành: trước là Thiên môn, thành sau là Địa hộ. Không thành thì đem toán sơ đặt làm con toán 7, gọi bảo là thành ở phương vị nào.
Đứng cầm toán chú rằng:
Kiền tôn diệu linh : Kiên tôn diệu linh
Khôn thuận trong doanh : Khôn thuận nội doanh
Hai nghi giao thái : Nhị nghi giao thái
Cẩn hợp lợi phối : Yểu hợp lợi phối
Vững trời giẫm đất : Trinh thiên lý địa
Mãi yên đẹp thanh : Vĩnh minh tú thanh
Cảm ứng nguyên hoàng : Cảm ứng nguyên hoàng
Trên áo dưới quần : Thượng y hạ thường
Tốn Ly Khôn Đoài : Tốn Ly Khôn Đoài
Giúp đỡ vun bồi : Dục tán phù tương
Kiền Khẩm Cấn Chấn : Kiền Khẩm Cấn Chấn
Bước Hổ lượn Rồng : Hổ bộ Long tường
Hôm nay làm toán : Kim nhật hành toán
Ngọc nữ chờ bên : Ngọc nữ thị bàng
Gặp gấp thì giúp : Hữu cấp tương trợ
Nên phụ đỡ cùng : Đương phụ phù khuông
Đuổi ta thì tử : Truy ngã giả tử
Bắt ta thì vong : Bộ ngã giả vong
Chàng Ngưu nàng Chức : Khiên Ngưu Chức nữ
Hóa làm biển sông : Hóa vi hải giang
Kíp kíp như luật lệnh : Cấp cấp như luật lệnh.
Ngọc nữ đi theo trái 3 con 4 duy. Ngày Tý bắt đầu đi từ Thìn, hết vòng trở lại. Bên Ngọc nữ mà đi, lúc đi có chú. Nếu hô Ngọc nữ sở tại. Như tại trên Canh thì chú:
Ngọc nữ trên Canh đến ngay hộ ta, đừng để trăm quỷ làm thương ta. Người không thấy ta. Kẻ thấy ta hãy bó que lại. Riêng mở cửa cho ta và đóng cửa kẻ khác vào Địa hộ. Kíp kíp như luật lệnh.
Tức thì mở cửa mà đi, chớ có ngoảnh lại.
Khi muốn làm mọi chuyện như đi xa, đến gặp Quý nhân, thượng quan phó nhậm thi fra Địa hộ, vào Thiên môn, bên Ngọc nữ mà đi, chú rằng:
Thiên môn! Thiên Môn
Hôm này tốt tướng
Ngọc nữ chờ ta
Tả Hữu hai bàng
Đi lại bốn phương
Ngày ra sáu Giáp
Không gặp tai ương
Quân tử mà gặp
Vui vẻ lạ thường
Điều cầu như ý
Muôn việc cát sương
Cấp cấp như luật lệnh.
Khi muốn vào trận chộp bắt thì ra Thiên môn, vào Địa hộ, bên Ngọc nữ mà đi. Chú rằng:
Ừ! Ừ Phải phải!
Đi không chọn ngày
Lại không chọn giờ
Theo dấu Đẩu trỏ
Cùng người nhũng nhu
Trời đất sấp ngửa
Ở giữa mà chờ
Đều được như ý
Khiến nó mê hoặc
Lấy Đông làm Tây
Lấy Nam làm Bắc
Nó biết được ta
Khiến nó mê không trông thấy
Cấp cấp như luật lệnh
Lấy màn che của mà đi (Đều một lòng kính thành, ba lần ca Ngọc nữ). Bên Ngọc nữ chú rằng:
Ngọc nữ ! Ngọc nữ
Thần trời rất linh
Hộ ta, giữ ta
Cùng ta, truyền ta
Đi đến xứ X
Ảo ảo mờ mờ
Không thấy được hình
Người không nhận được người
Quỷ không nhận được tinh
Ưa ta thì phúc
Ghét ta gặp ương
Trăm tà Quỷ tặc
Đương ta thì chết
Trọc ta thì vong
Ngàn vạn con người
Thấy ta vuii vẻ
Cấp cấp như luật lệnh
Lấy dao vạch đất, cấm hẳn mọi ác. Niệm chú, đập răng bảy lần để ứng vói Bắc đẩu, Thiên cương. Tai phải cầm dao vạch đất và chu rằng:
Bốn dọc năm ngang
Muôn ác tiêu tan
Ta đi ngàn dặm rồi lại
Muôn dặm rồi về
Ngăn ta thì chết
Mắng ta thì vong
Tự chịu lấy ương
Cấp cấp như luật lệnh.

Thứ Hai, 15 tháng 2, 2021

KỲ MÔN ĐỘN GIÁP BÍ KÍP ĐẠI TOÀN- P2


Sáu Giáp lợi dụng
Kinh nói:
Khi có việc dùng, trăm việc đều hướng về phương sáu Giáp, hô tên thần, đi 60 bước, chuyển tả vào trong Thái âm, lại hô tên thần Thái âm thì vào Quý nhân được vui mừng, gặp trận thì thắng.
Tuần Giáp Tý, tên Thần là Vương Văn Khanh. Khi đăng đàn bái tướng, Tướng lệnh chịu nhận binh phù. Khi nguyên soái định kế khởi binh, phát lương trữ….đều hướng về phương ấy, hô danh  thần ấy, đi 60 bước, chuyển tả, vào trong Thái âm thì nắm giữ việc như thần.
Tuần Giáp Tuất, tên Thần là Từ Hà Lợi Thông. Khi phạt rừng núi, làm bằng đường đi, khơi thong sông ngòi, được tự nhiên mở đường không tổn hại, đều hướng về phương ấy, hô tên thần ấy, đi 60 bước, chuyển tả vào Thái âm, thì được như ý, đường xá tự thông.
Tuần Giáp Thân, tên Thần là Cái Tân. Khi vào núi săn bắn, lùng bắt hổ lang, trùng thú, đều hướng về phương ấy, hô tên thần, đi 60 bước, chuyển tả, vào Thái âm, trùng thú tự nhiên không chạy.
Tuần Giáp Ngọ, tên Thần là Linh Quang. Khi yên doanh, bầy trận, tuần thú, chiến đấu, hướng về phương ấy, hô tên thần, đi 60 bước, chuyển tả, vào Thái âm, tất là thắng.
Tuần Giáp Thìn, tên Thần là Hàm chương. Khi cầu quan, bái tướng, phó nhậm vùng dân, hướng về phương ấy, hô tên thần, đi 60 bước, chuyển tả, vào Thái âm, làm quan không phải hối tiếc.
Tuần Giáp Dần, tên Thần là Giám Binh. Khi dương binh, chấn võ, dạy trận, đuổi khấu, hành quân chinh phạt kẻ không đạo, đều hướng về phương ấy, hô tên thần, đi 60 bước, chuyển tả, vào Thái âm, thì xuất hành biển yên, giặc cướp tự nhiên không dấy.
Trên đây, sáu Giáp quản hạt ngũ hành tôn thần, thể thống ưa tĩnh. Lúc hành sự vẽ tượng ghi chữ mà chế thì cát. Bởi vì sáu Giáp, trong quản năm hành. Mà động ứng thì không phương nào đủ 5 hành mà lấy bỏ. lại còn đạo tương sinh tương khắc. Tay trái tượng thiên, tay phải phép Địa. Thần linh ưa tĩnh cho nên viết 5 hành để chế nhau. Đạo vận hóa không gì không kiêm thế được.
Khi muốn xuất binh, đại tướng, trong tay tả, lấy son viết chữ cường, cuộn nắm tay lại, đi 60 bước, chuyển tả, vào Thái âm, có thể che yếu lấy mạnh.
Khi muốn gặp Quý nhân cầu quan và hai ngàn thạch lệnh trưởng, trong tay tả viết chữ Thiên.
Khi muốn buôn bán lợi lỗ hòa, kết giao bạn, giá thú, viết tờ khế thì viết chữ Hòa.
Khi vào núi săn bắn viết chữ Sư.
Khi coi việc (bộ công), yên dân cư thì viết chữ Cường.
Khi qua sông trị thủy thì viết chữ Thổ hay chữ Mậu.
Khi sóng gió gào thét, thuyền bè có thể đắm, đặc biệt kỵ ngày Bát phong (8 gió), Độc thủy (nước độc), Chiêu dao (vẫy vòi), hàm trì (ao liền), nên viết chữ Mậu.
Khi lên núi, vào đạo thì viết chữ Long. Rồng không dám động. Quay về phương Trực phù, đi 60 bước, chuyển tả, vào trong Thái âm. Được thế thì đạo Trời hanh.
Đây là phép diệu dụng Năm hành chế thắng.

Xuất hành hô thần vào Thái âm
Khi xuất hành đi về một phương nào, hô tên tự thần phương ấy, mà đi 60 bước, chuyển tả, vào trong Thái âm, Độn dương, trước 2 vị là trong Thái âm. Độn Âm thì sau 2 vị là trong Thái âm.
Lại sáu Đinh cũng là Thái âm, hô tên tự Thần, giờ lúc dùng. Tinh trên Thiên bàn là tên tự.
 Thiên Bồng tự Tử Cầm Thiên Cầm tự Tử Công
 Thiên Nhuế tự Tử Thành Thiên Trụ tự Tử Thân
 Thiên Xung tự Tử Kiều Thiên Nhậm tự Tử Vi
 Thiên Phụ tự Tử Khanh Thiên Ương tự Tử Uy
 Thiên Tâm tự Tử…
Giả như Đông chí Độn Dương, thượng nguyên, ngày Giáp Kỷ, giờ Bính Dần. Lúc ấy, Sáu Bính tới cung 8. Lấy Thiên bàn Giáp Tý Mậu Thiên bồng bay trên cung 8. Muốn đi về phương Đông Bắc thì hô tên tự thần là Tử Cầm, đi 60 bước, vào trong Thái âm. Lúc ấy lùi lại 2 cung là Thái âm ở cung 4 (nên án 9 cung bầy mà đi từ cung Khảm 1) tức thì hướng về tả, vào Đông Nam.

Xuất hành, hô tên thần 10 can trong 12 giờ
Giáp là Thần Thiên Phúc - Vương Văn Khanh.
Ất là thần Thiên Đức - Long Văn Khanh.
Bính là thần Thiên Uy - Đỗ Đường Trọng Khanh.
Đinh là thần Thiên Ngọc - Nữ Lý Du Điền.
Mậu là thần Thiên Vũ - Tư Mã Dương.
Kỷ là thần Minh Đường – Kỷ Du Khanh.
Canh là thần Thiên Hình – Châu Du Dương, Quách Dương Chi.
Tân là thần Thiên Đình – Cao Tử Cường.
Nhâm là thần Thiên Lao – Vương Lộc Khanh.
Quý là thần Thiên Ngục – Viên Cường, Viên Tử Quang.
Thân âm Sáu Giáp (Lục Giáp Âm thần)
Tuần Giáp Tý, thần âm Đinh Mão, đầu Thỏ thân người, tên là Khổng Lâm Tộc, tự là Văn Bá.
Tuần Giáp Tuất, thần âm là Đinh Sửu, đầu Trâu thân người, tê là Lương Khâu Thúc.
Tuần Giáp Thân, thần âm là Đinh Hợi, đầu lợn thân người, tên là Lục Thành, tự là Văn Công.
Tuần Giáp Ngọ, thần âm Đinh Dậu, đầu gà thân người, tên là Phí Dương, tự là Văn Thông.
Tuần Giáp Thìn, thần âm là Đinh Mùi, đầu dê thân người, tên là Vương Khuất Kỳ, tự là Văn Khanh.
Tuần Giáp Dần, thần âm Đinh Tị, đầu Hổ thân người, tên là Hứa Hàn Trì, tự là Cự Khanh.
Tên thần Độn Giáp Môn hộ
Khi xuất hành, hành sự nên dùng.
Tuần Giáp Tý: tên Môn là Tử Nghị. Tên Hộ là Công Tôn Tế. Cởi cáo mà qua, cát.
Tuần Giáp Tuất: Tên Môn là Thiên Khả. Tên Hộ là Từ Khả. Ngửa mặt lên trời, hô to mà qua, cát.
Tuần Giáp Thân: tên Môn là Tư Mã Quang. Tên Hộ là Thạch Chiến. Cởi áo mà qua, cát.
Tuần Giáp Ngọ: tên Môn là Thạch gia. Tên Hộ là Tử Khả. Cởi áo, nhẩy mạnh mà qua, cát.
Tuần Giáp Thìn: tên Môn là Công Tôn Thác. Tên Hộ là Tư Mã Thắng. Xõa tóc rối kết lại mà qua, cát.
Tuần Giáp Dần: tên Môn là Công Tôn Quang. Tên Hộ là Tư Mã Cường. Cởi đai lưng mà qua, cát.
Làm đại tướng, khi ra vào và hành binh, không cứ nhiều ít, phương đến nơi, tất có phép đỡ. Lấy 6 làm Pháp.
Đại tướng dàn sĩ tốt vòng bên tả, vào Thái âm, hô tên Thần Môn Hộ, chú rằng:
Giáp X….có gấp, mời Thần giúp ta, đỡ ta, che ta, giấu ta, đừng để kẻ địch là thương ta, đè ta, úp ta,, năm quân đẩy bẻ đừng để tới ta. Đương ta thì chết. Nhìn ta thì mù. Khiến kẻ địch mờ mờ lặng lặng. Nhìn ta thì mê hoặc, vì ta mà loạn hồn phách, kiến kẻ địch không dám ngóc dậy.
(Chú viết: Mỗ giáp, hữu cấp, thỉnh thần tá ngã, hựu ngã, nặc ngã, tàng ngã, vô sử địch nhân thương ngã, phủ ngã, cái ngã, ngũ binh thôi chiết, vô linh chí ngã. Dương ngã giả tử. Thị ngã giả vong. Sử địch nhân minh minh mặc mặc, thị ngã mê hoặc, vị ngã loạn kỳ hồn phách, sử địch nhân bất cảm khởi).
Niệm chú xong, khiến sĩ tốt đi thẳng vòng bên tả, đừng quay đầu lại, giấu ở dưới sáu quý. Như Giáp Tý thì Quý Dậu loại ấy.
Phép sáu Giáp âm phù
Kinh nói:
Làm đại tướng, khi ngăn giặc, nên làm sáu Giáp âm phù, khiến kẻ địch thân bị giết. Cho nên nói ngàn vàng không dạy người. Âm của sáu Giáp ở giữa khoảng trời đất. Đạo này linh lắm, cất trong trap vàng, quý ở trong tâm, không truyền cho hạng phi nhân. Đừng có nhẹ dạ để lộ ra ngoài. Nhìn trộm cũng mù, đọc trộm thì dịch.
Ví làm sáu Giáp âm phù, nên lòng thành trai giới để mong phúc trời. Hơi có ô uế, không trong sạch thì đừng hòng linh nghiệm.
Khi làm phù phải chọn giờ Nguyệt thực, chặt gỗ ngô đồng và các loại gỗ đỗ kinh, chọn cành âm, hoặc lõi gỗ Bách cũng được, phải dài 9 thốn, rộng 2 thốn, dày 3 phân. Dùng thư hoàng (hung hoàng) bôi lên làm tượng, và viết cả tên dưới hình tượng (tức như Đinh Mão âm thần Khổng Lâm Tộc). Vẽ theo hình tượng và đề tên. Làm phù xong, may túi gấm đựng. Đại tướng đeo bên thân. Khi dùng binh, lấy phù thần âm của bản tuần ra ngoài túi, trỏ vào quân địch, địch tự tan không dám giao binh.
Khi lấy gỗ, trước trai giới. Lấy rượu 1 đấu, nem hươu 3 cân, muối 1 chén mà tế cầu. Giải chiếu cỏ, hướng về Bắc, vái mấy vái mà chú trước cây Đỗ - Kinh rằng:
“Hỡi thần trăm quỷ, với con cùng đi. Biến hóa thân kia, do con bảo chỉ, mọi loài phục vụ. Rượu tốt nem ngon, cùng là muối mỹ. Mong hưởng đủ vị.”
Chú xong lại bái, chú ba lượt xong thì chặt cây, chớ để ô uế, mà cũng đừng để gần vật ô uế, cùng là đàn bà, gà chó trông thấy.
Lại phép thụ trì: Trai giới 5 ngày, tháng lan tắm rửa. Ăn uống thức tinh khiết. không  ăn 5 giống cay trần tục. Và viết vẽ xong vào ngày Sáu Giáp. Nửa đêm, làm chay trên đàn vuông. Làm đàn pháp 1 trượng 2 xích, ngoài đắp đất 12 trường, mở 12 cửa. lấy que trúc dài 3 xích hay 9 xích, cắm quanh 4 hướng. Đem phù sáu âm đặt trên đàn theo sáu ngôi. Lấy 5 mầu vẽ ô, mỗi ô 3 xích 5 thốn. Trên bày rượu 3 chén, nem 2 cân, muối 1 chén. Cỏ trắng làm chiếu. Hướng về Bắc, quỳ và hô tên thần Chi 4 phương và tên thần Sáu Âm sáu Giáp và tên thần Môn hộ mà tế.
Giả như Giáp Tý Thần âm là Đinh Mão, hướng về chính Đông, vái mấy vái, hô tên Thần và chú. Lấy gấm đỏ làm túi đeo âm phù vào thân thì trăm quỷ không dám phạm tới. Lấy âm phù trỏ địch thì kẻ tự duyệt. Như thảng thốt không đàn thì tới giữa sân hoặc ngoài đồng vạch đất làm đàn cũng được.

Phép chân nhân bộ đẩu (người bước chân đẩu)

Kinh Bộ Đẩu nói: Phép Bộ Đẩu có thể thông thần.
Phải vào nửa đêm sao sáng, dưới làm đàn, vạch đất làm hình sao Bắc đẩu bảy ngôi. Các ngôi cách nhau 3 xích. Thiên Bồng theo Thiên Cương khởi, thứ tự tùy theo mà bày. Trước Khôi bày nghịch xong, đứng ngày thẳng trên Thiên Ương thì trước cất chân trái mà đọc chú tiếp. Nhẹ nhàng trái phải thay đổi mà giẫm. Như phép mà làm. Trăm ngày thì Người Thần tự nhiên cảm thông. Giữ bí, đừng tiết lộ với bọn phi nhân mà ương tới 9 họ. Nhìn trộm mắt mù.
Chú rằng:
 Đẩu yêu diệu tìm 12 thần,
 Được sáng lạn nơi Huyền vũ trần.
 Khí phảng phất kìa như phù vân,
 Bẩy biên động kìa ứng trời trên.
 Biết biến hóa mà có cát hung,
 Vào Tú Đẩu rồi qua Thiên quan.
 Hợp Luật Lã mà trị Giáp Ất,
 Giẫm Thiên Cương mà độ Thiên Nhậm.
 Vực lạnh trong mà đất lắng trầm,
 Chống Thiên tuế mà đỡ Thiên tâm.
 Từ đó độ mà lên Thiên Cầm,
 Tựa Thiên Trụ mà ngóng Thiên Xung.
 Vào Thiên Nhuế mà ra Thiên Bồng,
 Đẩu đạo chông mà mềm rắn đỡ.
  Ra mờ tỏ mà ngàn vạn tuế,
 Kíp kíp như luật lệnh.
Khi có việc ra đi, đem tên Ngọc Nữ bản tuần, như Tuần Giáp Tý, âm ở Đinh Mão, mà chú rằng:
“Đinh Mão ngọc Nữ, giúp ta, đỡ ta, đừng để làm thương ta. Nhìn ta thì mù, nghe lắng ta thì chịu tai ương”.
“Đinh Mão Ngọc Nữ, Hộ ngã hựu ngã, vô linh thương ngã, thị ngã giả cổ, thính ngã giả phản thụ kỳ ương”.
Chú xong, thì đi, đừng ngoảnh lại, Thần ấy theo đỡ, theo được phúc lớn.
Như trong Tuần Giáp Tuất thì hô Thần Đinh Sửu, chu như trên. Ngoài ra phỏng thế
.
Thần chú kỳ Ất 

Thần uy Thiên đế, giết sạch quỷ tặc,
 Sáu ất cùng phù, Đạo trời giúp sức.
 Lệnh ta phải theo. Không công chớ chống,
 Cấp cấp như Huyền Nữ luật lệnh.
(Thiên đế uy thần, Tru duyệt quỷ tặc, Lục ất tương phù. Thiêndddaoj tán đức. Ngô lệnh sở hành. Vô công bất khắc. Cấp cấp như Huyền nữ luật lệnh)

Thần chú kỳ Bính

 Đức ta Trời trợ, trước sau đón xét,
 Rồng xanh Hổ trắng, Tả Hữu đuổi ma.
 Chu tước đi trước. Hội với người ta,
 Uy trời trợ ta, Sáu Bính trừ bệnh
 Cấp cấp như Huyền Nữ luật lệnh.
(Ngô đức Thiên trợ - Tiền hậu giá la – Thanh long bạch hổ - Tả hữu khu ma. Chu tước tiền đạo – Sử ngô hội tha – Thiên uy trợ ngã – Lúc Bính trừ kha. Cấp  cấp như Huyền Nữ luật lệnh)
.
Chú ca Ba Kỳ Môn cát

Kinh nói:
Ra cửa Sáu Ất, bước Vũ, ba chú rằng:
“Hổ trắng! Hổ trắng! lối ta đi, trước nên tôn trọng.
Chớ lầm nhận kẻ sĩ có đức, lại cùng trợ.
Ra mờ vào tối (1) cùng giao trợ. Kíp Kíp như Cửu thiên huyền nữ nguyên quân luật lệnh”.
(Bạch hổ ! Bạch hổ! Trừ đạo lộ. Dương tiến tôn lộ. Vật ngộ hữu đức chí sĩ, lai tương trợ. Xuất u nhập minh giao tương trợ. Cấp Cấp như Cửu thiên huyền nữ nguyên quân luật lệnh).
1-4 chữ xuất u nhập minh này, bản nguyên viết là Xuất u minh minh.
Ra cửa Sáu bính, Bước vũ, 3 chú rằng:
 “Trước có Thiên cương dương oai võ,
 Phải đi theo Thanh long và Bạch hổ.
 Giết sạch giặc trời và ma trời,
 Dám không phục tòng, búa trời bổ.
 Kíp kíp như Cửu Thiên huyền nữ nguyên quân luật lệnh.
(Tiên hữu Thiên cương dương uy võ. Dương tong Thanh long dữ bạch hổ hành. Tru Thiên tặc cập thiên ma. Cảm hữu bất tòng phục, thiên phú. Cấp cấp như Cửu Thiên huyền nữ Nguyên quân luật lệnh).
Ra cửa Sáu Bính, bước Vũ, 3 chú rằng:
 “Nàng Ngọc ! nàng ngọc!
 Tên thần mẹ hô lên mà hỏi,
 Đạo ta vẫn thường từ chuôi Đẩu vào bọng Đẩu.
 Vực trong lạnh thẳm có nhiều thần.
 Bế cỏ để tự che, chớ kinh ngộ.
 Kíp kíp như Cửu thiên huyền nữ Nguyên quân luật lệnh.
(Ngọc nữ ! ngọc nữ! danh thần mẫu hô nhi vân chi. Đạo ngộ sở thường tong đẩu thược, nhập đẩu lý. Thanh lánh chi uyên đa thần. Chiết thảo dĩ tự chướng, vật kinh ngộ. Cấp cấp như cửu thiên huyền nữ nguyên quân luật lệnh).
Kinh nói:
Ra ba kỳ môn cát, hoặc có việc gấp không kịp chú, cũng có thể cứ đi, nhưng cần chí tâm tin theo tất nghiệm. Cần là chớ có ngoảnh lại.
Khi niệm chú, nên bước vũ, tay hữu vạch 4 dọc 5 ngang mà đọc:
 “Bốn dọc năm ngang, Sáu Giáp Sáu Đinh,
 Huyền vũ chở đạo. Suy vưu lánh binh.
 Tả khoái Nam Đẩu, Hữu theo 7 tinh,
 Tà ma mất tích, quỷ quái lặn hình.
 Can không dám phạm. Chi chẳng dám xâm.
 Thái thượng có sắc. Lệnh ta chỉ làm.
 Vào nước không đắm, vào lửa không bùng,
 Nghịch ta thì chết. Thuận ta thì sống.
 Đương ta thì diệt. Ngó ta mắt mù.
 Kíp kíp như Thái thượng đạo tổ Thiết sư thượng đế luật lệnh”
(Tứ tung ngũ hoành. Lục Giáp Lục Đinh. Huyền Vũ tải đạo. Suy vưu tị binh. Tả huyền nam đẩu. hữu bội thất tinh. Yêu ma duyệt tích. Quỷ tý tiềm hình. Can bất cảm phạm. Chi bất cảm xâm. Thái thượng hữu sắc. Ngô lệnh chỉ hành. Nhập thủy bất nịch. Nhập hỏa bất phân. Nghịch ngô giả tử. Thuận ngô giả sinh. Đương ngô giả quyệt. Thị ngô giả manh. Cấp cấp như Thái Thượng đạo tổ Thiết sư Thượng Đế luật lệnh”.
Niệm xong thì niệm các thần chú trước, hoặc Ất, Hoặc Bính, hoặc Đinh, Ba Kỳ, tùy niệm tùy hành, cẩn thận chớ có quay đầu lại.
Ngày đơn thì 5 ngang Đông tây. 4 dọc Nam Bắc.
Ngày kép thì 5 ngang Nam Bắc, 4 dọc Đông Tây.
Chú rằng:
 “Vua vũ rút đường. Ta nay ra đi,
 Bốn dọc năm ngang. Suy vưu đủ binh.
 Chạm ta thì tử. Lánh ta thì sinh,
 Ta đi dưới Trời. Trở về cố hương.
 Kinh mời Nam Đẩu sáu chàng, Bắc đẩu bảy tinh.
 Ta vâng Thái thượng lão quân. Kíp kíp như luật lệnh”
(Vũ vương giảm đạo. Ngô kim xuất hành. Tứ tung Ngũ hành. Suy Vưu bị binh. Chàng ngô giả tử. Tị ngô giả sinh. Ngô du thiên hạ, hoàn quy cố hương. Kinh thỉnh nam đẩu lục lang, bắc đẩu thất tinh. Ngô phụng Thái thượng lão quân. Cấp cấp chủ luật lệnh).
Tay trái bấm chữ bản nhật (thần chi của ngày này), dở tay phải, vân ngón tay vạch ngang.
Hai chú trên, đại đồng tiểu dị, tùy ý mà dùng.

Cục Ngọc nữ phản bế

Ngày Tý  Ngọc nữ ở  Canh,  Thiên môn ở  Bính,  Địa hộ ở  Ất
Ngày Sửu  Tân  Bính               Ất.
Ngày Dần  Kiền  Bính              Canh
Ngày Mão  Dần  Canh    Đinh
Ngày Thìn  Quý  Canh    Đinh
Ngày Tị  Cấn  Canh    Nhâm
Ngày Ngọ  Giáp  Nhâm    Tân
Ngày Mùi  Ất  Nhâm    Tân
Ngày Thân  Tốn  Nhâm    Thân
Ngày Dậu  Bính  Giáp    Quý
Ngày Tuất  Đinh  Giáp    Quý
Ngày Hợi  Khôn  Giáp    Bính
Trong khi Âm Dương 2 độn không được kỳ môn. Khi phải nhập xuất, dùng cục Ngọc nữ phản bế thì xuất nhập sẽ được trinh cát. Làm thượng tướng tất phải biết để giữ vạn toàn.
Khi được Kỳ mà không được Môn, hoặc có Môn không Kỳ, đều gọi là không được Kỳ Môn.

Còn tiếp

Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2021

CÁC VƯƠNG QUỐC ẤN ĐỘ ĐẦU TIÊN TRÊN ĐẤT VIỆT VÀ VÙNG ĐÔNGNAM Á TỪ THỜI CỔ ĐẾN GIỮA THẾ KỶ THỨ TƯ

CÁC VƯƠNG QUỐC ẤN ĐỘ ĐẦU TIÊN TRÊN ĐẤT VIỆT VÀ VÙNG ĐÔNGNAM Á TỪ THỜI CỔ ĐẾN GIỮA THẾ KỶ THỨ TƯ

25 Tháng 11 2013 lúc 14:17
George Coedes:
CÁC VƯƠNG QUỐC ẤN ĐỘ ĐẦU TIÊN
TRÊN ĐẤT VIỆT VÀ VÙNG ĐÔNGNAM Á
TỪ THỜI CỔ ĐẾN GIỮA THẾ KỶ THỨ TƯ
Lời người dịch: Dưới đây là bản dịch Chương 3 của tác phẩm nhan đề The Indianized States of Southeast Asia của G. Coedès, một tác phẩm được xem như "kinh điển" bắt buộc phải học tại các đại học ngoại quốc, cho việc học hỏi và nghiên cứu về lịch sử ban sơ của vùng Đông Nam Á.

Chương này trình bày về sự thành lập của các quốc gia thời cổ trên đất Việt như Phù Nam, Lâm Ấp tức Chàm hay Chiêm Thành sau này nhưng chưa đề cập đến Chân Lạp tức Căm Bốt sau này.  Các vương quốc đầu tiên trên đất Việt này đều chịu ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ nên các dịa danh và nhân danh bằng tiếng Phạn (Sanskrit) hay tiếng Pali của Ấn Độ đều đã đuợc phiên âm và ký tự sang Hán ngữ trong các văn bản tham chiếu của Trung Hoa.  Vì trong nguyên bản không có mặt chữ của Hán Tự để tra cứu và đối chiếu mà chỉ có phần ký âm nên trừ rất ít trường hợp gặp từ ngữ thông dụng và không có gì phải nghi ngờ, ngườI dịch giữ nguyên các địa danh hay nhân danh như đã ký âm trong nguyên bản.


CÁC VƯƠNG QUỐC ẤN ĐỘ ĐẦU TIÊN
Từ Khởi Thủy Cho Đến Giữa Thế Kỷ Thứ Tư

Các yếu tố khác nhau được phân tích ở chương trước đã dẫn đến sự tạo lập các quốc gia Ấn Độ nhỏ được cai trị bởi các lãnh tụ mang tên bằng tiếng Phạn (Sanskrit) (*a).  Các quốc gia này bắt đầu xuất hiện vào lúc khởi đầu của thế kỷ thứ ba sau Dương Lịch, do đó xác nhận các dữ liệu trong các danh biểu địa dư của Ptolemy (1) (*b).

Các quốc gia này chỉ để lại một ít vết tích khảo cổ học hay văn bia từ thời kỳ trước thế kỷ thứ năm.  Chúng ta biết rất ít về phần lớn các vương quốc đó trước nhật kỳ nêu trên ngoại trừ các quốc hiệu được đề cập tới bởI Ptolemy, bởi Nghĩa Thích Kinh Niddesa (*c), và, quan trọng hơn hết, bởi các sử ký biên niên của các triều đại Trung Hoa, có ghi chép một cách kỹ lưỡng các sứ đoàn ngoại giao đến từ vùng biển Nam Hải.  Vị trí của phần lớn các quốc gia này không chắc chắn hay chỉ được phỏng chừng.

Vương quốc nhỏ nhất của các xứ sở này thường sẽ lọt vào quỹ đạo của các vương quốc hùng mạnh nhất -- những vương quốc nhất thiết có một tương lai tươi sáng, mà lịch sử của chúng có thể được phác họa lại từ các văn bản và văn bia của Trung Hoa.

  1. 1.      KHỞI THỦY CỦA PHÙ NAM (THẾ KỶ THỨ NHẤT SAU DƯƠNG LỊCH):

Vương quốc quan trọng nhất trong những vương quốc này hiển nhiên là quốc gia mà Trung Hoa gọi là Phù Nam (Funan).  Danh xưng này là sự phát âm theo Quan Thoại hiện nay của hai từ đã từng được đọc là b’iu-nâm (2), vốn là ký tự của chữ Khmer cổ bnam, có cách viết hiện đại là phnom, “núi đồi”. Các vị vua của xứ sở này bao gồm trong vương hiệu của họ thành ngữ “vua núi” (king of the mountain) –trong Phạn ngữ (Sanskrit) là parvatabhupalahay sailaraja, trong tiếng Khmer là kurung bnam  (3).  Người Trung Hoa đã đi đến việc chỉ danh xứ sở bằng vương hiệu này.

Trung tâm của xứ sở tọa lac tại vùng hạ lưu và đồng bằng sông Cửu Long, nhưng lãnh địa của nó vào thời cực thịnh bao gồm cả miền nam Việt Nam, miền trung sông Cửu Long, và phần lớn Thung Lũng sông Menam cùng bán đảo Mã Lai.  Thủ đô của nó trong một thời kỳ là Vyadhapura, “thành phố của những người săn bắn” (the city of hunters) (4) – trong Hán ngữ là T’e mu, có thể là ký tự của một từ ngữ trong tiếng Khmer (dmâk, dalmâk) có cùng một ý nghĩa (5).  Thành phố tọa lạc ở vùng lân cận ngọn đồi Ba Phnom và làng Banam, hai địa điểm trong tỉnh Prei Veng của Căm Bốt mà, trong danh xưng của chúng, được lưu truyền mãi đến thời đại chúng ta để ghi nhớ địa danh cổ xưa này.  Theo Sử Ký nhà Lương (History of the Liang)  (6) thủ đô này nằm cách bờ biển 500 lí (dặm) (200 km).  Khoảng cách này gần tương đương với khoảng cách từ Ba Phnom với địa điểm Óc Eo (7), nơi có tọa lạc, nếu không phải chính là một hải cảng, thì ít nhất cũng là một thị trường có các thương nhân ngoại quốc đến cư ngụ.

Những tin tức đầu tiên về Phù Nam đến từ một bản tường trình bởi phái bộ của các sứ giả Trung Hoa K’ang T’ai và Chu Ying là những kẻ đã đến thăm viếng xứ sở này vào giữa thế kỷ thứ ba (8).  Bản gốc của sự tường thuật của họ đã thất lạc, nhưng vẫn còn lại các đoạn trích dẫn nằm rải rác trong các biên niên sử và trong nhiều bộ toàn thư.  Những tài liệu này, cùng với một bản văn bia bằng tiếng Phạn hồi thế kỷ thứ ba, tạo thành tư liệu căn bản của chúng ta về hai thế kỷ đầu tiên trong lịch sử của vương quốc này.

Theo K’ang T’ai, nhà vua đầu tiên của Phù Nam là một kẻ nào đó tên là Hun-t’ien, tức là Kaundinya, đến hoặc từ India hay từ Bán Đảo Mã Lai hay các hòn đảo ở phương nam (9).  Vị vua này, nằm mơ thấy vị thần bổn mạng trao một nỏ thần cho ông ta và chỉ thị ông leo lên một thương thuyền lớn, ra đi trong buổi sáng để tiến đến một ngôi đền, nơi mà ông ta tìm thấy một cái nỏ dưới gốc cây của vị thần.  Rồi thì ông ta đã bước lên một chiếc thuyền, mà vị thần đã cho cập bến vào Phù Nam.  Vị hoàng hậu của xứ này, Liu-ye, “Willow Leaf: Liễu Diệp (?)”, muốn cướp đoạt chiếc thuyền và cầm giữ nó, vì thế Hun-t’ien đã bắn một mũi tên từ nỏ thần của mình xuyên qua chiếc thuyền của Liu-ye.  Qúa sợ hãi, hoàng hậu bèn đầu hàng, và Hun-t’ien đã lấy bà ta làm vợ.  Nhưng, không hài lòng khi thấy bà ta trần truồng, ông đã dùng một mảnh vải gấp lại làm thành quần áo mà ông đã bắt bà ấy mặc chui qua đầu.  Sau đó ông cai trị đất nước và truyền ngôi lại cho các hậu duệ của mình.

Đây là dịch bản của Trung Hoa về các nguyên ủy vương triều xứ Phù Nam.  Bản dịch này rõ rệt là một bản dịch sai lệch từ một chuyện thần thoại của Ấn Đô, được kể lại một cách trung thực hơn bởi một văn bia bằng Phạn Ngữ của xứ Chàm (10).  Theo bản dịch này, vị tăng lữ Kaundinya, nhận được một cây dáo (lao) dài từ vị tăng lữ Asvatthaman, con của Drona, đã phóng lao đi để đánh dấu địa điểm của kinh đô tương lai của mình, sau đó đã cưới một công chúa con của vi vua Nagas [vua Rắn trong truyền thuyết của Ấn Độ?, chú của người dịch] tên là Soma, người đã sản sinh ra một giòng dõi hoàng tộc (11) .  Sự phối hôn huyền bí này -- vốn vẫn còn được truy niệm tại triều đình Angkor vào cuối thế kỷ thứ mười ba trong một nghi lễ được nhắc tới bởi vị sứ giả Trung Hoa tên Chou Ta-kuan (Châu Đạt Quan) (12), và các biên niên sử hiện đại của Căm Bốt vẫn còn lưu giữ truyền ức này (13) -- thì giống hệt với câu chuyện mà các vị vua Pallava của vùng Kanchi, miền Nam Ấn Độ, xác nhận mình là hậu duệ (14).  Tuy nhiên, đã có những ý kiến khác nhau về nguồn gốc mơ hồ của chủ đề thần thọai này (15).

Trong bất kỳ trường hợp nào, các biến cố lịch sử bó buộc phải phù hợp với bố cục này đã không thể nào xảy ra sau thế kỷ thứ nhất theo Dương Lịch, bởi ngay từ lúc khởi đầu của thế kỷ thứ nhì kế đó chúng ta tìm thấy các nhân vật lịch sử Phù Nam với sự xuất hiện được ghi nhận bởi văn bia và các sử gia Trung Hoa.

Theo Sử Ký nhà Lương (History of the Liang), một trong những hậu duệ của Hun-t’ien, tên là Hun-p’an-huang trong Hán ngữ, đã hơn chín mươi tuổi vào lúc từ trần. Ông này được kế vị bởi “con trai thứ nhì của mình tên P’an-p’an, là kẻ đã giao thác việc trông coi sự cai trị của mình cho vị tướng quân tài giỏi là Fan Man,” (16) vốn có tên đầy đủ là Fan Shi-man, theo Sử Ký của nhà Ch’i phương Nam (History of the Southern Ch’i). (17)”  Sau ba năm trị vì, P’an-p’an băng hà.  Toàn thể thần dân của vương quốc đã tuyển chọn [Fan Man] làm vua. Ông ta là một người can đảm và có khả năng.  Một lần nữa, với đội quân hùng mạnh của mình, ông ta đã tấn công và khuất phục các vương quốc láng giềng; và tất cả các vương quốc này đều trở thành nước thần phục ông ta. Ông tự đặt vương hiệu của mình là Đại Quốc Vương của Phù Nam.  Sau đó ông ra lệnh đóng chiếc thuyền lớn, và lái thuyền trên khắp vùng biển mênh mông ông đã tấn công hơn mười vương quốc,  trong đó bao gồm cả Ch’u-tu-k’un, Chiu-chihm và Tien-sun. Ông đã mở rộng lãnh thổ của mình đến năm hay sáu nghìn lý ( li: dặm)” (18)

  1. 2.      CÁC VƯƠNG QUỐC ẤN ĐỘ TẠI BÁN ĐẢO MÃ LAI TRONG THẾ KỶ THỨ NHẤT KỶ NGUYÊN THIÊN CHÚA
Rolf Stein đã tin rằng trong văn bản trên Ch’u-tu-k’un phải được đọc là Ch’u-tu, Tu-k’un, vân vân, và rằng Ch’u-tu phải được xác định là Ch’u-tu-ch’ien (hay –kan), là xứ mà ông tin là tương ứng với xứ Kattigara của Ptolemy (19).  Xứ sở này, được tạo lập bởi các di dân từ vùng Chu-wu (bắc Quảng Trị, giữa Cửa Tùng và Cửa Việt), phải được truy tìm tại vùng Cochin-china, nơi mà những cuộc nghiên cứu gần nhất cũng có khuynh hướng xác định địa điểm của Kattigara (20).  Nhưng có lẽ phải tách rời Ch’u-tu-k’un với Ch’u-tu-ch’ien.(21)
Tien-sun chắc chắn là đồng nhất với Tun-sun, xứ mà một bản văn thời thế kỷ thứ năm-  đến thế kỷ thứ sáu mô tả như là một xứ lệ thuộc của Phù Nam (22).  Chúng ta có thể chấm định xứ này với một vài xác xuất trên vùng Bán Đảo Mã Lai, và một cách khá chính xác hơn trên hai bờ biển của eo đất Kra (23); các dữ liệu rải rác có được về các xứ sở khác cũng chỉ hướng về cùng chiều hướng này (24).  Các cuộc chinh phục của Fan Shih-man khi đó môt phần sẽ phải xảy ra trên vùng bán đảo, nơi mà một số văn bản khác của Trung Hoa đã tiết lộ sự hiện hữu của nhiều tiểu vương quốc Ấn Độ hóa ở một thời kỳ rất sớm.
Một trong những nước cổ xưa nhất này có vẻ là nước Lang-ya-hsiu, mà sự thành lập đã được Sử Ký nhà Lương (502-556) ghi nhận vào khoảng “hơn 400 năm trước đó.” (25)  Vương quốc này, sẽ tái xuất hiện vào cuối thế kỷ thứ bẩy dưới các tên Lang-chia-shu, Lang-ya-ssu-chia, vân vân, chính là vương quốc Langkasuka trong các biên niên ký của Mã Lai và đảo Java (26); danh xưng của nó tồn tại trong địa dư hiện đại dưới tên của một chi lưu chảy vào nhánh thượng nguồn của giòng sông Perak River (27). Xứ này phải nằm dọc theo hai bên sườn của bán đảo và có sự tiếp cận cùng một lúc với Vịnh Thái Lan nơi miền Pattani (28) và với Vịnh Bengal, phía bắc Kedah, nhờ thế kiểm soát được một trong những con đường chuyển vận trên đất liền như đã thảo luận trong chương trước đây.
Tambralinga, nằm bên bờ biển phía đông của Bán Đảo Mã Lai giữa Chaiya ở hướng bắc và Pattani ở hướng nam, có trung tâm tại vùng Ligor (29), nơi có một văn bia bằng tiếng Phạn có nhật kỳ từ thế kỷ thứ sáu hay sau đó (30).  Sự đề cập đến nó trong kinh Phật Giáo bằng tiếng Pali (*d) (Niddesa; Nghĩa Thích Kinh) bằng danh từ “Tambalingam” (31) chứng tỏ rằng vương quốc này đã sẵn hiện hữu vào khoảng thế kỷ thứ nhì.
Trường hợp tương tự cũng xảy ra với Takkola (32), được trích dẫn trong một văn bản Phật Giáo khác, với tên Milindapanha; đã có một sự đồng ý chung rằng thị trấn này tọa lạc tại Takuapa nằm bên bờ biển phía tây của eo đất Kra hay có thể xa hơn về phía nam (33).  Về hải cảng mà địa danh được ký tự sang Hán ngữ là T’ou-chu-li và đôi khi được đồng nhất hóa với Takkola, Paul Wheatley (34) vạch cho thấy rằng danh từ này trong thực tế là Chu-li và rằng nó tương đương với địa danh Koli của Ptolemy, có lẽ ở vùng cửa sông Kuantan.  Chính từ địa điểm này mà sứ đoàn được Phù Nam phái đi sang Ấn Độ hồi thế kỷ thứ ba đã bước xuống tàu.
Nếu chúng ta không kể đến các ngôi mộ bằng đá tảng khổng lồ tại Perak và Pahang và những sự khám phá các ngọc trai Ấn Độ và “La Mã” tại Kota Tingi vùng Johore (35), vốn thuộc vào lãnh vực lịch sử nguyên thủy (proto-history), chính là từ vùng Kedah và vùng Perak mà các di tích khảo cổ và văn bia cổ xưa nhất của Bán Đảo Mã Lai đã được phát hiện.
Những sự khám phá đó tại Kedah thuộc về nhiều thời kỳ khác nhau.  Chúng chứng thực tính cổ xưa của địa điểm này, mà chúng ta sẽ lại đựoc nghe thấy sau này dưới tên trong Phạn ngữ là Kataha và trong tên bằng Hán ngữ là Chieh-ch’a.  Nhưng, như các văn bia và các khám phá khảo cổ khác (36), chúng cũng không có nhật kỳ lùi xa như của Ptolemy, của Nghĩa Thích Kinh Niddesa, hay các văn bản của Trung Hoa, tức, lùi xa mãi đến tận thời kỳ có các cuộc chinh phục của Phù Nam trên vùng bán đảo. (37)

  1. 3.      PHÙ NAM (THẾ KỶ THỨ NHÌ ĐẾN THẾ KỶ THỨ BA):
Thật khó để xác định chính xác phạm vi của các cuộc chinh phục của Fan-Shih-man.  Có lý do tốt để xem tên gọi của ông ta như là tiếng phiên dịch từ tên của nhà vua Sri Mara vốn được đề cập đến trong bia đá khắc chữ Phạn đầy cổ kính tại Võ Cạnh (trong vùng Nha Trang) (38).  Văn bia này từ lâu được nghĩ là của người Chàm (39), nhưng vào năm 1727 Louis Finot đã gán nó cho một vương quốc chư hầu của Phù Nam (40).  Nếu lý lịch của Sri Mara (41) đồng nhất với Fan Shih-man là chính xác, bia ký -- vốn phát sinh từ một hậu duệ của Sri Mara là người đã trị vì, theo phán đóan từ bản bia ký, trong thế kỷ thứ ba -- phải được xem là một trong những nguồn tư liệu về lịch sử của Phù Nam. Điều hiển nhiên từ bia ký này là vào thời điểm tấm bia đuợc khắc và tại vùng mà bia được dựng (tức vùng Khánh Hòa ngày nay), Phạn ngữ đã là ngôn ngữ chính thức của vương triều.
Các văn bản Trung Hoa đã dẫn cho chúng ta biết rằng nhà chinh phục vĩ đại Fan Shih-man đã chết trên đường viễn chinh chống lại xứ Chin-lin, hay Biên Cương Vàng (Frontier of Gold), là địa danh, mà chúng ta có lý do để tin tưởng, tương đương hoặc với Suvannabhumi, xứ Đất Vàng (the Land of Gold) trong các văn bản tiếng Pali (Ba Lị), hay với từ Suvarnakudya, Bức Tường Vàng (the Wall of Gold) trong các văn bản tiếng Phạn (vùng Hạ Miến (Lower Burma) hay Bán Đảo Mã Lai) (42).  Một người cháu trai của Fan Shih-man, tên Fan Chan, hạ sát người kế ngôi chính thống, Chin-cheng, và chiếm đoạt quyền hành.  Nhưng khoảng hai mươi năm sau, Fan Chan bị ám sát bỏi một người con trai của Fan Shih-man tên là Ch’ang.  Sự trả thù này không phải là không có hậu quả, bởi đến lượt Ch’ang đã bị hạ sát bởi một viên tướng tên là Fan Hsun, kẻ đã tự xưng lên ngôi vua.
Những biến cố này đã xảy ra vào khoảng giữa năm 225 và năm 250 (43), và trong thời khoảng giữa hai năm này, dưới thời trị vì của Fan Chan, Phù Nam đã tiến tới sự quan hệ với triều đại Ấn Độ tại Murundas và đã gửi sứ đoàn đầu tiên đến Trung Hoa.  Tôi có nhấn mạnh ở đâu đó (44) rằng tầm quan trọng của “biến cố này, vốn có liên hệ đến các sự  quan tâm về thương mại nhiều hơn về các tham vọng chính trị, mang lại một tầm quan trọng nào đó cho thời trị vì của vị vua này.  Trong thời này, tức thời Tam Quốc, miền nam nước Trung Hoa (nước Ngô) nhận thấy rằng nó không thể xử dụng đường bộ bị kiểm sóat bởi nước Ngụy để giao thương với phương Tây, đã tìm cách thụ đắc bằng đường biển các xa xỉ phẩm mà nó mong muốn (45).  Bấy giờ Phù Nam chiếm ngụ một vị trí ưu việt trên lộ trình hải thương và tất yếu trở thành một trạm giữa đường cho các thủy thủ đi qua Eo Biển Malacca cũng như cho các thủy thủ, nhiều hơn gấp bội, đi ngang qua các eo đất của Bán Đảo Mã Lai.  Có thể Phù Nam còn là trạm chót cho cho hải trình từ  phía đông Địa Trung Hải, nếu quả thực Kattigara của Ptolemy nằm ở bờ biển phía tây của Cochin China.”
“Thời trị vì của Fan Chan thì quan trọng,” như Paul Pelliot viết (46); “chính kẻ tiếm ngôi này đã là người đầu tiên thiết lập các quan hệ chính thức và trực tiếp với các ông hòang của Ấn Độ.  Một văn bản của thế kỷ thứ năm cho biết rằng một nhân vật nào đó tên Chia-hsiang-li, bản dân của xứ mang tên T’an-yang, có vẻ tọa lạc tại miền tây Ấn Độ, đã đến Ấn Độ, và từ đó [Ấn Độ ?, chú của người dịch] sang Phù Nam.   Chính nhân vật này đã truyền dạy cho nhà vua Fan Chan những điều kỳ diệu mà quốc gia này có thể phô diễn cho du khách, nhưng cuộc du hành quá lâu; vừa đi và về có thể kéo dài ba năm và có thể đến bốn năm.  Có phải là nhà vua Fan Chan đã bị quyến rũ bởi sự tường thuật của Chia-hsiang-li hay không? Ít nhất chúng ta biết được từ một ngồn tư liệu đáng tin rằng nhà vua có gửi một trong những thân nhân của ông tên là Su-wu đi trong một sứ đòan sang Ấn Độ.  Nhân vật này lên tàu từ T’ou-chu-li, có lẽ là Takkola (47), cho thấy rằng ảnh hưởng của Phù Nam đã vươn xa tới tận vùng Ấn Độ Dương vào lúc đó.  Sứ đòan đã đến cửa sông Ganges và ngược dòng lên đến thủ đô của một ông hòang không còn gì ngờ vực, như Sylvain Lévi đã nhận ra, thuộc một triều đại Murunda.  Nhà vua Ấn Độ đã dẫn các khách ngọai quốc đi một vòng thăm xứ sở của mình; sau đó nhà vua chia tay với đòan khách, gửi cho họ bốn con ngựa của xứ Indo-Scythian như một quà tặng lên vị vua của đòan khách và cho một người Ấn Độ tên Ch’en-sung đi tháp tùng.  Vào lúc mà Su-wu trở lại Phù Nam, bốn năm đã trôi qua kể từ ngày khởi hành.”
Cũng chính Fan Chan, theo Sử Ký Thời Tam Quốc (History of the Three Kingdoms), là người vào năm 243 “đã gửi một sứ đòan (đến Trung Hoa) để trao tăng vật gồm các nhạc sĩ và các sản vật của xứ sở.” (48)
Liệu cũng chính ông đã là tác giả của bia ký bằng tiếng Phạn đã trích dẫn ở trên, và là người mà văn bản này đã chỉ danh như là một thành viên của gia đình Sri Mara hay không?  Điều này không phải là không thể xảy ra, bởi Fan Chan, con trai của người em (hay chị) gái của Sri Mara,  rất có thể đã tuyên nhận là có quan hệ với vị vua tiền nhiệm.
Kẻ tiếm ngôi Fan Hsun, người kế ngôi Fan Chan sau khi đã hạ sát một người con trai của Fan Shih-man, đã tiếp kiến ở thời điểm nào đó trong khỏang giữa năm 245 đến năm 250 phái bộ Trung Hoa gồm K’ang T’ai và Chu Ying, là những người đã gặp một sứ gỉa của Murundas tại triều đình của vua Fan Hsun. (49)
Phái bộ Trung Hoa này đã thiết lập quan hệ với Phù Nam đưa đến sự sai phái từ vua Fan Hsun một lọat các sứ đòan sang Trung Hoa trong thời khỏang từ năm 268 đến năm 287.  Những sứ đòan này đã được đề cập đến trong Sử Ký nhà Tần (History of the Chin) (50) Ba sứ đòan sau cùng, từ năm 285 đến năm 287, có lẽ là kết quả của sự phục sinh thương mại hàng hải sau khi có sự thống nhất Trung Hoa bởi nhà Tần vào năm 280, một sự thống nhất đã kích thích một ước muốn gia tăng về phía triều đình đối với những sản phẩm và xa xỉ phẩm nhập cảng từ những xứ sở ở phương nam.
Rõ rệt là nhờ ở K’ang T’ai mà chúng ta đã có được các thông tin đầu tiên về xứ sở này: “Có những ngôi làng có tường bao quanh, các dinh thự, và các nhà ở. Đàn ông đều xấu xí và đen đủi, tóc quăn; họ gần như trần truồng và đi chân không.  Bản chất của họ thì đơn giản và họ hòan tòan không có khuynh hướng ăn trộm gì cả.  Họ dồn năng lực vào việc canh nông .  Họ gieo hạt giống một năm và gặt hái cho ba năm [? nguyên văn không rõ nghĩa, chú của người dịch]  Ngòai ra, họ thích chạm trỗ đồ trang trí và đục đẽo.  Nhiều vật dụng ăn uống của họ làm bằng bạc.  Thuế khóa được nạp bằng vàng, bạc, ngọc trai, dầu thơm (nước hoa).  Có sách vở và các kho ký thác văn khố và các vật dụng khác.  Chữ viết của họ giống như thứ chữ của người dân Hồ (Hu) [một sắc dân ở Trung Á Châu xử dụng chữ viết có nguồn gốc Ấn Độ].” (51)
4. CÁC BƯỚC KHỞI ĐẦU CỦA VƯƠNG QUỐC CHÀM (CHAMPA): LÂM ẤP (LIN-YI) (TỪ CUỐI THẾ KỶ THỨ NHÌ ĐẾN GIỮA THẾ KỶ THỨ TƯ}      

Sử Ký nhà Tần có bao gộp một báo cáo vào trong tiểu sử của T’ao Huang, thái thú Trung Hoa tại Đông Kinh [tức bắc Việt Nam ngày nay, chú của người dịch] trong đó ông ta có phàn nàn, vào khỏang năm 280, về các cuộc đột kích của Lâm Ấp.  Vương quốc này, ông cho biết, “phía nam tiếp giáp với Phù Nam.  Họ có nhiều bộ lạc, các nhóm thân hữu tương trợ lẫn nhau; lợi dụng địa hình trắc trở trong vùng của mình, họ không thần phục [Trung Hoa].” (52)

Lâm Ấp là trung tâm đầu tiên của xứ Chàm, đã tiến vào lịch sử vào cuối thế kỷ thứ nhì. Thực sự, các văn bản Trung Hoa xác định sự thành lập của xứ này vào khỏang năm 192. (53).  Một quan chức bản xứ, tên Ch’u-lien (Khu Liên ?, chú của người dịch], lợi dụng sự suy kém quyền lực của nhà hậu Hán, đã cắt một lãnh địa riêng cho mình khỏi chỉ huy sứ của Trung Hoa tại quận Jih-nam (Nhật Nam) (nằm giữa Hòanh Sơn và đèo Hải Vân, và tự xưng làm vua tại tiểu trấn cực nam, tức xứ mang tên Hsiang-lin, tương ứng khỏang đất phía nam tỉnh Thừa Thiên ngày nay của Việt Nam. Thọat đầu tên Lâm Ấp (Lin-yi) “thủ đô xứ Lâm” được nghĩ là tên gọi tắt của chữ Hsiang-lin-yi, tức “thủ đô của xứ Hsiang-Lin” (54) nhưng một học gỉa có nêu ý kiến hồi gần đây rằng đó là một danh hiệu có tính cách chủng tộc (55).  Sự tạo lập vương quốc Lâm Ấp năm 192 đã diễn ra nửa thế kỷ trước đó, vào năm 137, bởi một mưu toan đầu tiên muốn xăm lăng vùng Hsiang-lin của một nhóm khỏang gần một ngàn dân mọi rợ bên ngòai các biên cương của quận Nhật Nam (56); tên của sắc dân này là Ch’u-lien, mặc dù được viết với mặt chữ khác, khó có thể tách biệt ra khỏi tên của kẻ tạo lập ra xứ Lâm Ấp.” (57)

Trong bất kỳ trường hợp nào, gần như chắc chắn rằng “những kẻ mọi rợ này bên ngòai các biên giới của quận Nhật Nam” đã là, nếu không hòan tòan là người Chàm, ít ra cũng là những người Nam Dương (Indonesians) là những kẻ, nếu họ chưa bị ảnh hưởng của Ấn Độ, thì chẳng bao lâu sau cũng sẽ trở thành như thế.

Chúng ta sẽ thấy, trên dòng lịch sử, rằng xứ Chàm bị chia cắt thành một số các địa phương tự nhiên tương ứng với các đồng bằng ven biển.  Tỉnh Quảng Nam ngày nay, với các địa điểm khảo cổ tại Trà Kiệu, Mĩ Sơn, Đông Dương, trong một ý nghĩa nào đó là thánh địa của nước Chàm (58).  Pho tượng đức Phật bằng đồng đẹp đẽ tìm thấy ở Đông Dương là bằng chứng cho tính chất cổ xưa của sự xâm nhập của Ấn Độ trong vùng mang tên -- liệu có phải hòan tòan tình cờ hay không (?) – Amaravati.  Phía nam của Amaravati, các trung tâm chính yếu được đề cập trong văn bia là Vijaya (Phật Thệ?) tại tỉnh Bình Định ngày nay, Kauthara tại đồng bằng Nha Trang, và Panduranga trong vùng Phan Rang.  Những bia ký cho thấy rằng trong thế kỷ thứ tám tiếng Chàm được nói tại các tỉnh phía nam.  Nhưng nguyên thủy các tỉnh phía nam này là một phần của vương quốc Phù Nam. Điều này đã được chứng minh bởi sự hiện diện, trong vùng Nha Trang, văn bia thuộc thế kỷ thứ ba phát sinh từ một vị vua của Phù Nam -- một hậu duệ của Sri Mara (tức Fan Shih-man) có lẽ không ai khác hơn Fan Chan.

Chúng ta không có bằng chứng cổ xưa, tương tự như các bằng chứng về Phù Nam, về sự Ấn Độ hóa của người Chàm và truyền thống xây dựng triều đại của các vị vua của họ; các văn bản Trung Hoa không nói gì về hai điểm này, và im tiếng cho mãi đến khi có một văn bia thuộc thế kỷ thứ chín mới thấy xuất hiện lần đầu tiên tên của Maharshi Bhrigu,  nhân vật của dòng tộc Mahabharata, danh tính tổ tiên của triều đại Bhargavas, triều đại mà các vua Chàm tuyên nhận mình là các hậu duệ.  Về chính danh xưng Champa, từ đó rút ra danh từ Chàm, mặc dù không xuất hiện trong văn bia cho mãi đến lúc khởi đầu thế kỷ thứ bẩy, có thể nó đã có từ rất lâu.

Những hậu duệ của Ch’u-lien lợi dụng sự tan rã của Trung Hoa vào lúc có sự sụp đổ của nhà Hán để bành trướng về phương bắc.  Từ năm 220 đến năm 230, một nhà vua trong họ đã gửi một sứ đòan sang gặp Lu Tai, tổng đốc Quảng Đông và Chiao-chih [Giao Chỉ ?, chú của người dịch] (Đông Kinh) [tức bắc Việt Nam, chú của người dịch], với danh nghĩa thuộc xứ Lâm Ấp, cùng với sứ đòan của Phù Nam, đã xuất hiện lần đầu tiên trong một văn bản Trung Hoa.  Lu Tai, theo Sử Ký Thời Tam Quốc (History of the Three Kingdoms), đã gửi những sứ giả để truyền bá văn minh Trung Hoa vượt qúa các biên giới  phía nam.  Các vua xứ Phù Nam, Lâm Ấp, và T’ang-ming (?) mỗi vua đều gửi một sứ đòan để dâng đồ tiến cống. (59).  Việc này chỉ hòan tòan có tính cách hình thức bởi trong năm 248 các đòan quân của Lâm Ấp nổi lên cướp bóc các làng xã và chiếm giữ luôn sau cuộc đột kích, tiếp theo sau một cuộc giao chiến lớn tại vùng vịnh phía nam mũi Ròn, lãnh thổ của Ch’u-su, tức vùng Ba Đồn [(?), chú của người dịch] trên sông Gianh (60) .  Sau hết nhà vua Fan Hsiung, cháu trai của Ch’u-lien bên phía họ ngọai (61), đã tái diễn các cuộc tấn công này vào khỏang năm 270, được nói có được trợ giúp bởi vua nước Phù Nam, Fan Hsun.  Thái thú tại Đông Kinh [bắc Việt Nam ngày nay, chú của người dịch], tên T’ao Huang, đã mất mười năm để đẩy lui dân Lâm Ấp trở về lại bên trong biên cương của họ.  Từ lúc khởi đầu, các nỗ lực của họ để bành trướng về phía bắc đã đụng độ với lực đẩy xuống của người Việt Nam để nam tiến.  Các trận chiến đánh nhau bởi hai sắc dân đại biểu cho hai nền văn minh cạnh tranh nhau -- giữa người Chàm chịu ảnh hưởng Ấn Độ và người Việt chịu ảnh hưởng Trung Hoa -- được phát động tại vùng từ Hòanh Sơn đến đèo Hải Vân; đưa đến sự triệt thóai chung cuộc của người Chàm trong thế kỷ thứ mười bốn.

Trong năm 284, Fan Yi đã phái một sứ đòan chính thức đầu tiên sang Trung Hoa -- nếu chúng ta không kể đến một sứ đòan đã được gửi đến thái thú Giao Chỉ giữa khỏang từ năm 220 đến năm 230.  Trong hậu bán của thời khoảng trị vì kéo dài hơn 50 năm, Fan Yi có tuyển dụng một nhân vật tên Wen nào đó làm cố vấn.  Nhân vật Wen được xác định trong nhiều văn bản là một người Trung Hoa, quê quán tại Yang-chou, Chiang-su  [Dương Châu, tỉnh Giang Tô (?), chú của người dịch], đã đến định cư tại Lâm Ấp, nhưng ông ta có thể là một người dân bản xứ đã Hán hóa (62) . Ông ta đã đi sang Trung Hoa trong các năm 313 và 316, và học hỏi tại đó nhiều kỹ thuật khác nhau; kiến thức về nền văn minh vật chất của Trung Hoa của ông ta đã có một gía trị vĩ đại đối với quốc vưong chủ nhân ông.  Nhờ dành được sự tin cậy của vị vua già, ông đã vận động để được bổ nhiệm là viên đại tướng tư lệnh và sau đó đã gạt bỏ các người thừa kế ngai vàng sang một bên.  Khi có sự từ trần của Fan Yi, xảy ra một cách bất ngờ trong năm 336, ông ta lên ngôi kế vị Fan Yi.

Fan Wen, đặt thủ đô tại vùng thuộc Huế, đã bình định các bộ lạc man rợ và trong năm 340 đã gửi một sứ đòan sang yết kiến vua Tần để thỉnh cầu rằng biên cương phía bắc của vương quốc ông ta được ấn định tại núi Hòanh Sơn.  Khi hòang đế [nhà Tần, chú của người dịch] ngần ngại từ bỏ những phần đất phì nhiêu của Nhật Nam cho ông ta, Fan Wen đã chiếm giữ các phần đất này vào năm 347, bởi thế đã đem lại cho vương quốc của mình biên cương mà ông ta mong muốn.  Fan Wen đã mất năm 349 trong một cuộc viễn chinh khác hướng về phía bắc ngòai biên cương mới của ông ta./-


 Chú của người dịch:
(*a) Sanskrit : Phạn: ngôn ngữ văn chương của Ấn Độ từ thời cổ. Phần lớn các kinh tạng Phật Giáo được Trung Hoa dịch sang Hán ngữ đều có nguyên bản viết bằng tiếng Phạn.

(*b): Ptolemy (vào khỏang 85 – 165 sau dương lịch): Nhà thiên văn học và địa lý học gốc Hy Lạp và chết tại Alexandria, Ai Cập,  từ thế kỷ thứ nhì, chủ truơng rằng trái đất đứng yên một chỗ và là trung tâm của vũ trụ, trong khi đó mặt trời và các vì sao chạy quanh trái đất.  Danh biểu địa dư của Ptolemy cho vùng xuyên sông Ganges của Ấn Độ ghi đầy những địa danh mà các danh xưng tương ứng bằng tiếng Phạn (Sanskrit) được trích dẫn và thảo luận trong công trình nghiên cứu này của tác giả G. Coedès.  Trong bài dịch này, có đề cập đến giả thuyết rằng Sàigòn ngày nay tương ứng với địa danh Kattigara mà Ptolemy đã ghi trong danh biểu địa dư của ông ta.  Nếu đúng như vậy thì đây có thể là văn bản cổ xưa nhất của tây phương đã đề cập đến phần lãnh thổ của Việt Nam ngày nay.

(*c): Niddesa: Nghĩa thích kinh,  gồm 2 tập: Đại Nghĩa Thích và Tiểu Nghĩa Thích, dùng để luận giải kinh tạng Phật Giáo, được viết bằng tiếng Pali, muộn lắm là vào thế kỷ đầu tiên của kỷ nguyên Thiên Chúa.  Bộ Nghĩa Thích Kinh này có liệt kê một số địa danh mà các nhà nghiên cứu đã nêu nhận xét là có thể dùng để xác minh đựoc nhiều vị trí của các miền xa hơn Ấn Độ.  Có thể nói cho đến nay, chưa có những tài liệu khảo cổ hay văn bia nào lâu đời hơn tập Nghĩa Thích Kinh này. 

(*d) Pāli: Ba lị, một thổ ngữ của Ấn Độ cổ xưa, nay không còn được nói nữa mà chỉ được dùng để viết kinh tạng Phật Giáo, chính yếu là các kinh tạng của Phật Giáo Tiểu Thừa ( Theravada (Hinayana) Buddhist Canon).

----------------------------------

Chú Thích của Tác Giả G. Coedès:

  1. 1.        Xem bên trên, trang 16.  Bởi tác phẩm này không phải là một tập chuyên khảo về địa dư mà lại là một nỗ lực để tổng hợp lịch sử, tôi sẽ chỉ đề cập trong chương này và những chương kế tiếp những danh xưng có một số ý nghĩa quan trọng trong lịch sử các biến cố hay triều đại.  Một sự thảo luận nhiều ý kiến khác nhau đề cập đến vị trí của các địa danh của Ptolemy có thể tìm thấy trong bài viết của Roland Braddell nhan đề “Study of Ancient Times in the Malay Peninsula,” JRASMB (Journal of the Malayan Branch of the Royal Asiatic Society), XIII (1935).
  2. 2.        Đây là lối phát âm thời nhà Đường (T’ang), theo Bernhard Karlgren, Analytic Dictionary of Chinese and Sino-Japanese (n.p., n.d. [không ghi nơi và nhật kỳ xuất bản ?, chú của người dịch] ), các số 41 và 650.
  3. 3.        Xem Louis Finot, “Sur quelques traditions indochinoises,” Mélanges d’indianisme offerts par ses élèves à M. Sylvain Lévi (Paris, 1911), trang 203, và “Séance du 14 Janvier 1927,” JA (Journal Asiatique) (January-March, 1927), trang 186.  Coedès, “On the Origin of the Sailendras of Indonesia,” JGIS (Journal of the Greater India Society), I (1934), trang 67.  Ngọn núi này hiển nhiên là một trong các ngọn núi mà trên đó, như đã nói trước đây (các trang 26-27), người sáng lập một vương quốc theo kiểu Ấn Độ đã thiết định sự thờ phượng một vị thần dân tộc, thường là một dương vật (linga) hay một biểu hiệu nào khác của thần Siva.
  4. 4.        Xem Coedès, “Les traditions généalogiques des premiers rois d’Angkor,” BEFEO (Bulletin de l’École Francaise d’Extrême-Orient), số XXVIII (1956), trang 127.
  5. 5.        Xem Coedès, Inscriptions du Cambodge (Paris, 1937-), II, trang 110, n. 5. Có lẽ từ Vyadhapura có nghĩa “thành phố của ngườI đi săn (nhà vua).” O.W. Wolters, trong thực tế, đã tử tế thông tin (thư ngày 6 tháng MườI Một, 1960) cho tôi hay rằng T’ai-ping Yu-lan, trích dẫn bản tường trình của K’ang T’ai (xem dưới), có đề cập đến một vị vua của Phù Nam tên là P’an-huang-chao (cũng chính là ? Hun P’an-huang, xem dưới, trang 38) đã bắt được các con voi lớn trong rừng và đã thuần hóa được chúng, đưa đến sự thần phục của nhiều xứ sở trong đường hướng này.
  6. 6.        Xem Paul Pelliot, “Le Fou-nan,” BEFEO, III, trang 263.
  7. 7.        Xem chú thích trên, trang 17.  Xem Pierre Courou, “Civilisations et géographie humaine en Asia des moussons,” BEFEO, XLIV (1954), trang 469, sau khi trình bày rằng “các địa điểm khai sinh của các nền văn minh thượng đẳng có vẻ như tương ứng với các giao lộ của sự lưu thông,” có bổ túc: “Hạt nhân của nền văn minh của Phù Nam, từ đó tòan thể lịch sử Khmer đã được phát triển, bắt nguồn từ bờ biển phía tây của Đông Dương (Indochina), tại địa điểm đổ bộ của các ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ.”
  8. 8.        Xem Pelliot, “Le Fou-nan,” trang 303; “Quelques textes chinois concernant d’Indochine hindouisée,” Et . Asiat, EFEO (Études asiatiques.  Publications de l’École Francaise d’Extrême-Orient (Paris, 1925), 2 vols.), II, trang 243.
  9. 9.        Xem Pelliot, “Quelques textes,” các trang 246-49.  Về vai trò ưu thắng của dòng tộc Kaundinya tại miền nam Ấn Độ, xem Bijan R. Chatterjee, “Recent Advances in Kambuja Studies,” JGIS, VI (1939), trang 139, và chú thích dẫn trên, trang 30.
  10. 10.      Xem Louis Finot, “Les inscriptions de Mi-sơn (No. III),” BEFEO, IV, trang 923.  Xem Coedès, “L’inscription de Baksei Chamkrong,” JA (May-June, 1909), các trang 476-78, và Inscriptions du Cambodge, IV, trang 88.
  11. 11.      Xem Eveline Porée-Maspero, “Nouvelles étude sur la Nagi Soma, “ JA, CCXXXVIII (1950), các trang 237-67.
  12. 12.      Xem Paul Pelliot, dịch và biên tập, “Mémoires sur les coutumes du Cambodge,” BEFEO, II, trang 145.
  13. 13.      Xem Finot, “Sur quelques traditions indochinoises,” trang 205.
  14. 14.      Xem Coedès, “La légende de la Nagi,” BEFEO, XI, trang 391.
  15. 15.      Xem Victor Goloubew (“Les légendes de la Nagi et de l’Apsaras,” BEFEO, XXIV, các trang 501-10) cho rằng nó đến từ phương tây, trong khi Jean Przyluski (“La princesse à l’odeur de poisson et la Nagi dans les tradition de l’Asie orientale,” Et . Asiat . EFEO, II, các trang 265-84) nghĩ rằng nó đã được phát sinh từ các khu vực hàng hải của Đông Nam Á.  Về một phiên bản Mã Lai của thần thọai này, xem R. Ọ Winstedt, “Indra and Saktimuna,” JRASMB, XXIII (1950), trang 151.
  16. 16.      Xem Pelliot, “Le Fou-nan,” trang 265.  Theo R. Stein, “Le Lin-yi,” Han-hiue, II (1947), các trang 251 trở đi, từ “Fan” là tiếp đầu ngữ  (prefix) đứng trước danh tính của phần lớn các vị vua của Phù Nam cũng như của Champa không tương đương với tếp vĩ ngữ varman đi theo sau để tạo thành một họ, như đã được tin tưỏng bởi Georges Maspero, Le Royaume de Champa (Paris, 1928), trang 53, n. 7 [chú thích  7 ?], và Gabriel Ferrand, “Ye-tiao, Sseu-tiao et Java,” JA (Novermber-December, 1916), các trang 524-30.  Stein tin rằng đó là họ của một thị tộc, có nguồn gốc chủng tộc, để chỉ phần tử chính gốc của hòang gia.  Nhân vật mang danh tính Fan, như tại xứ Chàm, ngược lại với các thành phần Ấn Độ và có vẻ được lưu giữ nắm quyền hành bởi quần chúng.  Nhưng Paul Demíeville (điểm sách “Lin-yi” của Stein, TP (T’oung Pao), XL (1951), trang 344) đã bày tỏ các sự nghi ngờ đối với sự vững chắc của các nền tảng của giả thuyết này.
  17. 17.      Xem Pelliot, “Le Fou-nan,”, trang 257.
  18. 18.      Cùng sách dẫn trên, các trang 265-66.  Một li (lí) tương đương với khỏang 576 mét.  Về việc đọc là “Ch’u-tu, Tu-k’un” thay vì đọc “Ch’u-tu-k’un” (Pelliot), xem Stein, “Le Lin-yi,”
  19. 19.      “Le Lin-yi,” trang 119.  Nhưng Demíeville điểm sách “Lin-yi,” của Stein, trang 341, phản bác sự xác minh này.
  20. 20.      Ngay từ năm 1938, Kattigara đã được chấm định nằm trong vùng Sàigòn bởi Albert Herrmann, “Der Magnus Sinus und Cattigarab nach Ptolemaus,” Compte-rendu du Congrès international de géographie (Amsterdam), các trang 123-28.  Cuộc nghiên cứu gần đây nhất là của Louis Malleret, là người, tiếp theo sau các sự khám phá của ông tại Óc Eo (xem trên, trang 17), đã được dẫn dắt để đi tìm địa điểm của Kattigara trong vùng này.  Quan điểm của ông đã được trình bày chi tiết trong tác phẩm L’Archéologie du delta du Mékong (Paris, 1959-63), III, các trang 421-54.
  21. 21.      Về vấn đề có khá nhiều liên hệ này, và về vị trí của Chiu-chih hay Chu-li, xem Paul Wheatley, The Golden Khersonese, các trang 21-25.
  22. 22.      Xem Pelliot, “Le Fou-nan,” trang 279.
  23. 23.      Sách dẫn trên, trang 263, n. 1, Wheatley, The Golden Khersonese, các trang 15-21.
  24. 24.      Xem Pelliot, “Le Fou-nan,” trang 266, n. 2 and 3.  Gordon H. Luce, “Countries Neighbouring Burma,” JBRS (Journal of the Burma Research Society), XIV (1924), các trang 147-151.
  25. 25.      Xem Paul Pelliot, “Deux itinéraires de Chine en Inde, à la fin du VIIIe siècle,” BEFEO, IV, trang 320, n. 7.  Gabriel Ferrand, “Malaka, le Malayu et Malayur,” App . [Phụ Lục?, chú của ngườI dịch] III, JA (July-August, 1918), trang 139.  Luce, “Countries Neighbouring Burma,” các trang 161-69.
  26. 26.      Xem Ferrand, “Malakas”, trang 143.  Xem Sylvain Lévi, “Pré-aryen et pré-dravidien dans l’Inde,” JA (July-September, 1923), trang 37.
  27. 27.      Xem R. Ọ Winstedt, “A History of Malaya,” JRASMB, XIII (1935), trang 21.
  28. 28.      Xem Wheatley, The Golden Khersonese, các trang 252-67, thảo luận chi tiết về vị trí của Langkasuka.
  29. 29.      Xem Coedès, “Le Royaume de Crivijaya,” BEFEO, XVIII, 6, trang 17.  Lévi, “Pré-aryen,” trang 45.
  30. 30.      Xem Coedès, Receuil des inscriptions du Siam (Bangkok, 1924-29), II, trang 51, nọ XXVII.  Nhật kỳ từ thế kỷ thứ bảy đến thế kỷ thứ chín như được phát biểu bởi Barth là quá sớm.  Bia ký tương tự như thế là những văn bia cuối cùng của Phù Nam.  Xem K. A . Nilakanta nSastri, “Agastya,” TBG (Tijdschrift voor Indische Taal-, Land-, en Voikenkunde uitgegeven door het Bataviaasch Genootschap van Kunsten en Wetenschappen), LXXXVI (1936), các trang 508-09.  Về Tambralinga, xem O . W. Wolters, “Tambralinga,” BSOAS (Bulletin of the School of Oriental and African Studies) (1958), các trang 587-607.
  31. 31.      Xem Sylvain Lévi, “Ptolémée, le Niddesa et la Brihatkatha,” Et . Asiat . EFEO, II, trang 26.
  32. 32.      Cùng sách dẫn trên, từ trang 3 trở đi.
  33. 33.      Xem Roland Braddell, “Ancient Times in the Malay Peninsula,” JRASMB, XVII (1939), I, các trang 204-206, và XXII (1949), trang 1.  Wheatley, The Golden Khersonese, các trang 268-72, có cung cấp các luận cứ vững chắc về việc xác định vị trí của Takkola trong vùng Trang [có lẽ là (?) Nha Trang, chú của người dịch].
  34. 34.      Transactions and Papers of the Institute of British Geographers, 21 (1955), trang 69.  Về điểm này xin xem Wang Gungwu, “TheNanhai Trade: A Study of the Early History of Chinese Trade in the South China Sea,” JRASMB, XXXI, 2 (1958), trang 41, n. 53.
  35. 35.      Về các địa điểm này, xem Braddell, “Ancient Times,” rải rác trong tác phẩm.  H.G. Quaritch Wales, “Archaeological Researches on Ancient Indian Colonization in Malaya,” JRASMB, XVIII (1940), I, các trang 56-73; “Further Work on Indian Sites in Malaya,” JRASMB, XX (1947), các trang 1-11, R.O . Winstedt, “Slab-Graves and Iron Implements,” JRASMB, XIX, (2941) I, các trang 93-98.
  36. 36.      Thí dụ, các tượng đồng theo kiểu Gupta được mô tả trong quốc gia Perak và trên dòng sông Bujiang tại Kedah (H.G. Quaritch Wales, “Recent Malayan Excavations and Some Wider Implications,” JRAS (1946), trang 142). Các khám phá khảo cổ học này được phân tích bởi Wheatley, The Golden Khersonese, các trang từ trang 273 trở đi.
  37. 37.      Về các nguồn văn bản Ấn Độ khác, xem Vasudeva S. Agrawala, “Some References to Katahadvipa in Ancient Indian Literature,” JGIS, XI (1944), trang 96, và K.A . Nilakanta Sastri, History of Srivijaya (Madras, 1949), các trang 25-26.
  38. 38.      Về thời điểm của văn bia này, xem D.C. Sircar, “Date of the Earliest Sanskrit Inscription of Campsa,” JGIS, VI (1939) các trang 53-55.  Coedès, “La date de l’inscription sanskrite de Vo-canh,” IHQ (Indian History Quarterly), XVII (1941), các trang 107-10.  Emile Gaspardone, “La plus ancienne inscription d’Indochine,” JA, CCXLI (1953), các trang 477-85.  K. Kumar Sarkar, “The Earliest Inscription of Indochina,” Sino-Indian Studies, V, 2 (1956), các trang 77-78.  Kamalesvar Bhattacharya, “Précisions sur la paléographie de l’inscription dite de Vo-canh,” AA (Artibus Asiae) XXIV (1961), các trang 219-24. Ẹ Gaspardone, “L’inscription de Vo-canh et les débuts du sanskrit en Indochine,” Sinologica, VIII, No. 3 (1965), các trang 129-36.
  39. 39.      Auguste Barth and Abel Bergaigne, ISC, No. XX, p. 191.  Louis Finot, “Les inscriptions du musée de Hanoi,” BEFEO, XV, 2, trang 3.
  40. 40.      “Séance du 14 Janvier 1927.” JA (January-March, 1927), trang 186.  Xem Louis Finot, điểm sách Le Royaume de Champa của Maspero, BEFEO, XXVIII, các trang 286-87.
  41. 41.      Jean Filliozat đã ân cần thông tin tôi hay rằng Maran “là danh hiệu thường dùng để chỉ vua Pandya, được hỗ trợ bởi một trong những bản văn bằng tiếng Tamil cổ xưa nhất tại vùng Sangam, có nhật kỳ vào khỏang khởi đầu kỷ nguyên Thiên Chúa.”
  42. 42.      Lévi, “Ptolémée,” các trang từ trang 29 trở đi.  Luce, “Countries Neighbouring Burma,” các trang 151-58.
  43. 43.      Pelliot, “Le Fou-nan,” trang 303.
  44. 44.      Les Peuples de la péninsule indochinoise (Paris, 1962), trang 62.
  45. 45.      Wang Gungwu, “The Nan-hai Trade,” các trang 31-45.
  46. 46.      “Le Fou-nan,” trang 292.
  47. 47.      Xem trên, trang 39.
  48. 48.      Pelliot, “Le Fou-nan,” trang 303.
  49. 49.      Sách dẫn trên, trang 40. Xem Robert von Heine-Geldern, “The Drum Named Makalamau,” India Antiqua (Leyden, 1947), trang 176.
  50. 50.      Pelliot, “Le Fou-nan,” trang 252.
  51. 51.      Cùng sách dẫn trên, trang 254.
  52. 52.      Cùng sách dẫn trên, trang 255.
  53. 53.      Cho tòan thể đọan này, ngòai những nguồn tư liệu đã được chỉ dẫn ở nơi khác, xem Maspero, Le Royaume de Champa, các trang 43-59 (điểm sách bởi L. Aurousseau, BEFEO, XIV, 9, các trang 8-43, và Louis Finot, BEFEO, XXVIII, các trang 285-92).  Stein, “Le Lin-yi,” các trang 1-123.
  54. 54.      Aurousseau, điểm sách Le Royaume de Champa của Maspero, trang 27.
  55. 55.      Stein, “Le Lin-yi,” các trang 209-41.  Nhưng Demíeville, điểm sách “Lin-yi” của Stein, có vẻ nghiêng về cách giải thích thứ nhất.
  56. 56.      Cho đến nay chúng ta luôn luôn hiểu rằng họ đến từ phương nam, có nghĩa, từ tỉnh Quảng Nam ngày nay.  Nhưng Stein (“Le Lin-yi”) có vạch ra rằng họ cũng có thể đến từ phía tây, và ngay cả từ những vùng thuộc Siang-lin, cách xa khỏi sự đô hộ của Trung Hoa.  Sự kết tụ những dân man rợ tại một vương quốc Lâm Ấp đã xảy ra bên trong giới hạn của quận Nhật Nam.
  57. 57.      Về sắc dân Ch’u, xem Stein, “Le Lin-yi,” Appendix VI, từ trang 209 trở đi.
  58. 58.      Henri Parmentier, Inventaire descriptif des monuments cams de l’Annam (Paris, 1909-18), I, các trang 241-5-5.  Jean Y. Claeys, “Introduction à l’étude de l’Annam et du Champa,” Bulletin des Amis du Vieux Hue, 21, (1934), các trang 46-48.
  59. 59.      Pelliot, “Le Fou-nan,” trang 252.
  60. 60.      Stein, “Le Lin-yi,” các trang 1-54.
  61. 61.      Có lẽ xuyên qua những người vợ sinh ra là người Phù Nam mà theo Stein, “Le Lin-yi,” sẽ giải thích họ của thị tộc ông ấy là Fan, về điểm này, xem sách dẫn trên, trang 276, n. 16.  Eveline Porée-Maspero ghi nhận rằng các vị vua họ Fan xuất hiện tại xứ Chàm vào lúc khi mà họ đã biến mất khỏi Phù Nam sau thời trị vì của Fan Hsun.  Về các “sự kiện lịch sử song hành giữa Căm Bốt và Chàm” mà bà ấy đã xác định từ thời kỳ này, xem Études sur les rites agraires des Cambodgiens (Paris, 1962), từ trang 144 trở đi.
  62. 62.      Stein, “Le Lin-yi,” trang 243.     

Nguồn: G. Coedès, The Indianized States of Southeast Asia, An East-West Center Book, The University Press of Hawaii, Honolulu, 1968

Ngô Bắc dịch
© 2006 gio-o

Thứ Ba, 15 tháng 12, 2020

KỲ MÔN ĐỘN GIÁP BÍ KÍP ĐẠI TOÀN– quyển 28 THẦN PHÙ SÁU ĐINH, SÁU GIÁP – PHÙ ĐỒ


KỲ MÔN ĐỘN GIÁP BÍ KÍP ĐẠI TOÀN – quyển 28
THẦN PHÙ SÁU ĐINH, SÁU GIÁP – PHÙ ĐỒ

THẦN PHÙ SÁU ĐINH, SÁU GIÁP 

Ức Ly Tử nói: “Phép lớn trong quân, gấp dùng bùa phép”, khi thời môn không lợi, cho nên phù sáu đinh dùng để nhương tai. Nhưng phải dụng chú vào bàn tay, vạch lôi ấn, lắc chuông phương Giáp mới ứng nghiệm. Lệ này rất thần do đức Cửu Thiên Huyền nữ truyền thụ trong quân thần phù sáu Đinh sáu Giáp.
 1-Phù Giáp Tý – Giáp Tý thần quân

Hiệu là Phi Thiên đại đế. Lại tên Quyền Quỷ tướng quân. Thần này đầu chuột thân người, cao một trượng 9 xích, ở cung Dương Quang Thiên Lũy.
Thống lĩnh thần tướng 9 vạn 9 ngàn 9 trăm. Trợ người trung hiếu, giận giết bất nhân bất nghĩa. Dưới chín trời xanh xanh.
(Giáp Tý Thần Quân, hiệu viết Phi Thiên Đại Đế. Hựu danh Quyền Quỷ Tướng Quân. Kỳ thần Thử đầu nhân thân. Cao nhất trượng Cửu xích. Cư Dương Quang Thiên Lũy chi cung. Thống lĩnh thần tướng cửu vạn cửu thiên cửu bách. Trợ hữu trung hiếu, nộ sát bất nhân bất nghĩa. Cửu Thiên Thanh Thanh chi hạ). Kiểu phù trường 1 xích 9 thốn, khoát 3 thốn 1 phân. Dùng giấy xanh đen, son 9 (Chu sa) mà làm thì hơn cả.

2-Phù Giáp Tuất – Giáp Tuất Thần Quân 

Hiệu là Yếm Lang. Lại tên Tư Ngục Tướng Quân.
Thần này đầu chó thân người, tướng nữ. Tính thần thích rượu. Ở cung Tây Hoàng Thiên Thái. Thống lĩnh binh thần 5 vạn 5 ngàn 5 trăm 5 chục số. Thích trợ chính tướng. Thù chém tặc binh.
Thân cao 1 trượng 6 xích. Buộc chỉ tơ dưới Cửu Thiên Thanh Hoàng.
(Giáp Tuất Thân Quân. Hiệu viết: Yếm Lang, Hựu danh Tư Ngục Tướng Quân. Kỳ thần Khuyển đầu nhân thân nữ tướng. Kỳ tính hiếu tửu. Cư Tây Hoàng Thiên Thái chi cung. Thống lĩnh thần binh ngũ vạn ngũ thiên ngũ bách ngũ thập số. Hỷ trợ chính tướng – thù trảm tặc binh. Thân trường nhất trượng lục xích. Luân quán Cửu Thiên Thanh Hoàng hạ).
Kiểu phù trường 1 xích 6 thốn khoát 2 thốn 9 phân. Dùng giấy đại hoàng, son hồng mà làm thì hơn cả.

3-Phù Giáp Thân - Giáp Thân Thần Quân

Hiệu là Lục Phù Thân. Lại tên gọi Tiệp Báo Tướng quân.
Thần này đầu khỉ thân người, cao 2 xích 5 thốn. Tính ăn ngọt thích dâm. Ở cung Thiên Việt. Thống lĩnh thần binh 7 vạn 7 ngàn 7 trăm 7 chục. Ưa trợ thuận kích nghịch. Chỉ tơ buộc dưới chín trời xanh trắng.
(Giáp Thân Thần Quân. Hiệu viết Lục Phù Thân. Hựu danh viết Tiệp Báo Tướng Quân. Kỳ thần Hầu thủ nhân thân, trường nhị xích ngũ thốn. Tính cam thực, hiếu dâm. Cư Thiên Việt chi cung. Thống lĩnh thần binh  thất vạn thất thiên thất bách thất thập số. Hỷ trợ thuận kích nghịch. Luân quán Cửu Thiên Thanh Bạch).
Kiểu phù: trường 1 xích 5 thốn, khoát 2 thốn 7 phân. Dùng giấy Bạch ô, son (chu sa) mà làm là hơn cả.

4-Phù Giáp Ngọ - Giáp Ngọ Thần Quân

Hiệu là Bình Thủy Tướng Quân
Thần này đầu ngựa thân người. Cao 1 trượng 9 xích. Tính rất hăng, không nên tốc triệu. Ưa chó béo vật hiếm. Kiêng dùng thịt ngựa cũng dưỡng. Thống lĩnh binh thần 9 vạn 9 ngàn 9 trăm 9 chục số. Thích trợ báo thù. Tơ buộc dưới thanh hồng.
(Giáp Ngọ Thần Quân. Hiệu viết Bình Thủy Tướng Quân. Kỳ thần Mã đầu nhân thân, cao nhất trượng cửu xích. Tính tối liệt bất nghi tốc triệu. Hiếu phì khuyển vưu vật. Kỵ dụng mã nhục cung dưỡng. Thống lĩnh thần binh cửu vạn cửu thiên cửu bách cửu thập số. Hỷ trợ báo cừu. Luân quán thanh hồng hạ).
Kiểu phù: trường 1 xích 9 thốn, khoát 3 thốn 2 phân. Dùng giấy thanh hồng, hắc đen sa mà làm là hơn cả.

5-Giáp Thìn – Giáp Thìn Thần Quân

Hiệu là Bình Man Tướng Quân. Thần này đầu rồng thân người, cao 1 trượng 9 xích. Tính thanh cao, thuận được, không nghịch được. Thích phương Đông Nam. Phù trợ chân nhân, quét sạch khí yêu. Thống lĩnh binh thần 5 vạn 5 ngàn 5 trăm 5 chục số. Tơ buộc dưới thanh hoàng.
(Giáp Thìn Thân Quân. Hiệu viết Bình Man Tướng quân. Kỳ thần Long thủ nhân thân, cao nhất trượng cửu xích. Tính thanh cao, khả thuận bất khả ngịch. Hỷ phương Đông Nam. Phụ trợ chân nhân, tảo đãng yêu khí. Thống lĩnh thần binh ngũ vạn ngũ thiên ngũ bách ngũ thập số. Quán luân thanh hoàng hạ).
Kiểu phù: trường 1 xích 9 thốn, khoát 3 thốn 9 phân. Dùng giấy thanh hoàng, hông chu sa mà làm là tốt nhất.

6-Phù Giáp Dần – Giáp Dần Thần Quân

Hiệu là Lục Nghiệt Tướng Quân. Tên thần là Quán Giai Lang. Thần này đầu hổ thân người, cao 1 trượng có hơn. Tính rất nóng không thể coi thường. Phù cường ức nhược, giúp chính hại tà. Thần ở vị Thiên Uyển (vườn trời). Thường qua cung Lục Cát. Thống lĩnh thần tướng 7 vạn 7 ngàn 7 trăm 7 chục số. Tơ buộc dưới thanh hắc.
(Giáp Dần Thần Quân. Hiệu viết Lục nghiệt tướng quân. Kỳ danh Quán Giai Lang. Kỳ thần Hổ đầu nhân thân, cao nhất trượng hữu cơ. Tính tối táo bất khả khinh. Phù cường ức nhược, đăng chính hại tà. Thân cư Thiên Uyển chi vị. Thường du Lục Cát chi cung. Thống lĩnh thần tướng thất vạn thất thiên thất bách thất thập số. Luân quán thanh hắc hạ).
Kiểu phù: trường 1 xích 3 thốn, khoát 2 thốn 7 phân. Dùng giấy xanh trát chu hồng mà làm là hơn cả.
Trên đây vạch thần phù sáu Giáp. Dùng kiếm quyết. Lấy tay trái, ngón cái bấm Thiên cương, nâng kiếm ngồi kiễng chân, niệm thầm thần chú Sáu Giáp 7 lần. Hớp 1 hớp khí phương Đông thổi vào thần bút một hơi hà. Dùng 1 bình nước ao trời (nước sông nước biển). Đem phù đốt trong bình, yếm của không lợi thì hóa hung làm cát. Chú rằng:
Ta gọi thần Lục Quân Nguyên Dương Giáp Tý, lại kíp đi. Nguyện thần chứng thân ta. Các Quỷ Khôi, Khang, Mão, Tịch, Muội, Cát, Tính vời vâng Thái Thượng Lão Quân kíp kíp như lệnh luật.

PHÙ LỤC ĐINH 1-Đinh Mão thần quân: hiệu là Lục Tướng Quân.

Thần này đầu thỏ thân người, tính rất hòa nhu. Cao 1 trượng 6 xích, nắm quyền lửa sấm chín trời. Thống lĩnh binh thần 6 vạn 6 ngàn 6 trăm 6 chục số. Đuổi tà chém quỷ, phụ tá bậc chân. Linh tích dưới thanh xích.
(Đinh Mão thần quân. Hiệu viết Lục Tướng Quân. Kỳ thần thỏ đầu nhân thân, tính tối nhu hòa, cao nhất trượng lục xích. Tư Thiên lôi hỏa chi quyền. Thống lĩnh thần binh lục vạn lục thiên lục bách lục thập số. Khu tà trảm quỷ, phụ tá chân nhân. Linh tích thanh xích hạ).
Kiểu phù: Trường 1 xích 6 thốn, khoát 3 thốn 3 phân. Dùng giấy hồng xanh, trát hồng chu là hơn cả.


2-Đinh Sửu Thần Quân: Hiệu là Dịch Tướng Quân

.Đầu trâu thân người. Tính thích vật thơm. Cao một trượng 8 xích. Ở cung Thiên hán. Nắm quyền thủy lợi. Thích chiến nước. Thống lĩnh binh thần 8  vạn 8 ngàn 8 trăm 8 chục số. Chém sạch quân giặc. Linh tích dưới xích hoàng.
(Đinh Sửu thần quân. Hiệu viết Dịch tướng quân. Ngưu đầu nhân thân. Tính hiếu hương vật. Cao nhất trượng bát xích. Cư Thiên Hán chi cung. Tư thủy lợi chi quyền. Hiếu thủy chiến. Thống lĩnh thần binh bát vạn bát thiên bát bách bát thập số. Trảm chu tặc binh. Linh tích xích hoàng hạ).
Kiểu phù: trường (dài) 1 xích 8 thốn, khoát 5 thốn 3 phân. Dùng giấy vàng trát son mà làm là tốt nhất.

3-Đinh Hợi Thần Quân: hiệu là Đồ tướng quân.

Thần này đầu lợn thân người. Tính hay ăn gạo uống rượu. Nên khoan mời không thể cấp triệu. Thân cao 1 trượng 4 xích. Trấn cung Thiên Hoàng. Ưa phụ thuận giết nghịch. Thống lĩnh binh thần 4 vạn 4 ngàn 4 trăm 4 chục số. Linh tích dưới xích hoàng.
(Đinh Hợi thần quân. Hiệu viết Đồ tướng quân. Kỳ thần trư thủ nhân thân. Tính hiếu mễ thực ẩm tửu. Nghi khoan thỉnh, bất khả cấp triệu. Thân cao nhất trượng tứ xích. Trân Thiên Hoàng chi cung. Hỷ phụ thuận trừ nghịch. Thống lĩnh thần binh tứ vạn tứ thiên tứ bách tứ thập số. Linh tích xích hoàng hạ).
Kiểu phù: trường 1 xích 4 thốn, khoát 2 thốn 9 phân. Dùng giấy hồng đen trát hồng chu mà làm là hơn cả.

4-Đinh Dậu Thần Quân: Hiệu là Phi Tướng Quân.

Thần đầu gà thân người. Tính rất ác, không phạm được. Thích ăn rượu thịt. Ưa đánh bộ, quên đánh nước. Thân cao 1 trượng 6 xích. Ở cung Thiếu Vi. Thống lĩnh thần binh 6 vạn 6 ngàn 6 trăm 6 chục số. Cướp trại phá lũy, chém tướng, nhổ cờ, đuổi chạy trục hứng. Dưới cung xích bạch.
(Đinh Dậu thần quân. Hiệu viết Phi Tướng Quân. Kỳ thần kê thủ nhân thân. Tính tối ác bất khả phạm. Hỷ thực tửu nhục. Hiếu lục chiến, vong thủy chiến. Thân nhất trượng lục xích. Cư Thiếu Vi chi cung. Thống lĩnh thần binh lục vạn lục thiên lục bách lục thập số. Kiếp trại phá lũy, trảm tướng khiêu kỳ, truy bôn trục thác, linh tích xích bạch hạ).
Kiểu phù: trường 1 xích 6 thốn, khoát 3 thốn 1 phân. Dùng giấy đỏ trát son mà làm là hơn cả.

5-Đinh Mùi thần quân: Hiệu là Tướng quân. 

Thần này đầu Dê thân người. Thích ăn các thứ rau tươi hoa quả. Ưa nắng ráo, ghét mưa tối. Thân cao 1 trượng 8 xích. Ở cung Trấn Nam cục. Thống lĩnh thần binh 8 vạn 8 ngàn 8 trăm 8 chục số.. Xông giặc phá trận, địch không cản được. Linh tích dưới cung xích.
(Đinh Mùi Thần Quân. Hiệu viết Tướng Quân. Kỳ thần Dương thủ nhân thân. Hỷ thục thái sơ quả phẩm chi vật. Hiếu liệt nhật, kỵ âm vũ. Thân cao nhất trượng bát xích. Cư Trấn Nam cục chi cung. Thống lĩnh thần binh bát vạn bát thiên bát bách bát thập số. Xung lỗ phá trận, địch bất năng ngự. Linh tích xích hạ).
Kiểu phù: trường 1 xích 8 thốn, khoát 3 thốn 1 phân. Dùng giấy đỏ vàng trát chu sa mà làm là hơn cả.

6-Đinh Tỵ Thần Quân: Hiệu là Trần Tướng Quân. 

Đầu rắn thân người. Tính rất độc không thể nhờn dùng. Hay ăn thịt giống nuôi. Không ngại thủy bộ. Cao 1 trượng 4 xích 9 thốn. Trấn thủ cung Thiên Bình. Thống lĩnh thần binh 4 vạn 4 ngàn 4 trăm 4 chục số. Lấy lại thành, hãm trận địa, biến hóa vô cùng. Linh tích dưới cung xích xích.
(Đinh Tỵ thần quân. Hiệu viết trần tướng quân. Xà thủ nhân thân. Tính tối độc bất khả khinh dụng. Hỷ thực lục súc chi vật. Bất kỵ thủy lục. Cao nhất trượng tứ xích cửu thốn. Trấn thủ Thiên Bình chi cung. Thống lĩnh thần binh tứ vạn tứ thiên tứ bách tứ thập số. Phục thành hãm trận, biến hóa vô cùng. Linh tích xích xích hạ).
Kiểu phù: trường 1 xích 4 thốn 9 phân. Dùng giấy hồng trát hắc đen mà làm là hơn cả.

Trên đây, vạch phù Sáu Đinh. Dùng quyết Đẩu. Lấy ngón cái tay trái đóng trời, bước địa đẩu, rồi ngồi. Niệm ngầm thần chú sáu Đinh 7 lần. Hớp 1 ngụm khí phương Nam thổi vào thần bút một hơi hà. Phép ngồi như trước, chú rằng:
“Binh thần sáu Đinh, là tinh tám quái. Thúc đẩy tướng thần yên bên thân ta. Nghe chú đến ngay. Trăm việc thông linh. Không việc không báo, không được động lệnh. Ta vâng đức Cửu Thiên Huyển Nữ kíp kíp như luật lệnh”.
(Lục Đinh thần binh, bát quái chi tinh. Suy lệ thần tướng an tại ngô thân. Văn chú tốc chí. Bách sự thông linh. Vô sự bất báo, bất đắc động lệnh. Ngô phụng Cửu Thiên Huyền Nữ, cấp cấp như luật lệnh).

PHÉP THIÊN CƯƠNG BỘ ĐẨU

Thiên Cương đại thánh
Giúp ta phá quân
Ví cướp doanh giặc
Phá đuổi chạy trốn
Cấp cấp luật lệnh.
(Thiên Cương Đại Thánh
Tự ngã phá quân
Thẳng kiếp giặc doanh
Phá bình đào vong
Cấp cấp như luật lệnh).
Chiến binh tự loạn
Gặp giặc chém giết
Đốt cướp doanh giặc
Che giấu binh ta
Vận nhật khí ta,
Suy Vưu thất tinh.
(Chiến binh tự loạn. Phù tặc chu trảm. Siêu kiếp khấu doanh. Ẩn tàng ngô binh. Vận ngô nhật khí. Suy vưu thất tinh).
Lời người dịch:
Mục này bản nguyên không có hình vẽ. Bài chú trên thấy in dọc. Bài chú dưới thấy in ngang lên trên bài trên. Trên cùng có chữ Tàng. Không hiểu ý tứ ra sao.
 Bản dịch của Thày Nhược Thủy - dienbatn giới thiệu.