Translate

Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2021

CÁC VƯƠNG QUỐC ẤN ĐỘ ĐẦU TIÊN TRÊN ĐẤT VIỆT VÀ VÙNG ĐÔNGNAM Á TỪ THỜI CỔ ĐẾN GIỮA THẾ KỶ THỨ TƯ

CÁC VƯƠNG QUỐC ẤN ĐỘ ĐẦU TIÊN TRÊN ĐẤT VIỆT VÀ VÙNG ĐÔNGNAM Á TỪ THỜI CỔ ĐẾN GIỮA THẾ KỶ THỨ TƯ

25 Tháng 11 2013 lúc 14:17
George Coedes:
CÁC VƯƠNG QUỐC ẤN ĐỘ ĐẦU TIÊN
TRÊN ĐẤT VIỆT VÀ VÙNG ĐÔNGNAM Á
TỪ THỜI CỔ ĐẾN GIỮA THẾ KỶ THỨ TƯ
Lời người dịch: Dưới đây là bản dịch Chương 3 của tác phẩm nhan đề The Indianized States of Southeast Asia của G. Coedès, một tác phẩm được xem như "kinh điển" bắt buộc phải học tại các đại học ngoại quốc, cho việc học hỏi và nghiên cứu về lịch sử ban sơ của vùng Đông Nam Á.

Chương này trình bày về sự thành lập của các quốc gia thời cổ trên đất Việt như Phù Nam, Lâm Ấp tức Chàm hay Chiêm Thành sau này nhưng chưa đề cập đến Chân Lạp tức Căm Bốt sau này.  Các vương quốc đầu tiên trên đất Việt này đều chịu ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ nên các dịa danh và nhân danh bằng tiếng Phạn (Sanskrit) hay tiếng Pali của Ấn Độ đều đã đuợc phiên âm và ký tự sang Hán ngữ trong các văn bản tham chiếu của Trung Hoa.  Vì trong nguyên bản không có mặt chữ của Hán Tự để tra cứu và đối chiếu mà chỉ có phần ký âm nên trừ rất ít trường hợp gặp từ ngữ thông dụng và không có gì phải nghi ngờ, ngườI dịch giữ nguyên các địa danh hay nhân danh như đã ký âm trong nguyên bản.


CÁC VƯƠNG QUỐC ẤN ĐỘ ĐẦU TIÊN
Từ Khởi Thủy Cho Đến Giữa Thế Kỷ Thứ Tư

Các yếu tố khác nhau được phân tích ở chương trước đã dẫn đến sự tạo lập các quốc gia Ấn Độ nhỏ được cai trị bởi các lãnh tụ mang tên bằng tiếng Phạn (Sanskrit) (*a).  Các quốc gia này bắt đầu xuất hiện vào lúc khởi đầu của thế kỷ thứ ba sau Dương Lịch, do đó xác nhận các dữ liệu trong các danh biểu địa dư của Ptolemy (1) (*b).

Các quốc gia này chỉ để lại một ít vết tích khảo cổ học hay văn bia từ thời kỳ trước thế kỷ thứ năm.  Chúng ta biết rất ít về phần lớn các vương quốc đó trước nhật kỳ nêu trên ngoại trừ các quốc hiệu được đề cập tới bởI Ptolemy, bởi Nghĩa Thích Kinh Niddesa (*c), và, quan trọng hơn hết, bởi các sử ký biên niên của các triều đại Trung Hoa, có ghi chép một cách kỹ lưỡng các sứ đoàn ngoại giao đến từ vùng biển Nam Hải.  Vị trí của phần lớn các quốc gia này không chắc chắn hay chỉ được phỏng chừng.

Vương quốc nhỏ nhất của các xứ sở này thường sẽ lọt vào quỹ đạo của các vương quốc hùng mạnh nhất -- những vương quốc nhất thiết có một tương lai tươi sáng, mà lịch sử của chúng có thể được phác họa lại từ các văn bản và văn bia của Trung Hoa.

  1. 1.      KHỞI THỦY CỦA PHÙ NAM (THẾ KỶ THỨ NHẤT SAU DƯƠNG LỊCH):

Vương quốc quan trọng nhất trong những vương quốc này hiển nhiên là quốc gia mà Trung Hoa gọi là Phù Nam (Funan).  Danh xưng này là sự phát âm theo Quan Thoại hiện nay của hai từ đã từng được đọc là b’iu-nâm (2), vốn là ký tự của chữ Khmer cổ bnam, có cách viết hiện đại là phnom, “núi đồi”. Các vị vua của xứ sở này bao gồm trong vương hiệu của họ thành ngữ “vua núi” (king of the mountain) –trong Phạn ngữ (Sanskrit) là parvatabhupalahay sailaraja, trong tiếng Khmer là kurung bnam  (3).  Người Trung Hoa đã đi đến việc chỉ danh xứ sở bằng vương hiệu này.

Trung tâm của xứ sở tọa lac tại vùng hạ lưu và đồng bằng sông Cửu Long, nhưng lãnh địa của nó vào thời cực thịnh bao gồm cả miền nam Việt Nam, miền trung sông Cửu Long, và phần lớn Thung Lũng sông Menam cùng bán đảo Mã Lai.  Thủ đô của nó trong một thời kỳ là Vyadhapura, “thành phố của những người săn bắn” (the city of hunters) (4) – trong Hán ngữ là T’e mu, có thể là ký tự của một từ ngữ trong tiếng Khmer (dmâk, dalmâk) có cùng một ý nghĩa (5).  Thành phố tọa lạc ở vùng lân cận ngọn đồi Ba Phnom và làng Banam, hai địa điểm trong tỉnh Prei Veng của Căm Bốt mà, trong danh xưng của chúng, được lưu truyền mãi đến thời đại chúng ta để ghi nhớ địa danh cổ xưa này.  Theo Sử Ký nhà Lương (History of the Liang)  (6) thủ đô này nằm cách bờ biển 500 lí (dặm) (200 km).  Khoảng cách này gần tương đương với khoảng cách từ Ba Phnom với địa điểm Óc Eo (7), nơi có tọa lạc, nếu không phải chính là một hải cảng, thì ít nhất cũng là một thị trường có các thương nhân ngoại quốc đến cư ngụ.

Những tin tức đầu tiên về Phù Nam đến từ một bản tường trình bởi phái bộ của các sứ giả Trung Hoa K’ang T’ai và Chu Ying là những kẻ đã đến thăm viếng xứ sở này vào giữa thế kỷ thứ ba (8).  Bản gốc của sự tường thuật của họ đã thất lạc, nhưng vẫn còn lại các đoạn trích dẫn nằm rải rác trong các biên niên sử và trong nhiều bộ toàn thư.  Những tài liệu này, cùng với một bản văn bia bằng tiếng Phạn hồi thế kỷ thứ ba, tạo thành tư liệu căn bản của chúng ta về hai thế kỷ đầu tiên trong lịch sử của vương quốc này.

Theo K’ang T’ai, nhà vua đầu tiên của Phù Nam là một kẻ nào đó tên là Hun-t’ien, tức là Kaundinya, đến hoặc từ India hay từ Bán Đảo Mã Lai hay các hòn đảo ở phương nam (9).  Vị vua này, nằm mơ thấy vị thần bổn mạng trao một nỏ thần cho ông ta và chỉ thị ông leo lên một thương thuyền lớn, ra đi trong buổi sáng để tiến đến một ngôi đền, nơi mà ông ta tìm thấy một cái nỏ dưới gốc cây của vị thần.  Rồi thì ông ta đã bước lên một chiếc thuyền, mà vị thần đã cho cập bến vào Phù Nam.  Vị hoàng hậu của xứ này, Liu-ye, “Willow Leaf: Liễu Diệp (?)”, muốn cướp đoạt chiếc thuyền và cầm giữ nó, vì thế Hun-t’ien đã bắn một mũi tên từ nỏ thần của mình xuyên qua chiếc thuyền của Liu-ye.  Qúa sợ hãi, hoàng hậu bèn đầu hàng, và Hun-t’ien đã lấy bà ta làm vợ.  Nhưng, không hài lòng khi thấy bà ta trần truồng, ông đã dùng một mảnh vải gấp lại làm thành quần áo mà ông đã bắt bà ấy mặc chui qua đầu.  Sau đó ông cai trị đất nước và truyền ngôi lại cho các hậu duệ của mình.

Đây là dịch bản của Trung Hoa về các nguyên ủy vương triều xứ Phù Nam.  Bản dịch này rõ rệt là một bản dịch sai lệch từ một chuyện thần thoại của Ấn Đô, được kể lại một cách trung thực hơn bởi một văn bia bằng Phạn Ngữ của xứ Chàm (10).  Theo bản dịch này, vị tăng lữ Kaundinya, nhận được một cây dáo (lao) dài từ vị tăng lữ Asvatthaman, con của Drona, đã phóng lao đi để đánh dấu địa điểm của kinh đô tương lai của mình, sau đó đã cưới một công chúa con của vi vua Nagas [vua Rắn trong truyền thuyết của Ấn Độ?, chú của người dịch] tên là Soma, người đã sản sinh ra một giòng dõi hoàng tộc (11) .  Sự phối hôn huyền bí này -- vốn vẫn còn được truy niệm tại triều đình Angkor vào cuối thế kỷ thứ mười ba trong một nghi lễ được nhắc tới bởi vị sứ giả Trung Hoa tên Chou Ta-kuan (Châu Đạt Quan) (12), và các biên niên sử hiện đại của Căm Bốt vẫn còn lưu giữ truyền ức này (13) -- thì giống hệt với câu chuyện mà các vị vua Pallava của vùng Kanchi, miền Nam Ấn Độ, xác nhận mình là hậu duệ (14).  Tuy nhiên, đã có những ý kiến khác nhau về nguồn gốc mơ hồ của chủ đề thần thọai này (15).

Trong bất kỳ trường hợp nào, các biến cố lịch sử bó buộc phải phù hợp với bố cục này đã không thể nào xảy ra sau thế kỷ thứ nhất theo Dương Lịch, bởi ngay từ lúc khởi đầu của thế kỷ thứ nhì kế đó chúng ta tìm thấy các nhân vật lịch sử Phù Nam với sự xuất hiện được ghi nhận bởi văn bia và các sử gia Trung Hoa.

Theo Sử Ký nhà Lương (History of the Liang), một trong những hậu duệ của Hun-t’ien, tên là Hun-p’an-huang trong Hán ngữ, đã hơn chín mươi tuổi vào lúc từ trần. Ông này được kế vị bởi “con trai thứ nhì của mình tên P’an-p’an, là kẻ đã giao thác việc trông coi sự cai trị của mình cho vị tướng quân tài giỏi là Fan Man,” (16) vốn có tên đầy đủ là Fan Shi-man, theo Sử Ký của nhà Ch’i phương Nam (History of the Southern Ch’i). (17)”  Sau ba năm trị vì, P’an-p’an băng hà.  Toàn thể thần dân của vương quốc đã tuyển chọn [Fan Man] làm vua. Ông ta là một người can đảm và có khả năng.  Một lần nữa, với đội quân hùng mạnh của mình, ông ta đã tấn công và khuất phục các vương quốc láng giềng; và tất cả các vương quốc này đều trở thành nước thần phục ông ta. Ông tự đặt vương hiệu của mình là Đại Quốc Vương của Phù Nam.  Sau đó ông ra lệnh đóng chiếc thuyền lớn, và lái thuyền trên khắp vùng biển mênh mông ông đã tấn công hơn mười vương quốc,  trong đó bao gồm cả Ch’u-tu-k’un, Chiu-chihm và Tien-sun. Ông đã mở rộng lãnh thổ của mình đến năm hay sáu nghìn lý ( li: dặm)” (18)

  1. 2.      CÁC VƯƠNG QUỐC ẤN ĐỘ TẠI BÁN ĐẢO MÃ LAI TRONG THẾ KỶ THỨ NHẤT KỶ NGUYÊN THIÊN CHÚA
Rolf Stein đã tin rằng trong văn bản trên Ch’u-tu-k’un phải được đọc là Ch’u-tu, Tu-k’un, vân vân, và rằng Ch’u-tu phải được xác định là Ch’u-tu-ch’ien (hay –kan), là xứ mà ông tin là tương ứng với xứ Kattigara của Ptolemy (19).  Xứ sở này, được tạo lập bởi các di dân từ vùng Chu-wu (bắc Quảng Trị, giữa Cửa Tùng và Cửa Việt), phải được truy tìm tại vùng Cochin-china, nơi mà những cuộc nghiên cứu gần nhất cũng có khuynh hướng xác định địa điểm của Kattigara (20).  Nhưng có lẽ phải tách rời Ch’u-tu-k’un với Ch’u-tu-ch’ien.(21)
Tien-sun chắc chắn là đồng nhất với Tun-sun, xứ mà một bản văn thời thế kỷ thứ năm-  đến thế kỷ thứ sáu mô tả như là một xứ lệ thuộc của Phù Nam (22).  Chúng ta có thể chấm định xứ này với một vài xác xuất trên vùng Bán Đảo Mã Lai, và một cách khá chính xác hơn trên hai bờ biển của eo đất Kra (23); các dữ liệu rải rác có được về các xứ sở khác cũng chỉ hướng về cùng chiều hướng này (24).  Các cuộc chinh phục của Fan Shih-man khi đó môt phần sẽ phải xảy ra trên vùng bán đảo, nơi mà một số văn bản khác của Trung Hoa đã tiết lộ sự hiện hữu của nhiều tiểu vương quốc Ấn Độ hóa ở một thời kỳ rất sớm.
Một trong những nước cổ xưa nhất này có vẻ là nước Lang-ya-hsiu, mà sự thành lập đã được Sử Ký nhà Lương (502-556) ghi nhận vào khoảng “hơn 400 năm trước đó.” (25)  Vương quốc này, sẽ tái xuất hiện vào cuối thế kỷ thứ bẩy dưới các tên Lang-chia-shu, Lang-ya-ssu-chia, vân vân, chính là vương quốc Langkasuka trong các biên niên ký của Mã Lai và đảo Java (26); danh xưng của nó tồn tại trong địa dư hiện đại dưới tên của một chi lưu chảy vào nhánh thượng nguồn của giòng sông Perak River (27). Xứ này phải nằm dọc theo hai bên sườn của bán đảo và có sự tiếp cận cùng một lúc với Vịnh Thái Lan nơi miền Pattani (28) và với Vịnh Bengal, phía bắc Kedah, nhờ thế kiểm soát được một trong những con đường chuyển vận trên đất liền như đã thảo luận trong chương trước đây.
Tambralinga, nằm bên bờ biển phía đông của Bán Đảo Mã Lai giữa Chaiya ở hướng bắc và Pattani ở hướng nam, có trung tâm tại vùng Ligor (29), nơi có một văn bia bằng tiếng Phạn có nhật kỳ từ thế kỷ thứ sáu hay sau đó (30).  Sự đề cập đến nó trong kinh Phật Giáo bằng tiếng Pali (*d) (Niddesa; Nghĩa Thích Kinh) bằng danh từ “Tambalingam” (31) chứng tỏ rằng vương quốc này đã sẵn hiện hữu vào khoảng thế kỷ thứ nhì.
Trường hợp tương tự cũng xảy ra với Takkola (32), được trích dẫn trong một văn bản Phật Giáo khác, với tên Milindapanha; đã có một sự đồng ý chung rằng thị trấn này tọa lạc tại Takuapa nằm bên bờ biển phía tây của eo đất Kra hay có thể xa hơn về phía nam (33).  Về hải cảng mà địa danh được ký tự sang Hán ngữ là T’ou-chu-li và đôi khi được đồng nhất hóa với Takkola, Paul Wheatley (34) vạch cho thấy rằng danh từ này trong thực tế là Chu-li và rằng nó tương đương với địa danh Koli của Ptolemy, có lẽ ở vùng cửa sông Kuantan.  Chính từ địa điểm này mà sứ đoàn được Phù Nam phái đi sang Ấn Độ hồi thế kỷ thứ ba đã bước xuống tàu.
Nếu chúng ta không kể đến các ngôi mộ bằng đá tảng khổng lồ tại Perak và Pahang và những sự khám phá các ngọc trai Ấn Độ và “La Mã” tại Kota Tingi vùng Johore (35), vốn thuộc vào lãnh vực lịch sử nguyên thủy (proto-history), chính là từ vùng Kedah và vùng Perak mà các di tích khảo cổ và văn bia cổ xưa nhất của Bán Đảo Mã Lai đã được phát hiện.
Những sự khám phá đó tại Kedah thuộc về nhiều thời kỳ khác nhau.  Chúng chứng thực tính cổ xưa của địa điểm này, mà chúng ta sẽ lại đựoc nghe thấy sau này dưới tên trong Phạn ngữ là Kataha và trong tên bằng Hán ngữ là Chieh-ch’a.  Nhưng, như các văn bia và các khám phá khảo cổ khác (36), chúng cũng không có nhật kỳ lùi xa như của Ptolemy, của Nghĩa Thích Kinh Niddesa, hay các văn bản của Trung Hoa, tức, lùi xa mãi đến tận thời kỳ có các cuộc chinh phục của Phù Nam trên vùng bán đảo. (37)

  1. 3.      PHÙ NAM (THẾ KỶ THỨ NHÌ ĐẾN THẾ KỶ THỨ BA):
Thật khó để xác định chính xác phạm vi của các cuộc chinh phục của Fan-Shih-man.  Có lý do tốt để xem tên gọi của ông ta như là tiếng phiên dịch từ tên của nhà vua Sri Mara vốn được đề cập đến trong bia đá khắc chữ Phạn đầy cổ kính tại Võ Cạnh (trong vùng Nha Trang) (38).  Văn bia này từ lâu được nghĩ là của người Chàm (39), nhưng vào năm 1727 Louis Finot đã gán nó cho một vương quốc chư hầu của Phù Nam (40).  Nếu lý lịch của Sri Mara (41) đồng nhất với Fan Shih-man là chính xác, bia ký -- vốn phát sinh từ một hậu duệ của Sri Mara là người đã trị vì, theo phán đóan từ bản bia ký, trong thế kỷ thứ ba -- phải được xem là một trong những nguồn tư liệu về lịch sử của Phù Nam. Điều hiển nhiên từ bia ký này là vào thời điểm tấm bia đuợc khắc và tại vùng mà bia được dựng (tức vùng Khánh Hòa ngày nay), Phạn ngữ đã là ngôn ngữ chính thức của vương triều.
Các văn bản Trung Hoa đã dẫn cho chúng ta biết rằng nhà chinh phục vĩ đại Fan Shih-man đã chết trên đường viễn chinh chống lại xứ Chin-lin, hay Biên Cương Vàng (Frontier of Gold), là địa danh, mà chúng ta có lý do để tin tưởng, tương đương hoặc với Suvannabhumi, xứ Đất Vàng (the Land of Gold) trong các văn bản tiếng Pali (Ba Lị), hay với từ Suvarnakudya, Bức Tường Vàng (the Wall of Gold) trong các văn bản tiếng Phạn (vùng Hạ Miến (Lower Burma) hay Bán Đảo Mã Lai) (42).  Một người cháu trai của Fan Shih-man, tên Fan Chan, hạ sát người kế ngôi chính thống, Chin-cheng, và chiếm đoạt quyền hành.  Nhưng khoảng hai mươi năm sau, Fan Chan bị ám sát bỏi một người con trai của Fan Shih-man tên là Ch’ang.  Sự trả thù này không phải là không có hậu quả, bởi đến lượt Ch’ang đã bị hạ sát bởi một viên tướng tên là Fan Hsun, kẻ đã tự xưng lên ngôi vua.
Những biến cố này đã xảy ra vào khoảng giữa năm 225 và năm 250 (43), và trong thời khoảng giữa hai năm này, dưới thời trị vì của Fan Chan, Phù Nam đã tiến tới sự quan hệ với triều đại Ấn Độ tại Murundas và đã gửi sứ đoàn đầu tiên đến Trung Hoa.  Tôi có nhấn mạnh ở đâu đó (44) rằng tầm quan trọng của “biến cố này, vốn có liên hệ đến các sự  quan tâm về thương mại nhiều hơn về các tham vọng chính trị, mang lại một tầm quan trọng nào đó cho thời trị vì của vị vua này.  Trong thời này, tức thời Tam Quốc, miền nam nước Trung Hoa (nước Ngô) nhận thấy rằng nó không thể xử dụng đường bộ bị kiểm sóat bởi nước Ngụy để giao thương với phương Tây, đã tìm cách thụ đắc bằng đường biển các xa xỉ phẩm mà nó mong muốn (45).  Bấy giờ Phù Nam chiếm ngụ một vị trí ưu việt trên lộ trình hải thương và tất yếu trở thành một trạm giữa đường cho các thủy thủ đi qua Eo Biển Malacca cũng như cho các thủy thủ, nhiều hơn gấp bội, đi ngang qua các eo đất của Bán Đảo Mã Lai.  Có thể Phù Nam còn là trạm chót cho cho hải trình từ  phía đông Địa Trung Hải, nếu quả thực Kattigara của Ptolemy nằm ở bờ biển phía tây của Cochin China.”
“Thời trị vì của Fan Chan thì quan trọng,” như Paul Pelliot viết (46); “chính kẻ tiếm ngôi này đã là người đầu tiên thiết lập các quan hệ chính thức và trực tiếp với các ông hòang của Ấn Độ.  Một văn bản của thế kỷ thứ năm cho biết rằng một nhân vật nào đó tên Chia-hsiang-li, bản dân của xứ mang tên T’an-yang, có vẻ tọa lạc tại miền tây Ấn Độ, đã đến Ấn Độ, và từ đó [Ấn Độ ?, chú của người dịch] sang Phù Nam.   Chính nhân vật này đã truyền dạy cho nhà vua Fan Chan những điều kỳ diệu mà quốc gia này có thể phô diễn cho du khách, nhưng cuộc du hành quá lâu; vừa đi và về có thể kéo dài ba năm và có thể đến bốn năm.  Có phải là nhà vua Fan Chan đã bị quyến rũ bởi sự tường thuật của Chia-hsiang-li hay không? Ít nhất chúng ta biết được từ một ngồn tư liệu đáng tin rằng nhà vua có gửi một trong những thân nhân của ông tên là Su-wu đi trong một sứ đòan sang Ấn Độ.  Nhân vật này lên tàu từ T’ou-chu-li, có lẽ là Takkola (47), cho thấy rằng ảnh hưởng của Phù Nam đã vươn xa tới tận vùng Ấn Độ Dương vào lúc đó.  Sứ đòan đã đến cửa sông Ganges và ngược dòng lên đến thủ đô của một ông hòang không còn gì ngờ vực, như Sylvain Lévi đã nhận ra, thuộc một triều đại Murunda.  Nhà vua Ấn Độ đã dẫn các khách ngọai quốc đi một vòng thăm xứ sở của mình; sau đó nhà vua chia tay với đòan khách, gửi cho họ bốn con ngựa của xứ Indo-Scythian như một quà tặng lên vị vua của đòan khách và cho một người Ấn Độ tên Ch’en-sung đi tháp tùng.  Vào lúc mà Su-wu trở lại Phù Nam, bốn năm đã trôi qua kể từ ngày khởi hành.”
Cũng chính Fan Chan, theo Sử Ký Thời Tam Quốc (History of the Three Kingdoms), là người vào năm 243 “đã gửi một sứ đòan (đến Trung Hoa) để trao tăng vật gồm các nhạc sĩ và các sản vật của xứ sở.” (48)
Liệu cũng chính ông đã là tác giả của bia ký bằng tiếng Phạn đã trích dẫn ở trên, và là người mà văn bản này đã chỉ danh như là một thành viên của gia đình Sri Mara hay không?  Điều này không phải là không thể xảy ra, bởi Fan Chan, con trai của người em (hay chị) gái của Sri Mara,  rất có thể đã tuyên nhận là có quan hệ với vị vua tiền nhiệm.
Kẻ tiếm ngôi Fan Hsun, người kế ngôi Fan Chan sau khi đã hạ sát một người con trai của Fan Shih-man, đã tiếp kiến ở thời điểm nào đó trong khỏang giữa năm 245 đến năm 250 phái bộ Trung Hoa gồm K’ang T’ai và Chu Ying, là những người đã gặp một sứ gỉa của Murundas tại triều đình của vua Fan Hsun. (49)
Phái bộ Trung Hoa này đã thiết lập quan hệ với Phù Nam đưa đến sự sai phái từ vua Fan Hsun một lọat các sứ đòan sang Trung Hoa trong thời khỏang từ năm 268 đến năm 287.  Những sứ đòan này đã được đề cập đến trong Sử Ký nhà Tần (History of the Chin) (50) Ba sứ đòan sau cùng, từ năm 285 đến năm 287, có lẽ là kết quả của sự phục sinh thương mại hàng hải sau khi có sự thống nhất Trung Hoa bởi nhà Tần vào năm 280, một sự thống nhất đã kích thích một ước muốn gia tăng về phía triều đình đối với những sản phẩm và xa xỉ phẩm nhập cảng từ những xứ sở ở phương nam.
Rõ rệt là nhờ ở K’ang T’ai mà chúng ta đã có được các thông tin đầu tiên về xứ sở này: “Có những ngôi làng có tường bao quanh, các dinh thự, và các nhà ở. Đàn ông đều xấu xí và đen đủi, tóc quăn; họ gần như trần truồng và đi chân không.  Bản chất của họ thì đơn giản và họ hòan tòan không có khuynh hướng ăn trộm gì cả.  Họ dồn năng lực vào việc canh nông .  Họ gieo hạt giống một năm và gặt hái cho ba năm [? nguyên văn không rõ nghĩa, chú của người dịch]  Ngòai ra, họ thích chạm trỗ đồ trang trí và đục đẽo.  Nhiều vật dụng ăn uống của họ làm bằng bạc.  Thuế khóa được nạp bằng vàng, bạc, ngọc trai, dầu thơm (nước hoa).  Có sách vở và các kho ký thác văn khố và các vật dụng khác.  Chữ viết của họ giống như thứ chữ của người dân Hồ (Hu) [một sắc dân ở Trung Á Châu xử dụng chữ viết có nguồn gốc Ấn Độ].” (51)
4. CÁC BƯỚC KHỞI ĐẦU CỦA VƯƠNG QUỐC CHÀM (CHAMPA): LÂM ẤP (LIN-YI) (TỪ CUỐI THẾ KỶ THỨ NHÌ ĐẾN GIỮA THẾ KỶ THỨ TƯ}      

Sử Ký nhà Tần có bao gộp một báo cáo vào trong tiểu sử của T’ao Huang, thái thú Trung Hoa tại Đông Kinh [tức bắc Việt Nam ngày nay, chú của người dịch] trong đó ông ta có phàn nàn, vào khỏang năm 280, về các cuộc đột kích của Lâm Ấp.  Vương quốc này, ông cho biết, “phía nam tiếp giáp với Phù Nam.  Họ có nhiều bộ lạc, các nhóm thân hữu tương trợ lẫn nhau; lợi dụng địa hình trắc trở trong vùng của mình, họ không thần phục [Trung Hoa].” (52)

Lâm Ấp là trung tâm đầu tiên của xứ Chàm, đã tiến vào lịch sử vào cuối thế kỷ thứ nhì. Thực sự, các văn bản Trung Hoa xác định sự thành lập của xứ này vào khỏang năm 192. (53).  Một quan chức bản xứ, tên Ch’u-lien (Khu Liên ?, chú của người dịch], lợi dụng sự suy kém quyền lực của nhà hậu Hán, đã cắt một lãnh địa riêng cho mình khỏi chỉ huy sứ của Trung Hoa tại quận Jih-nam (Nhật Nam) (nằm giữa Hòanh Sơn và đèo Hải Vân, và tự xưng làm vua tại tiểu trấn cực nam, tức xứ mang tên Hsiang-lin, tương ứng khỏang đất phía nam tỉnh Thừa Thiên ngày nay của Việt Nam. Thọat đầu tên Lâm Ấp (Lin-yi) “thủ đô xứ Lâm” được nghĩ là tên gọi tắt của chữ Hsiang-lin-yi, tức “thủ đô của xứ Hsiang-Lin” (54) nhưng một học gỉa có nêu ý kiến hồi gần đây rằng đó là một danh hiệu có tính cách chủng tộc (55).  Sự tạo lập vương quốc Lâm Ấp năm 192 đã diễn ra nửa thế kỷ trước đó, vào năm 137, bởi một mưu toan đầu tiên muốn xăm lăng vùng Hsiang-lin của một nhóm khỏang gần một ngàn dân mọi rợ bên ngòai các biên cương của quận Nhật Nam (56); tên của sắc dân này là Ch’u-lien, mặc dù được viết với mặt chữ khác, khó có thể tách biệt ra khỏi tên của kẻ tạo lập ra xứ Lâm Ấp.” (57)

Trong bất kỳ trường hợp nào, gần như chắc chắn rằng “những kẻ mọi rợ này bên ngòai các biên giới của quận Nhật Nam” đã là, nếu không hòan tòan là người Chàm, ít ra cũng là những người Nam Dương (Indonesians) là những kẻ, nếu họ chưa bị ảnh hưởng của Ấn Độ, thì chẳng bao lâu sau cũng sẽ trở thành như thế.

Chúng ta sẽ thấy, trên dòng lịch sử, rằng xứ Chàm bị chia cắt thành một số các địa phương tự nhiên tương ứng với các đồng bằng ven biển.  Tỉnh Quảng Nam ngày nay, với các địa điểm khảo cổ tại Trà Kiệu, Mĩ Sơn, Đông Dương, trong một ý nghĩa nào đó là thánh địa của nước Chàm (58).  Pho tượng đức Phật bằng đồng đẹp đẽ tìm thấy ở Đông Dương là bằng chứng cho tính chất cổ xưa của sự xâm nhập của Ấn Độ trong vùng mang tên -- liệu có phải hòan tòan tình cờ hay không (?) – Amaravati.  Phía nam của Amaravati, các trung tâm chính yếu được đề cập trong văn bia là Vijaya (Phật Thệ?) tại tỉnh Bình Định ngày nay, Kauthara tại đồng bằng Nha Trang, và Panduranga trong vùng Phan Rang.  Những bia ký cho thấy rằng trong thế kỷ thứ tám tiếng Chàm được nói tại các tỉnh phía nam.  Nhưng nguyên thủy các tỉnh phía nam này là một phần của vương quốc Phù Nam. Điều này đã được chứng minh bởi sự hiện diện, trong vùng Nha Trang, văn bia thuộc thế kỷ thứ ba phát sinh từ một vị vua của Phù Nam -- một hậu duệ của Sri Mara (tức Fan Shih-man) có lẽ không ai khác hơn Fan Chan.

Chúng ta không có bằng chứng cổ xưa, tương tự như các bằng chứng về Phù Nam, về sự Ấn Độ hóa của người Chàm và truyền thống xây dựng triều đại của các vị vua của họ; các văn bản Trung Hoa không nói gì về hai điểm này, và im tiếng cho mãi đến khi có một văn bia thuộc thế kỷ thứ chín mới thấy xuất hiện lần đầu tiên tên của Maharshi Bhrigu,  nhân vật của dòng tộc Mahabharata, danh tính tổ tiên của triều đại Bhargavas, triều đại mà các vua Chàm tuyên nhận mình là các hậu duệ.  Về chính danh xưng Champa, từ đó rút ra danh từ Chàm, mặc dù không xuất hiện trong văn bia cho mãi đến lúc khởi đầu thế kỷ thứ bẩy, có thể nó đã có từ rất lâu.

Những hậu duệ của Ch’u-lien lợi dụng sự tan rã của Trung Hoa vào lúc có sự sụp đổ của nhà Hán để bành trướng về phương bắc.  Từ năm 220 đến năm 230, một nhà vua trong họ đã gửi một sứ đòan sang gặp Lu Tai, tổng đốc Quảng Đông và Chiao-chih [Giao Chỉ ?, chú của người dịch] (Đông Kinh) [tức bắc Việt Nam, chú của người dịch], với danh nghĩa thuộc xứ Lâm Ấp, cùng với sứ đòan của Phù Nam, đã xuất hiện lần đầu tiên trong một văn bản Trung Hoa.  Lu Tai, theo Sử Ký Thời Tam Quốc (History of the Three Kingdoms), đã gửi những sứ giả để truyền bá văn minh Trung Hoa vượt qúa các biên giới  phía nam.  Các vua xứ Phù Nam, Lâm Ấp, và T’ang-ming (?) mỗi vua đều gửi một sứ đòan để dâng đồ tiến cống. (59).  Việc này chỉ hòan tòan có tính cách hình thức bởi trong năm 248 các đòan quân của Lâm Ấp nổi lên cướp bóc các làng xã và chiếm giữ luôn sau cuộc đột kích, tiếp theo sau một cuộc giao chiến lớn tại vùng vịnh phía nam mũi Ròn, lãnh thổ của Ch’u-su, tức vùng Ba Đồn [(?), chú của người dịch] trên sông Gianh (60) .  Sau hết nhà vua Fan Hsiung, cháu trai của Ch’u-lien bên phía họ ngọai (61), đã tái diễn các cuộc tấn công này vào khỏang năm 270, được nói có được trợ giúp bởi vua nước Phù Nam, Fan Hsun.  Thái thú tại Đông Kinh [bắc Việt Nam ngày nay, chú của người dịch], tên T’ao Huang, đã mất mười năm để đẩy lui dân Lâm Ấp trở về lại bên trong biên cương của họ.  Từ lúc khởi đầu, các nỗ lực của họ để bành trướng về phía bắc đã đụng độ với lực đẩy xuống của người Việt Nam để nam tiến.  Các trận chiến đánh nhau bởi hai sắc dân đại biểu cho hai nền văn minh cạnh tranh nhau -- giữa người Chàm chịu ảnh hưởng Ấn Độ và người Việt chịu ảnh hưởng Trung Hoa -- được phát động tại vùng từ Hòanh Sơn đến đèo Hải Vân; đưa đến sự triệt thóai chung cuộc của người Chàm trong thế kỷ thứ mười bốn.

Trong năm 284, Fan Yi đã phái một sứ đòan chính thức đầu tiên sang Trung Hoa -- nếu chúng ta không kể đến một sứ đòan đã được gửi đến thái thú Giao Chỉ giữa khỏang từ năm 220 đến năm 230.  Trong hậu bán của thời khoảng trị vì kéo dài hơn 50 năm, Fan Yi có tuyển dụng một nhân vật tên Wen nào đó làm cố vấn.  Nhân vật Wen được xác định trong nhiều văn bản là một người Trung Hoa, quê quán tại Yang-chou, Chiang-su  [Dương Châu, tỉnh Giang Tô (?), chú của người dịch], đã đến định cư tại Lâm Ấp, nhưng ông ta có thể là một người dân bản xứ đã Hán hóa (62) . Ông ta đã đi sang Trung Hoa trong các năm 313 và 316, và học hỏi tại đó nhiều kỹ thuật khác nhau; kiến thức về nền văn minh vật chất của Trung Hoa của ông ta đã có một gía trị vĩ đại đối với quốc vưong chủ nhân ông.  Nhờ dành được sự tin cậy của vị vua già, ông đã vận động để được bổ nhiệm là viên đại tướng tư lệnh và sau đó đã gạt bỏ các người thừa kế ngai vàng sang một bên.  Khi có sự từ trần của Fan Yi, xảy ra một cách bất ngờ trong năm 336, ông ta lên ngôi kế vị Fan Yi.

Fan Wen, đặt thủ đô tại vùng thuộc Huế, đã bình định các bộ lạc man rợ và trong năm 340 đã gửi một sứ đòan sang yết kiến vua Tần để thỉnh cầu rằng biên cương phía bắc của vương quốc ông ta được ấn định tại núi Hòanh Sơn.  Khi hòang đế [nhà Tần, chú của người dịch] ngần ngại từ bỏ những phần đất phì nhiêu của Nhật Nam cho ông ta, Fan Wen đã chiếm giữ các phần đất này vào năm 347, bởi thế đã đem lại cho vương quốc của mình biên cương mà ông ta mong muốn.  Fan Wen đã mất năm 349 trong một cuộc viễn chinh khác hướng về phía bắc ngòai biên cương mới của ông ta./-


 Chú của người dịch:
(*a) Sanskrit : Phạn: ngôn ngữ văn chương của Ấn Độ từ thời cổ. Phần lớn các kinh tạng Phật Giáo được Trung Hoa dịch sang Hán ngữ đều có nguyên bản viết bằng tiếng Phạn.

(*b): Ptolemy (vào khỏang 85 – 165 sau dương lịch): Nhà thiên văn học và địa lý học gốc Hy Lạp và chết tại Alexandria, Ai Cập,  từ thế kỷ thứ nhì, chủ truơng rằng trái đất đứng yên một chỗ và là trung tâm của vũ trụ, trong khi đó mặt trời và các vì sao chạy quanh trái đất.  Danh biểu địa dư của Ptolemy cho vùng xuyên sông Ganges của Ấn Độ ghi đầy những địa danh mà các danh xưng tương ứng bằng tiếng Phạn (Sanskrit) được trích dẫn và thảo luận trong công trình nghiên cứu này của tác giả G. Coedès.  Trong bài dịch này, có đề cập đến giả thuyết rằng Sàigòn ngày nay tương ứng với địa danh Kattigara mà Ptolemy đã ghi trong danh biểu địa dư của ông ta.  Nếu đúng như vậy thì đây có thể là văn bản cổ xưa nhất của tây phương đã đề cập đến phần lãnh thổ của Việt Nam ngày nay.

(*c): Niddesa: Nghĩa thích kinh,  gồm 2 tập: Đại Nghĩa Thích và Tiểu Nghĩa Thích, dùng để luận giải kinh tạng Phật Giáo, được viết bằng tiếng Pali, muộn lắm là vào thế kỷ đầu tiên của kỷ nguyên Thiên Chúa.  Bộ Nghĩa Thích Kinh này có liệt kê một số địa danh mà các nhà nghiên cứu đã nêu nhận xét là có thể dùng để xác minh đựoc nhiều vị trí của các miền xa hơn Ấn Độ.  Có thể nói cho đến nay, chưa có những tài liệu khảo cổ hay văn bia nào lâu đời hơn tập Nghĩa Thích Kinh này. 

(*d) Pāli: Ba lị, một thổ ngữ của Ấn Độ cổ xưa, nay không còn được nói nữa mà chỉ được dùng để viết kinh tạng Phật Giáo, chính yếu là các kinh tạng của Phật Giáo Tiểu Thừa ( Theravada (Hinayana) Buddhist Canon).

----------------------------------

Chú Thích của Tác Giả G. Coedès:

  1. 1.        Xem bên trên, trang 16.  Bởi tác phẩm này không phải là một tập chuyên khảo về địa dư mà lại là một nỗ lực để tổng hợp lịch sử, tôi sẽ chỉ đề cập trong chương này và những chương kế tiếp những danh xưng có một số ý nghĩa quan trọng trong lịch sử các biến cố hay triều đại.  Một sự thảo luận nhiều ý kiến khác nhau đề cập đến vị trí của các địa danh của Ptolemy có thể tìm thấy trong bài viết của Roland Braddell nhan đề “Study of Ancient Times in the Malay Peninsula,” JRASMB (Journal of the Malayan Branch of the Royal Asiatic Society), XIII (1935).
  2. 2.        Đây là lối phát âm thời nhà Đường (T’ang), theo Bernhard Karlgren, Analytic Dictionary of Chinese and Sino-Japanese (n.p., n.d. [không ghi nơi và nhật kỳ xuất bản ?, chú của người dịch] ), các số 41 và 650.
  3. 3.        Xem Louis Finot, “Sur quelques traditions indochinoises,” Mélanges d’indianisme offerts par ses élèves à M. Sylvain Lévi (Paris, 1911), trang 203, và “Séance du 14 Janvier 1927,” JA (Journal Asiatique) (January-March, 1927), trang 186.  Coedès, “On the Origin of the Sailendras of Indonesia,” JGIS (Journal of the Greater India Society), I (1934), trang 67.  Ngọn núi này hiển nhiên là một trong các ngọn núi mà trên đó, như đã nói trước đây (các trang 26-27), người sáng lập một vương quốc theo kiểu Ấn Độ đã thiết định sự thờ phượng một vị thần dân tộc, thường là một dương vật (linga) hay một biểu hiệu nào khác của thần Siva.
  4. 4.        Xem Coedès, “Les traditions généalogiques des premiers rois d’Angkor,” BEFEO (Bulletin de l’École Francaise d’Extrême-Orient), số XXVIII (1956), trang 127.
  5. 5.        Xem Coedès, Inscriptions du Cambodge (Paris, 1937-), II, trang 110, n. 5. Có lẽ từ Vyadhapura có nghĩa “thành phố của ngườI đi săn (nhà vua).” O.W. Wolters, trong thực tế, đã tử tế thông tin (thư ngày 6 tháng MườI Một, 1960) cho tôi hay rằng T’ai-ping Yu-lan, trích dẫn bản tường trình của K’ang T’ai (xem dưới), có đề cập đến một vị vua của Phù Nam tên là P’an-huang-chao (cũng chính là ? Hun P’an-huang, xem dưới, trang 38) đã bắt được các con voi lớn trong rừng và đã thuần hóa được chúng, đưa đến sự thần phục của nhiều xứ sở trong đường hướng này.
  6. 6.        Xem Paul Pelliot, “Le Fou-nan,” BEFEO, III, trang 263.
  7. 7.        Xem chú thích trên, trang 17.  Xem Pierre Courou, “Civilisations et géographie humaine en Asia des moussons,” BEFEO, XLIV (1954), trang 469, sau khi trình bày rằng “các địa điểm khai sinh của các nền văn minh thượng đẳng có vẻ như tương ứng với các giao lộ của sự lưu thông,” có bổ túc: “Hạt nhân của nền văn minh của Phù Nam, từ đó tòan thể lịch sử Khmer đã được phát triển, bắt nguồn từ bờ biển phía tây của Đông Dương (Indochina), tại địa điểm đổ bộ của các ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ.”
  8. 8.        Xem Pelliot, “Le Fou-nan,” trang 303; “Quelques textes chinois concernant d’Indochine hindouisée,” Et . Asiat, EFEO (Études asiatiques.  Publications de l’École Francaise d’Extrême-Orient (Paris, 1925), 2 vols.), II, trang 243.
  9. 9.        Xem Pelliot, “Quelques textes,” các trang 246-49.  Về vai trò ưu thắng của dòng tộc Kaundinya tại miền nam Ấn Độ, xem Bijan R. Chatterjee, “Recent Advances in Kambuja Studies,” JGIS, VI (1939), trang 139, và chú thích dẫn trên, trang 30.
  10. 10.      Xem Louis Finot, “Les inscriptions de Mi-sơn (No. III),” BEFEO, IV, trang 923.  Xem Coedès, “L’inscription de Baksei Chamkrong,” JA (May-June, 1909), các trang 476-78, và Inscriptions du Cambodge, IV, trang 88.
  11. 11.      Xem Eveline Porée-Maspero, “Nouvelles étude sur la Nagi Soma, “ JA, CCXXXVIII (1950), các trang 237-67.
  12. 12.      Xem Paul Pelliot, dịch và biên tập, “Mémoires sur les coutumes du Cambodge,” BEFEO, II, trang 145.
  13. 13.      Xem Finot, “Sur quelques traditions indochinoises,” trang 205.
  14. 14.      Xem Coedès, “La légende de la Nagi,” BEFEO, XI, trang 391.
  15. 15.      Xem Victor Goloubew (“Les légendes de la Nagi et de l’Apsaras,” BEFEO, XXIV, các trang 501-10) cho rằng nó đến từ phương tây, trong khi Jean Przyluski (“La princesse à l’odeur de poisson et la Nagi dans les tradition de l’Asie orientale,” Et . Asiat . EFEO, II, các trang 265-84) nghĩ rằng nó đã được phát sinh từ các khu vực hàng hải của Đông Nam Á.  Về một phiên bản Mã Lai của thần thọai này, xem R. Ọ Winstedt, “Indra and Saktimuna,” JRASMB, XXIII (1950), trang 151.
  16. 16.      Xem Pelliot, “Le Fou-nan,” trang 265.  Theo R. Stein, “Le Lin-yi,” Han-hiue, II (1947), các trang 251 trở đi, từ “Fan” là tiếp đầu ngữ  (prefix) đứng trước danh tính của phần lớn các vị vua của Phù Nam cũng như của Champa không tương đương với tếp vĩ ngữ varman đi theo sau để tạo thành một họ, như đã được tin tưỏng bởi Georges Maspero, Le Royaume de Champa (Paris, 1928), trang 53, n. 7 [chú thích  7 ?], và Gabriel Ferrand, “Ye-tiao, Sseu-tiao et Java,” JA (Novermber-December, 1916), các trang 524-30.  Stein tin rằng đó là họ của một thị tộc, có nguồn gốc chủng tộc, để chỉ phần tử chính gốc của hòang gia.  Nhân vật mang danh tính Fan, như tại xứ Chàm, ngược lại với các thành phần Ấn Độ và có vẻ được lưu giữ nắm quyền hành bởi quần chúng.  Nhưng Paul Demíeville (điểm sách “Lin-yi” của Stein, TP (T’oung Pao), XL (1951), trang 344) đã bày tỏ các sự nghi ngờ đối với sự vững chắc của các nền tảng của giả thuyết này.
  17. 17.      Xem Pelliot, “Le Fou-nan,”, trang 257.
  18. 18.      Cùng sách dẫn trên, các trang 265-66.  Một li (lí) tương đương với khỏang 576 mét.  Về việc đọc là “Ch’u-tu, Tu-k’un” thay vì đọc “Ch’u-tu-k’un” (Pelliot), xem Stein, “Le Lin-yi,”
  19. 19.      “Le Lin-yi,” trang 119.  Nhưng Demíeville điểm sách “Lin-yi,” của Stein, trang 341, phản bác sự xác minh này.
  20. 20.      Ngay từ năm 1938, Kattigara đã được chấm định nằm trong vùng Sàigòn bởi Albert Herrmann, “Der Magnus Sinus und Cattigarab nach Ptolemaus,” Compte-rendu du Congrès international de géographie (Amsterdam), các trang 123-28.  Cuộc nghiên cứu gần đây nhất là của Louis Malleret, là người, tiếp theo sau các sự khám phá của ông tại Óc Eo (xem trên, trang 17), đã được dẫn dắt để đi tìm địa điểm của Kattigara trong vùng này.  Quan điểm của ông đã được trình bày chi tiết trong tác phẩm L’Archéologie du delta du Mékong (Paris, 1959-63), III, các trang 421-54.
  21. 21.      Về vấn đề có khá nhiều liên hệ này, và về vị trí của Chiu-chih hay Chu-li, xem Paul Wheatley, The Golden Khersonese, các trang 21-25.
  22. 22.      Xem Pelliot, “Le Fou-nan,” trang 279.
  23. 23.      Sách dẫn trên, trang 263, n. 1, Wheatley, The Golden Khersonese, các trang 15-21.
  24. 24.      Xem Pelliot, “Le Fou-nan,” trang 266, n. 2 and 3.  Gordon H. Luce, “Countries Neighbouring Burma,” JBRS (Journal of the Burma Research Society), XIV (1924), các trang 147-151.
  25. 25.      Xem Paul Pelliot, “Deux itinéraires de Chine en Inde, à la fin du VIIIe siècle,” BEFEO, IV, trang 320, n. 7.  Gabriel Ferrand, “Malaka, le Malayu et Malayur,” App . [Phụ Lục?, chú của ngườI dịch] III, JA (July-August, 1918), trang 139.  Luce, “Countries Neighbouring Burma,” các trang 161-69.
  26. 26.      Xem Ferrand, “Malakas”, trang 143.  Xem Sylvain Lévi, “Pré-aryen et pré-dravidien dans l’Inde,” JA (July-September, 1923), trang 37.
  27. 27.      Xem R. Ọ Winstedt, “A History of Malaya,” JRASMB, XIII (1935), trang 21.
  28. 28.      Xem Wheatley, The Golden Khersonese, các trang 252-67, thảo luận chi tiết về vị trí của Langkasuka.
  29. 29.      Xem Coedès, “Le Royaume de Crivijaya,” BEFEO, XVIII, 6, trang 17.  Lévi, “Pré-aryen,” trang 45.
  30. 30.      Xem Coedès, Receuil des inscriptions du Siam (Bangkok, 1924-29), II, trang 51, nọ XXVII.  Nhật kỳ từ thế kỷ thứ bảy đến thế kỷ thứ chín như được phát biểu bởi Barth là quá sớm.  Bia ký tương tự như thế là những văn bia cuối cùng của Phù Nam.  Xem K. A . Nilakanta nSastri, “Agastya,” TBG (Tijdschrift voor Indische Taal-, Land-, en Voikenkunde uitgegeven door het Bataviaasch Genootschap van Kunsten en Wetenschappen), LXXXVI (1936), các trang 508-09.  Về Tambralinga, xem O . W. Wolters, “Tambralinga,” BSOAS (Bulletin of the School of Oriental and African Studies) (1958), các trang 587-607.
  31. 31.      Xem Sylvain Lévi, “Ptolémée, le Niddesa et la Brihatkatha,” Et . Asiat . EFEO, II, trang 26.
  32. 32.      Cùng sách dẫn trên, từ trang 3 trở đi.
  33. 33.      Xem Roland Braddell, “Ancient Times in the Malay Peninsula,” JRASMB, XVII (1939), I, các trang 204-206, và XXII (1949), trang 1.  Wheatley, The Golden Khersonese, các trang 268-72, có cung cấp các luận cứ vững chắc về việc xác định vị trí của Takkola trong vùng Trang [có lẽ là (?) Nha Trang, chú của người dịch].
  34. 34.      Transactions and Papers of the Institute of British Geographers, 21 (1955), trang 69.  Về điểm này xin xem Wang Gungwu, “TheNanhai Trade: A Study of the Early History of Chinese Trade in the South China Sea,” JRASMB, XXXI, 2 (1958), trang 41, n. 53.
  35. 35.      Về các địa điểm này, xem Braddell, “Ancient Times,” rải rác trong tác phẩm.  H.G. Quaritch Wales, “Archaeological Researches on Ancient Indian Colonization in Malaya,” JRASMB, XVIII (1940), I, các trang 56-73; “Further Work on Indian Sites in Malaya,” JRASMB, XX (1947), các trang 1-11, R.O . Winstedt, “Slab-Graves and Iron Implements,” JRASMB, XIX, (2941) I, các trang 93-98.
  36. 36.      Thí dụ, các tượng đồng theo kiểu Gupta được mô tả trong quốc gia Perak và trên dòng sông Bujiang tại Kedah (H.G. Quaritch Wales, “Recent Malayan Excavations and Some Wider Implications,” JRAS (1946), trang 142). Các khám phá khảo cổ học này được phân tích bởi Wheatley, The Golden Khersonese, các trang từ trang 273 trở đi.
  37. 37.      Về các nguồn văn bản Ấn Độ khác, xem Vasudeva S. Agrawala, “Some References to Katahadvipa in Ancient Indian Literature,” JGIS, XI (1944), trang 96, và K.A . Nilakanta Sastri, History of Srivijaya (Madras, 1949), các trang 25-26.
  38. 38.      Về thời điểm của văn bia này, xem D.C. Sircar, “Date of the Earliest Sanskrit Inscription of Campsa,” JGIS, VI (1939) các trang 53-55.  Coedès, “La date de l’inscription sanskrite de Vo-canh,” IHQ (Indian History Quarterly), XVII (1941), các trang 107-10.  Emile Gaspardone, “La plus ancienne inscription d’Indochine,” JA, CCXLI (1953), các trang 477-85.  K. Kumar Sarkar, “The Earliest Inscription of Indochina,” Sino-Indian Studies, V, 2 (1956), các trang 77-78.  Kamalesvar Bhattacharya, “Précisions sur la paléographie de l’inscription dite de Vo-canh,” AA (Artibus Asiae) XXIV (1961), các trang 219-24. Ẹ Gaspardone, “L’inscription de Vo-canh et les débuts du sanskrit en Indochine,” Sinologica, VIII, No. 3 (1965), các trang 129-36.
  39. 39.      Auguste Barth and Abel Bergaigne, ISC, No. XX, p. 191.  Louis Finot, “Les inscriptions du musée de Hanoi,” BEFEO, XV, 2, trang 3.
  40. 40.      “Séance du 14 Janvier 1927.” JA (January-March, 1927), trang 186.  Xem Louis Finot, điểm sách Le Royaume de Champa của Maspero, BEFEO, XXVIII, các trang 286-87.
  41. 41.      Jean Filliozat đã ân cần thông tin tôi hay rằng Maran “là danh hiệu thường dùng để chỉ vua Pandya, được hỗ trợ bởi một trong những bản văn bằng tiếng Tamil cổ xưa nhất tại vùng Sangam, có nhật kỳ vào khỏang khởi đầu kỷ nguyên Thiên Chúa.”
  42. 42.      Lévi, “Ptolémée,” các trang từ trang 29 trở đi.  Luce, “Countries Neighbouring Burma,” các trang 151-58.
  43. 43.      Pelliot, “Le Fou-nan,” trang 303.
  44. 44.      Les Peuples de la péninsule indochinoise (Paris, 1962), trang 62.
  45. 45.      Wang Gungwu, “The Nan-hai Trade,” các trang 31-45.
  46. 46.      “Le Fou-nan,” trang 292.
  47. 47.      Xem trên, trang 39.
  48. 48.      Pelliot, “Le Fou-nan,” trang 303.
  49. 49.      Sách dẫn trên, trang 40. Xem Robert von Heine-Geldern, “The Drum Named Makalamau,” India Antiqua (Leyden, 1947), trang 176.
  50. 50.      Pelliot, “Le Fou-nan,” trang 252.
  51. 51.      Cùng sách dẫn trên, trang 254.
  52. 52.      Cùng sách dẫn trên, trang 255.
  53. 53.      Cho tòan thể đọan này, ngòai những nguồn tư liệu đã được chỉ dẫn ở nơi khác, xem Maspero, Le Royaume de Champa, các trang 43-59 (điểm sách bởi L. Aurousseau, BEFEO, XIV, 9, các trang 8-43, và Louis Finot, BEFEO, XXVIII, các trang 285-92).  Stein, “Le Lin-yi,” các trang 1-123.
  54. 54.      Aurousseau, điểm sách Le Royaume de Champa của Maspero, trang 27.
  55. 55.      Stein, “Le Lin-yi,” các trang 209-41.  Nhưng Demíeville, điểm sách “Lin-yi” của Stein, có vẻ nghiêng về cách giải thích thứ nhất.
  56. 56.      Cho đến nay chúng ta luôn luôn hiểu rằng họ đến từ phương nam, có nghĩa, từ tỉnh Quảng Nam ngày nay.  Nhưng Stein (“Le Lin-yi”) có vạch ra rằng họ cũng có thể đến từ phía tây, và ngay cả từ những vùng thuộc Siang-lin, cách xa khỏi sự đô hộ của Trung Hoa.  Sự kết tụ những dân man rợ tại một vương quốc Lâm Ấp đã xảy ra bên trong giới hạn của quận Nhật Nam.
  57. 57.      Về sắc dân Ch’u, xem Stein, “Le Lin-yi,” Appendix VI, từ trang 209 trở đi.
  58. 58.      Henri Parmentier, Inventaire descriptif des monuments cams de l’Annam (Paris, 1909-18), I, các trang 241-5-5.  Jean Y. Claeys, “Introduction à l’étude de l’Annam et du Champa,” Bulletin des Amis du Vieux Hue, 21, (1934), các trang 46-48.
  59. 59.      Pelliot, “Le Fou-nan,” trang 252.
  60. 60.      Stein, “Le Lin-yi,” các trang 1-54.
  61. 61.      Có lẽ xuyên qua những người vợ sinh ra là người Phù Nam mà theo Stein, “Le Lin-yi,” sẽ giải thích họ của thị tộc ông ấy là Fan, về điểm này, xem sách dẫn trên, trang 276, n. 16.  Eveline Porée-Maspero ghi nhận rằng các vị vua họ Fan xuất hiện tại xứ Chàm vào lúc khi mà họ đã biến mất khỏi Phù Nam sau thời trị vì của Fan Hsun.  Về các “sự kiện lịch sử song hành giữa Căm Bốt và Chàm” mà bà ấy đã xác định từ thời kỳ này, xem Études sur les rites agraires des Cambodgiens (Paris, 1962), từ trang 144 trở đi.
  62. 62.      Stein, “Le Lin-yi,” trang 243.     

Nguồn: G. Coedès, The Indianized States of Southeast Asia, An East-West Center Book, The University Press of Hawaii, Honolulu, 1968

Ngô Bắc dịch
© 2006 gio-o

Thứ Ba, 15 tháng 12, 2020

KỲ MÔN ĐỘN GIÁP BÍ KÍP ĐẠI TOÀN– quyển 28 THẦN PHÙ SÁU ĐINH, SÁU GIÁP – PHÙ ĐỒ


KỲ MÔN ĐỘN GIÁP BÍ KÍP ĐẠI TOÀN – quyển 28
THẦN PHÙ SÁU ĐINH, SÁU GIÁP – PHÙ ĐỒ

THẦN PHÙ SÁU ĐINH, SÁU GIÁP 

Ức Ly Tử nói: “Phép lớn trong quân, gấp dùng bùa phép”, khi thời môn không lợi, cho nên phù sáu đinh dùng để nhương tai. Nhưng phải dụng chú vào bàn tay, vạch lôi ấn, lắc chuông phương Giáp mới ứng nghiệm. Lệ này rất thần do đức Cửu Thiên Huyền nữ truyền thụ trong quân thần phù sáu Đinh sáu Giáp.
 1-Phù Giáp Tý – Giáp Tý thần quân

Hiệu là Phi Thiên đại đế. Lại tên Quyền Quỷ tướng quân. Thần này đầu chuột thân người, cao một trượng 9 xích, ở cung Dương Quang Thiên Lũy.
Thống lĩnh thần tướng 9 vạn 9 ngàn 9 trăm. Trợ người trung hiếu, giận giết bất nhân bất nghĩa. Dưới chín trời xanh xanh.
(Giáp Tý Thần Quân, hiệu viết Phi Thiên Đại Đế. Hựu danh Quyền Quỷ Tướng Quân. Kỳ thần Thử đầu nhân thân. Cao nhất trượng Cửu xích. Cư Dương Quang Thiên Lũy chi cung. Thống lĩnh thần tướng cửu vạn cửu thiên cửu bách. Trợ hữu trung hiếu, nộ sát bất nhân bất nghĩa. Cửu Thiên Thanh Thanh chi hạ). Kiểu phù trường 1 xích 9 thốn, khoát 3 thốn 1 phân. Dùng giấy xanh đen, son 9 (Chu sa) mà làm thì hơn cả.

2-Phù Giáp Tuất – Giáp Tuất Thần Quân 

Hiệu là Yếm Lang. Lại tên Tư Ngục Tướng Quân.
Thần này đầu chó thân người, tướng nữ. Tính thần thích rượu. Ở cung Tây Hoàng Thiên Thái. Thống lĩnh binh thần 5 vạn 5 ngàn 5 trăm 5 chục số. Thích trợ chính tướng. Thù chém tặc binh.
Thân cao 1 trượng 6 xích. Buộc chỉ tơ dưới Cửu Thiên Thanh Hoàng.
(Giáp Tuất Thân Quân. Hiệu viết: Yếm Lang, Hựu danh Tư Ngục Tướng Quân. Kỳ thần Khuyển đầu nhân thân nữ tướng. Kỳ tính hiếu tửu. Cư Tây Hoàng Thiên Thái chi cung. Thống lĩnh thần binh ngũ vạn ngũ thiên ngũ bách ngũ thập số. Hỷ trợ chính tướng – thù trảm tặc binh. Thân trường nhất trượng lục xích. Luân quán Cửu Thiên Thanh Hoàng hạ).
Kiểu phù trường 1 xích 6 thốn khoát 2 thốn 9 phân. Dùng giấy đại hoàng, son hồng mà làm thì hơn cả.

3-Phù Giáp Thân - Giáp Thân Thần Quân

Hiệu là Lục Phù Thân. Lại tên gọi Tiệp Báo Tướng quân.
Thần này đầu khỉ thân người, cao 2 xích 5 thốn. Tính ăn ngọt thích dâm. Ở cung Thiên Việt. Thống lĩnh thần binh 7 vạn 7 ngàn 7 trăm 7 chục. Ưa trợ thuận kích nghịch. Chỉ tơ buộc dưới chín trời xanh trắng.
(Giáp Thân Thần Quân. Hiệu viết Lục Phù Thân. Hựu danh viết Tiệp Báo Tướng Quân. Kỳ thần Hầu thủ nhân thân, trường nhị xích ngũ thốn. Tính cam thực, hiếu dâm. Cư Thiên Việt chi cung. Thống lĩnh thần binh  thất vạn thất thiên thất bách thất thập số. Hỷ trợ thuận kích nghịch. Luân quán Cửu Thiên Thanh Bạch).
Kiểu phù: trường 1 xích 5 thốn, khoát 2 thốn 7 phân. Dùng giấy Bạch ô, son (chu sa) mà làm là hơn cả.

4-Phù Giáp Ngọ - Giáp Ngọ Thần Quân

Hiệu là Bình Thủy Tướng Quân
Thần này đầu ngựa thân người. Cao 1 trượng 9 xích. Tính rất hăng, không nên tốc triệu. Ưa chó béo vật hiếm. Kiêng dùng thịt ngựa cũng dưỡng. Thống lĩnh binh thần 9 vạn 9 ngàn 9 trăm 9 chục số. Thích trợ báo thù. Tơ buộc dưới thanh hồng.
(Giáp Ngọ Thần Quân. Hiệu viết Bình Thủy Tướng Quân. Kỳ thần Mã đầu nhân thân, cao nhất trượng cửu xích. Tính tối liệt bất nghi tốc triệu. Hiếu phì khuyển vưu vật. Kỵ dụng mã nhục cung dưỡng. Thống lĩnh thần binh cửu vạn cửu thiên cửu bách cửu thập số. Hỷ trợ báo cừu. Luân quán thanh hồng hạ).
Kiểu phù: trường 1 xích 9 thốn, khoát 3 thốn 2 phân. Dùng giấy thanh hồng, hắc đen sa mà làm là hơn cả.

5-Giáp Thìn – Giáp Thìn Thần Quân

Hiệu là Bình Man Tướng Quân. Thần này đầu rồng thân người, cao 1 trượng 9 xích. Tính thanh cao, thuận được, không nghịch được. Thích phương Đông Nam. Phù trợ chân nhân, quét sạch khí yêu. Thống lĩnh binh thần 5 vạn 5 ngàn 5 trăm 5 chục số. Tơ buộc dưới thanh hoàng.
(Giáp Thìn Thân Quân. Hiệu viết Bình Man Tướng quân. Kỳ thần Long thủ nhân thân, cao nhất trượng cửu xích. Tính thanh cao, khả thuận bất khả ngịch. Hỷ phương Đông Nam. Phụ trợ chân nhân, tảo đãng yêu khí. Thống lĩnh thần binh ngũ vạn ngũ thiên ngũ bách ngũ thập số. Quán luân thanh hoàng hạ).
Kiểu phù: trường 1 xích 9 thốn, khoát 3 thốn 9 phân. Dùng giấy thanh hoàng, hông chu sa mà làm là tốt nhất.

6-Phù Giáp Dần – Giáp Dần Thần Quân

Hiệu là Lục Nghiệt Tướng Quân. Tên thần là Quán Giai Lang. Thần này đầu hổ thân người, cao 1 trượng có hơn. Tính rất nóng không thể coi thường. Phù cường ức nhược, giúp chính hại tà. Thần ở vị Thiên Uyển (vườn trời). Thường qua cung Lục Cát. Thống lĩnh thần tướng 7 vạn 7 ngàn 7 trăm 7 chục số. Tơ buộc dưới thanh hắc.
(Giáp Dần Thần Quân. Hiệu viết Lục nghiệt tướng quân. Kỳ danh Quán Giai Lang. Kỳ thần Hổ đầu nhân thân, cao nhất trượng hữu cơ. Tính tối táo bất khả khinh. Phù cường ức nhược, đăng chính hại tà. Thân cư Thiên Uyển chi vị. Thường du Lục Cát chi cung. Thống lĩnh thần tướng thất vạn thất thiên thất bách thất thập số. Luân quán thanh hắc hạ).
Kiểu phù: trường 1 xích 3 thốn, khoát 2 thốn 7 phân. Dùng giấy xanh trát chu hồng mà làm là hơn cả.
Trên đây vạch thần phù sáu Giáp. Dùng kiếm quyết. Lấy tay trái, ngón cái bấm Thiên cương, nâng kiếm ngồi kiễng chân, niệm thầm thần chú Sáu Giáp 7 lần. Hớp 1 hớp khí phương Đông thổi vào thần bút một hơi hà. Dùng 1 bình nước ao trời (nước sông nước biển). Đem phù đốt trong bình, yếm của không lợi thì hóa hung làm cát. Chú rằng:
Ta gọi thần Lục Quân Nguyên Dương Giáp Tý, lại kíp đi. Nguyện thần chứng thân ta. Các Quỷ Khôi, Khang, Mão, Tịch, Muội, Cát, Tính vời vâng Thái Thượng Lão Quân kíp kíp như lệnh luật.

PHÙ LỤC ĐINH 1-Đinh Mão thần quân: hiệu là Lục Tướng Quân.

Thần này đầu thỏ thân người, tính rất hòa nhu. Cao 1 trượng 6 xích, nắm quyền lửa sấm chín trời. Thống lĩnh binh thần 6 vạn 6 ngàn 6 trăm 6 chục số. Đuổi tà chém quỷ, phụ tá bậc chân. Linh tích dưới thanh xích.
(Đinh Mão thần quân. Hiệu viết Lục Tướng Quân. Kỳ thần thỏ đầu nhân thân, tính tối nhu hòa, cao nhất trượng lục xích. Tư Thiên lôi hỏa chi quyền. Thống lĩnh thần binh lục vạn lục thiên lục bách lục thập số. Khu tà trảm quỷ, phụ tá chân nhân. Linh tích thanh xích hạ).
Kiểu phù: Trường 1 xích 6 thốn, khoát 3 thốn 3 phân. Dùng giấy hồng xanh, trát hồng chu là hơn cả.


2-Đinh Sửu Thần Quân: Hiệu là Dịch Tướng Quân

.Đầu trâu thân người. Tính thích vật thơm. Cao một trượng 8 xích. Ở cung Thiên hán. Nắm quyền thủy lợi. Thích chiến nước. Thống lĩnh binh thần 8  vạn 8 ngàn 8 trăm 8 chục số. Chém sạch quân giặc. Linh tích dưới xích hoàng.
(Đinh Sửu thần quân. Hiệu viết Dịch tướng quân. Ngưu đầu nhân thân. Tính hiếu hương vật. Cao nhất trượng bát xích. Cư Thiên Hán chi cung. Tư thủy lợi chi quyền. Hiếu thủy chiến. Thống lĩnh thần binh bát vạn bát thiên bát bách bát thập số. Trảm chu tặc binh. Linh tích xích hoàng hạ).
Kiểu phù: trường (dài) 1 xích 8 thốn, khoát 5 thốn 3 phân. Dùng giấy vàng trát son mà làm là tốt nhất.

3-Đinh Hợi Thần Quân: hiệu là Đồ tướng quân.

Thần này đầu lợn thân người. Tính hay ăn gạo uống rượu. Nên khoan mời không thể cấp triệu. Thân cao 1 trượng 4 xích. Trấn cung Thiên Hoàng. Ưa phụ thuận giết nghịch. Thống lĩnh binh thần 4 vạn 4 ngàn 4 trăm 4 chục số. Linh tích dưới xích hoàng.
(Đinh Hợi thần quân. Hiệu viết Đồ tướng quân. Kỳ thần trư thủ nhân thân. Tính hiếu mễ thực ẩm tửu. Nghi khoan thỉnh, bất khả cấp triệu. Thân cao nhất trượng tứ xích. Trân Thiên Hoàng chi cung. Hỷ phụ thuận trừ nghịch. Thống lĩnh thần binh tứ vạn tứ thiên tứ bách tứ thập số. Linh tích xích hoàng hạ).
Kiểu phù: trường 1 xích 4 thốn, khoát 2 thốn 9 phân. Dùng giấy hồng đen trát hồng chu mà làm là hơn cả.

4-Đinh Dậu Thần Quân: Hiệu là Phi Tướng Quân.

Thần đầu gà thân người. Tính rất ác, không phạm được. Thích ăn rượu thịt. Ưa đánh bộ, quên đánh nước. Thân cao 1 trượng 6 xích. Ở cung Thiếu Vi. Thống lĩnh thần binh 6 vạn 6 ngàn 6 trăm 6 chục số. Cướp trại phá lũy, chém tướng, nhổ cờ, đuổi chạy trục hứng. Dưới cung xích bạch.
(Đinh Dậu thần quân. Hiệu viết Phi Tướng Quân. Kỳ thần kê thủ nhân thân. Tính tối ác bất khả phạm. Hỷ thực tửu nhục. Hiếu lục chiến, vong thủy chiến. Thân nhất trượng lục xích. Cư Thiếu Vi chi cung. Thống lĩnh thần binh lục vạn lục thiên lục bách lục thập số. Kiếp trại phá lũy, trảm tướng khiêu kỳ, truy bôn trục thác, linh tích xích bạch hạ).
Kiểu phù: trường 1 xích 6 thốn, khoát 3 thốn 1 phân. Dùng giấy đỏ trát son mà làm là hơn cả.

5-Đinh Mùi thần quân: Hiệu là Tướng quân. 

Thần này đầu Dê thân người. Thích ăn các thứ rau tươi hoa quả. Ưa nắng ráo, ghét mưa tối. Thân cao 1 trượng 8 xích. Ở cung Trấn Nam cục. Thống lĩnh thần binh 8 vạn 8 ngàn 8 trăm 8 chục số.. Xông giặc phá trận, địch không cản được. Linh tích dưới cung xích.
(Đinh Mùi Thần Quân. Hiệu viết Tướng Quân. Kỳ thần Dương thủ nhân thân. Hỷ thục thái sơ quả phẩm chi vật. Hiếu liệt nhật, kỵ âm vũ. Thân cao nhất trượng bát xích. Cư Trấn Nam cục chi cung. Thống lĩnh thần binh bát vạn bát thiên bát bách bát thập số. Xung lỗ phá trận, địch bất năng ngự. Linh tích xích hạ).
Kiểu phù: trường 1 xích 8 thốn, khoát 3 thốn 1 phân. Dùng giấy đỏ vàng trát chu sa mà làm là hơn cả.

6-Đinh Tỵ Thần Quân: Hiệu là Trần Tướng Quân. 

Đầu rắn thân người. Tính rất độc không thể nhờn dùng. Hay ăn thịt giống nuôi. Không ngại thủy bộ. Cao 1 trượng 4 xích 9 thốn. Trấn thủ cung Thiên Bình. Thống lĩnh thần binh 4 vạn 4 ngàn 4 trăm 4 chục số. Lấy lại thành, hãm trận địa, biến hóa vô cùng. Linh tích dưới cung xích xích.
(Đinh Tỵ thần quân. Hiệu viết trần tướng quân. Xà thủ nhân thân. Tính tối độc bất khả khinh dụng. Hỷ thực lục súc chi vật. Bất kỵ thủy lục. Cao nhất trượng tứ xích cửu thốn. Trấn thủ Thiên Bình chi cung. Thống lĩnh thần binh tứ vạn tứ thiên tứ bách tứ thập số. Phục thành hãm trận, biến hóa vô cùng. Linh tích xích xích hạ).
Kiểu phù: trường 1 xích 4 thốn 9 phân. Dùng giấy hồng trát hắc đen mà làm là hơn cả.

Trên đây, vạch phù Sáu Đinh. Dùng quyết Đẩu. Lấy ngón cái tay trái đóng trời, bước địa đẩu, rồi ngồi. Niệm ngầm thần chú sáu Đinh 7 lần. Hớp 1 ngụm khí phương Nam thổi vào thần bút một hơi hà. Phép ngồi như trước, chú rằng:
“Binh thần sáu Đinh, là tinh tám quái. Thúc đẩy tướng thần yên bên thân ta. Nghe chú đến ngay. Trăm việc thông linh. Không việc không báo, không được động lệnh. Ta vâng đức Cửu Thiên Huyển Nữ kíp kíp như luật lệnh”.
(Lục Đinh thần binh, bát quái chi tinh. Suy lệ thần tướng an tại ngô thân. Văn chú tốc chí. Bách sự thông linh. Vô sự bất báo, bất đắc động lệnh. Ngô phụng Cửu Thiên Huyền Nữ, cấp cấp như luật lệnh).

PHÉP THIÊN CƯƠNG BỘ ĐẨU

Thiên Cương đại thánh
Giúp ta phá quân
Ví cướp doanh giặc
Phá đuổi chạy trốn
Cấp cấp luật lệnh.
(Thiên Cương Đại Thánh
Tự ngã phá quân
Thẳng kiếp giặc doanh
Phá bình đào vong
Cấp cấp như luật lệnh).
Chiến binh tự loạn
Gặp giặc chém giết
Đốt cướp doanh giặc
Che giấu binh ta
Vận nhật khí ta,
Suy Vưu thất tinh.
(Chiến binh tự loạn. Phù tặc chu trảm. Siêu kiếp khấu doanh. Ẩn tàng ngô binh. Vận ngô nhật khí. Suy vưu thất tinh).
Lời người dịch:
Mục này bản nguyên không có hình vẽ. Bài chú trên thấy in dọc. Bài chú dưới thấy in ngang lên trên bài trên. Trên cùng có chữ Tàng. Không hiểu ý tứ ra sao.
 Bản dịch của Thày Nhược Thủy - dienbatn giới thiệu.

Chủ Nhật, 15 tháng 11, 2020

ĐẠO MẪU Ở VIỆT NAM - LONG VÂN KHÁNH HỘI ĐẢN NHẬT TỨ PHỦ HẰNG NIÊN


- Tháng giêng:

+ Ngày 9/1: Tiệc Đức Vua Cha Ngọc Hoàng Thượng Đế và Cửu Thiên Huyền Nữ Công Chúa 

+ Ngày 10/1: Kỵ Nhật Thánh Phụ ( chùa Nền)
+ Ngày 12/1: Tiệc Trần Triều Đệ Nhất Vương Cô Quyên Thanh Công Chúa
+ Ngày 15/1: Đại Lễ Thượng Nguyên

- Tháng hai:

+ Ngày Mão đầu: Tiệc Đức Quốc Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn Đông Cuông
+ Ngày 3/2: Tiệc Trần Triều Đức Ông Đệ Tam Đông Hải Đại Vương Cửa Đông Cửa Suốt Trần Quốc Tảng
+ Ngày 6/2: Tiệc Tứ Vị Vua Bà Đền Cờn Môn
+ Ngày 12/2: Tiệc Mẫu Tuyên Quang
+ Ngày 14/2: Tiệc Đản Nhật Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh
+ Ngày 15-16/2: Tiệc Chúa Đệ Nhị Nguyệt Hồ (Chúa Bói)
+ Ngày 24/2: Tiệc Sòng Sơn Quốc Mẫu ( tiệc Mồng 2 /2 :

- Tháng ba:

+ Ngày 2/3: Tiệc Trần Triều Cô Bé Cửa Suốt Tĩnh Huệ Công Chúa Cặp Tiên Linh Từ
+ Ngày 3/3: Tiệc Đức Quốc Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên Phủ Dày
+ Ngày 7/3: Tiệc Cậu Bé Quận Đồi Ngang
+ Ngày 14/3: Tiệc Chầu Đệ Tứ Khâm Sai
+ Ngày 17/3: Tiệc Chầu Bát Nàn Đông Nhung Đại Tướng Quân

- Tháng tư:

+ Các ngày trong tháng: Đại Lễ Nhập Hạ
+ Ngày 12/4 : Tiệc Chúa Thác Bờ

 +Ngày 10/4 : Kỵ Nhật Thánh Mẫu( chùa Nền)

- Tháng năm:

+ Ngày 5/5: Tiệc Trần Triều Đệ Nhị Vương Cô Đại Hoàng Công Chúa
+ Ngày 10/5: Tiệc Đản Nhật Chầu Lục Cung Nương Chín Tư Hữu Lũng ( có nhiều ý kiến cho rằng không đúng)
+ Ngày 25/5: Tiệc Quan Lớn Tuần Tranh Ninh Giang Kì Cùng

- Tháng sáu:

+ Ngày 10/6: Tiệc Đức Quốc Mẫu Đệ Tam Thoải Cung Thác Hàn
+ Ngày 12/6: Tiệc Mẫu Thác Đền Hàn và Đản Nhật Cô Bơ Bông
+ Ngày 16/6: Tiệc Chúa Bà Năm Phương Bản Cảnh Vũ Quận Bạch Hoa Công Chúa Cấm Giang
+ Ngày 24/6: Tiệc Đản Nhật Quan Lớn Đệ Tam Thuỷ Quốc Bơ Phủ Vương Quan Lảnh Giang Xích Đằng

- Tháng bảy:

+ Các ngày trong tháng: Đại Lễ Tán Hạ
+ Ngày 7/7: Tiệc Đản Nhật Ông Hoàng Bảy Bảo Hà
+ Ngày 13/7: Tiệc Quan Triệu Tường Tống Sơn Thanh Hoá
+ Ngày 17/7: Tiệc Ông Hoàng Bảy Bảo Hà

- Tháng tám:

+ Ngày 20/8: Tiệc Trần Triều Quốc Công Tiết Chế Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn Kiếp Bạc Linh Từ + Ngày 22/8: Tiệc Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình Thoải Phủ Đồng Bằng Linh Từ

- Tháng chín:

+ Ngày 2/9: Tiệc Cô Bé Suối Ngang Phố Vị Lạng Sơn
+ Ngày 9/9: Tiệc Cửu Trùng Thiên Cung Vương Mẫu và Cô Chín Giếng Sòng Sơn Linh Từ
+ Ngày 13/9: Tiệc Cô Đôi Cam Đường
+ Ngày 19/9: Tiệc Cô Chín Đền Sòng + Ngày 10/9  Tiệc Chầu Lục Cung Nương
+ Ngày 20/9: Tiệc Công Đồng Bắc Lệ và Tiệc Chầu Lục Cung Nương ( Tiệc hóa)

+ Ngày 25-26/9: Kỵ Nhật Đức Thánh Từ( chùa Nên - Láng - Vĩnh Bảo Đài)

- Tháng mười:

+ Ngày 10/10: Tiệc Đản Nhật Ông Hoàng Mười Nghệ An

- Tháng mười một:

+ Ngày 1/11: Tiệc Trần Triều Đức Ông Điện Suý Phù Ủng Đại Vương Phò Mã Phạm Ngũ Lão
+ Ngày 10/11: Tiệc Đản Nhật Quan Lớn Đệ Nhị Thượng Ngàn Thanh Tra Giám Sát

- Tháng mười hai:

+ Các ngày trong tháng (trước ngày 23 tháng chạp): Đại Lễ Tất Niên
+ Ngày 10/12: Tiệc Đản Nhật Đức Ông Trần Triều Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn 

+ Ngày 14/12: Kỵ nhật Đức Vua Bà đền Vĩnh Bảo Đài - Chùa Láng - HN
+ Ngày 25/12: Tiệc Chúa Đệ Tam Lâm Thao (Chúa Ót, Chúa Chữa)

Thứ Năm, 15 tháng 10, 2020

KỲ MÔN ĐỘN GIÁP BÍ KÍP ĐẠI TOÀN- P1


Bản dịch của Nhược Thuỷ
六丁六甲
六 丁六甲與四值功曹、二十八宿、三十六天將、七十二地煞等同為道教的護法神將,經常在禳災中被道士召請,歷行風雷,制伏鬼神。六丁為丁卯、丁巳、丁未、丁 酉、丁亥、丁丑,是為陰神。六甲為甲子、甲戌、甲申、甲午、甲辰、甲寅,是為陽神。據說六丁六甲為天帝役使,能「行風雷,制鬼神」。道士可用符箓召請之。
六丁(陰神玉女):
●丁卯神司馬卿 
●丁已神崔巨卿 
●丁未神石叔通  
●丁酉神臧文公 
●丁亥神張文通 
●丁丑神趙子玉 
   六甲(陽神玉男):
    ●甲子神王文卿  
    ●甲戌神展子江  
    ●甲申神扈文長 
    ●甲午神衛玉卿 
    ●甲辰神孟非卿 
    ●甲寅神明文章
【六丁六甲的重要性】
    六丁六甲神位雖小,但在道教中卻非常重要,經常被道士所役使。
《後漢書•梁節王傳》記載,漢代方士已經有役使六丁六甲的方法,先行齋醮,然後召六丁神,「可使致遠方物,乃知吉凶也」。梁節王曾用這種方法來「占夢」。
《後漢書•梁節王暢傳》:「性聰惠,然少貴驕,頗不遵法度。歸國後,數有惡夢,從官卞忌自言能使六丁,善占夢,櫥數使卡筮。」注曰:「六丁,謂六甲中丁神也。若甲子甸中,則丁卯為神;甲寅甸中,則丁巳為神之類也。」
    唐韓愈《調張籍》詩曰:「仙官敕六丁,雷電下取將。」
    張萬福《傳授三洞經戒法箓略說》:「陰陽翕闢,萬二千物具而有神焉。主之者,六甲也……六甲者,一切之綱紀也。」
    南宋王契真編《上精靈寶大法》卷二:丁丑延我壽、丁亥拘我魂、丁酉制我魄、丁未卻我災、丁巳度我危、丁卯度我厄;甲子護我身、甲成保我形、甲申固我命、甲午守我魂、甲辰鎮我靈、甲寅育我真。
如今《道藏》中存有《靈寶六丁秘法》和《上清之甲祈禱秘法》,且《靈寶六丁秘法•後序》中稱六丁「能長能短,能有能無」。
道教還有一種六甲符箓,用來「驅惡驅耶」。
《雲笈七羲》卷十四稱:「若辟除惡神者,書六甲、六丁等持行,並呼甲寅,神鬼皆散走。」後來此就演變成六丁六甲神。
《重修搜神記》載:元始命玉皇上帝陣詔,喝玄武披髮跣足,金甲玄袍,皂纛玄旗,統領丁甲。丁甲之名來源於天干地支,丁神六位:丁卯、丁巳、丁未、丁酉、丁亥、丁丑;甲神六位為:甲子、甲戌、甲申、申午、甲辰、甲寅。丁神六位支為陰,蓋為女神,甲神六位支為陽,蓋為男神。
《續文獻通考》:「丁卯等六丁,陰神玉女也。甲子等六甲,陽神玉男也。 
【六丁六甲的名諱】
  關於六丁六甲的名諱,《上清六甲祈禱秘法》稱 六丁神名為:丁卯神名文伯字仁高,丁丑神名文公字仁賢(貴),丁亥神名仁(文)通字仁和,丁酉神名文卿字仁修,丁未神名升通字仁恭,丁巳神名庭卿字仁敬, 六甲神名為:甲子神字青公名元德,甲成神字林齊名虛逸,甲申神字權衡名節略,甲午神字子卿名潺仁,甲辰神字兗昌名通元,甲寅神字子靡名化石。
《黃帝太一八門入式訣》中還有六丁將軍:丁卯天雷上將孔昌阿明,丁丑龍雷上將王昭阿高,丁亥神雷上將何掛阿平,丁酉地雷上將崔茂阿申,丁未水雷上將高恆阿隆,丁巳烈雷上將徐向阿虔。
《太上說玄天大聖真武本傳神咒妙經》卷二六甲神名 為:「 甲子水將李文思,甲成土將李宗通,甲申金將李守全,甲午火將李守左,甲辰風將李守進,甲寅木將李守遷。」又《清微元降大法》卷一六稱六甲神名為:甲子鳴雷 大將軍管拱辰,甲成興雷大將軍康復,甲申烈火雷大將軍王延,甲午追雷大將軍張願,甲辰策雷大將軍許計昌,甲寅運雷大將軍區喆。
然最為一般的說法還是《老君六甲符圖》與《三才圖 會》中所說,其六丁神為:丁卯神司馬卿,丁丑神趙子任(玉),丁亥神張文通,丁酉神臧文公,丁未神石叔通,丁巳神崔石(巨)卿,六甲神為:甲子神王文卿, 甲成神展子江,甲申神扈文長,甲午神衛上(韋玉)卿,甲辰神孟非卿,甲寅神明文章。
  道教稱若心存六丁玉女,意注六丁神符,即可令房宅清潔,五毒不近,災難不生,又可求仙得仙,求官得官,萬事如意。道士齋醮作法時,常用符箓召請他們「祈禳驅鬼」,在道教宮觀中,他們被置於真武大帝的兩旁,作為恃衛之神。
【六丁六甲護身神咒】
丁丑延我壽,丁亥拘我魂。丁酉制我魄,丁未卻我災。丁巳度我危,丁卯度我厄。甲子護我身,甲戌保我形。甲申固我命,甲午守我魂。甲辰鎮我靈,甲寅育我真。
 六丁六甲神厭法
混元五斗圖 紅黑赤分 ○←混元道氣○ ↓ 陽化吾身 ○→出幽入冥○ ↓ 或隱或現○ ↓ ○←←←←←萬物皆成○ 天罡所指,出入萬人, 不見吾兵,隱匿吾形, 賊兵敗亡,吾軍安寧 急急如律令。
 ▼ 用法: 於六丁日、六甲日,各依其式畫符,踏混元武鬥罡步,每晚三更時分,左手執六甲、六丁本色帛,右手執硃砂筆,各望本方,唸咒,取氣四十九口,吹在帛、筆上。
 ▼ 咒語: 謹請天壓神王,日壓神王、時壓神王、六丁神箭壓王、伏望聞請速降靈驗,助壓令某某人病不語疼痛,吾壓法東行,樹木摧折。吾壓法南行,炎消滅,吾壓法西行, 金剛裂缺。吾壓法北行,江海水竭,吾壓法上行,雲星光暗,吾壓法下行,地皮破裂,吾壓法到神,神安神和,吾壓不忠、不孝。欺國滅族......急急如律 令。
 
六丁六甲
l
ục đinh lục giáp
六丁六甲與四值功曹、二十八宿、三十六天將、七十 二地煞等同為道教的護法神將,經常在禳災中被道士召請,歷行風雷,制伏鬼神。六丁為丁卯、丁巳、丁未、丁酉、丁亥、丁丑,是為陰神。六甲為甲子、甲戌、甲 申、甲午、甲辰、甲寅,是為陽神。據說六丁六甲為天帝役使,能「行風雷,制鬼神」。道士可用符箓召請之。
l
ục đinh lục giáp dữ tứ trị công tào 、 nhị thập bát túc 、 tam thập lục thiên tướng 、 thất thập nhị địa sát đẳng đồng vi đạo giáo đích hộ pháp thần tướng , kinh thường tại nhương tai trung bị đạo sĩ triệu thỉnh , lịch hành phong lôi , chế phục quỷ thần 。 
l
ục đinh vi đinh mão 、 đinh tị 、 đinh mùi 、 đinh dậu 、 đinh hợi 、 đinh sửu , thị vi âm thần 。 
l
ục giáp vi giáp tý 、 giáp tuất 、 giáp thân 、 giáp ngọ 、 giáp thần 、 giáp dần , thị vi dương thần 。 cứ thuyết lục đinh lục giáp vi thiên đế dịch sử , năng 「 hành phong lôi , chế quỷ thần 」 。 đạo sĩ khả dụng phù lục triệu thỉnh chi 。
六丁(陰神玉女):
l
ục đinh ( âm thần ngọc nữ ) :
●丁卯神司馬卿  ● đinh mão thần ti mã khanh
●丁已神崔巨卿  ● đinh dĩ thần thôi cự khanh
●丁未神石叔通  ● đinh mùi thần thạch thúc thông
●丁酉神臧文公  ● đinh dậu thần tang văn công
●丁亥神張文通  ● đinh hợi thần trương văn thông
●丁丑神趙子玉  ● đinh sửu thần triệu tý ngọc
六甲(陽神玉男):
l
ục giáp ( dương thần ngọc nam ) :
●甲子神王文卿  ● giáp tý thần vương văn khanh
●甲戌神展子江  ● giáp tuất thần triển tý giang
●
甲申神扈文長  ● giáp thân thần hỗ văn trường
●甲午神衛玉卿  ● giáp ngọ thần vệ ngọc khanh
●甲辰神孟非卿  ● giáp thần thần mạnh phi khanh
●甲寅神明文章  ● giáp dần thần minh văn chương
【六丁六甲的重要性】
【 lục đinh lục giáp đích trọng yếu tính 】
六丁六甲神位雖小,但在道教中卻非常重要,經常被道士所役使。
  lục đinh lục giáp thần vị tuy tiểu , đãn tại đạo giáo trung khước phi thường trọng yếu , kinh thường bị đạo sĩ sở dịch sử 。
《後漢書•梁節王傳》記載,漢代方士已經有役使六丁六甲的方法,先行齋醮,然後召六丁神,「可使致遠方物,乃知吉凶也」。梁節王曾用這種方法來「占夢」。
《 hậu hán thư • lương tiết vương truyền 》 kí tái , hán đại phương sĩ dĩ kinh hữu dịch sử lục đinh lục giáp đích phương pháp , tiên hành trai tiếu , nhiên hậu triệu lục đinh thần , 「 khả sử trí viễn phương vật , nãi tri cát hung dã 」 。 lương tiết vương tằng dụng giá chủng phương pháp lai 「 chiêm mộng 」 。
《後漢書•梁節王暢傳》:「性聰惠,然少貴驕,頗不遵法度。歸國後,數有惡夢,從官卞忌自言能使六丁,善占夢,櫥數使卡筮。」注曰:「六丁,謂六甲中丁神也。若甲子甸中,則丁卯為神;甲寅甸中,則丁巳為神之類也。」
《 hậu hán thư • lương tiết vương sướng truyền 》 : 「 tính thông huệ , nhiên thiểu quý kiêu , pha bất tuân pháp độ 。 quy quốc hậu , số hữu ác mộng , tòng quan biện kị tự ngôn năng sử lục đinh , thiện chiêm mộng , trù số sử tạp thệ 。 」 chú viết : 「 lục đinh , vị lục giáp trung đinh thần dã 。 nhược giáp tý điện trung , tắc đinh mão vi thần ; giáp dần điện trung , tắc đinh tị vi thần chi loại dã 。 」
唐韓愈《調張籍》詩曰:「仙官敕六丁,雷電下取將。」
đường hàn dũ 《 điều trương tịch 》 thi viết : 「 tiên quan sắc lục đinh , lôi điện hạ thủ tướng 。 」
張萬福《傳授三洞經戒法箓略說》:「陰陽翕闢,萬二千物具而有神焉。主之者,六甲也……六甲者,一切之綱紀也。」
tr
ương vạn phúc 《 truyền thụ tam đỗng kinh giới pháp lục lược thuyết 》 : 「 âm dương hấp tịch , vạn nhị thiên vật cụ nhi hữu thần yên 。 chủ chi giả , lục giáp dã … … lục giáp giả , nhất thiết chi cương kỉ dã 。 」
南宋王契真編《上精靈寶大法》卷二:丁丑延我壽、丁亥拘我魂、丁酉制我魄、丁未卻我災、丁巳度我危、丁卯度我厄;甲子護我身、甲成保我形、甲申固我命、甲午守我魂、甲辰鎮我靈、甲寅育我真。
nam t
ống vương khế chân biên 《 thượng tinh linh bảo đại pháp 》 quyển nhị : đinh sửu diên ngã thọ 、 đinh hợi câu ngã hồn 、 đinh dậu chế ngã phách 、 đinh mùi khước ngã tai 、 đinh tị độ ngã nguy 、 đinh mão độ ngã ách ; giáp tý hộ ngã thân 、 giáp thành bảo ngã hình 、 giáp thân cố ngã mệnh 、 giáp ngọ thủ ngã hồn 、 giáp thần trấn ngã linh 、 giáp dần dục ngã chân 。
如今《道藏》中存有《靈寶六丁秘法》和《上清之甲祈禱秘法》,且《靈寶六丁秘法•後序》中稱六丁「能長能短,能有能無」。
nh
ư kim 《 đạo tàng 》 trung tồn hữu 《 linh bảo lục đinh bí pháp 》 hòa 《 thượng thanh chi giáp kì đảo bí pháp 》 , thả 《 linh bảo lục đinh bí pháp • hậu tự 》 trung xưng lục đinh 「 năng trường năng đoản , năng hữu năng vô 」 。
道教還有一種六甲符箓,用來「驅惡驅耶」。
đạo giáo hoàn hữu nhất chủng lục giáp phù lục , dụng lai 「 khu ác khu da 」 。
《雲笈七羲》卷十四稱:「若辟除惡神者,書六甲、六丁等持行,並呼甲寅,神鬼皆散走。」後來此就演變成六丁六甲神。
《 vân cấp thất hi 》 quyển thập tứ xưng : 「 nhược tích trừ ác thần giả , thư lục giáp 、 lục đinh đẳng trì hành , tịnh hô giáp dần , thần quỷ giai tán tẩu 。 」 hậu lai thử tựu diễn biến thành lục đinh lục giáp thần 。
《重修搜神記》載:元始命玉皇上帝陣詔,喝玄武披髮跣足,金甲玄袍,皂纛玄旗,統領丁甲。丁甲之名來源於天干地支,丁神六位:丁卯、丁巳、丁未、丁酉、丁亥、丁丑;甲神六位為:甲子、甲戌、甲申、申午、甲辰、甲寅。丁神六位支為陰,蓋為女神,甲神六位支為陽,蓋為男神。
《 trọng tu sưu thần kí 》 tái : nguyên thủy mệnh ngọc hoàng thượng đế trận chiếu , hát huyền vũ phi phát tiển túc , kim giáp huyền bào , tạo đạo huyền kì , thống lĩnh đinh giáp 。 đinh giáp chi danh lai nguyên ư thiên can địa chi , đinh thần lục vị : đinh mão 、 đinh tị 、 đinh mùi 、 đinh dậu 、 đinh hợi 、 đinh sửu ; giáp thần lục vị vi : giáp tý 、 giáp tuất 、 giáp thân 、 thân ngọ 、 giáp thần 、 giáp dần 。 đinh thần lục vị chi vi âm , cái vi nữ thần , giáp thần lục vị chi vi dương , cái vi nam thần 。
《續文獻通考》:「丁卯等六丁,陰神玉女也。甲子等六甲,陽神玉男也。
《 tục văn hiến thông khảo 》 : 「 đinh mão đẳng lục đinh , âm thần ngọc nữ dã 。 giáp tý đẳng lục giáp , dương thần ngọc nam dã 。
【六丁六甲的名諱】
【 lục đinh lục giáp đích danh húy 】
   關於六丁六甲的名諱,《上清六甲祈禱秘法》稱六丁神名為:丁卯神名文伯字仁高,丁丑神名文公字仁賢(貴),丁亥神名仁(文)通字仁和,丁酉神名文卿字仁 修,丁未神名升通字仁恭,丁巳神名庭卿字仁敬,六甲神名為:甲子神字青公名元德,甲成神字林齊名虛逸,甲申神字權衡名節略,甲午神字子卿名潺仁,甲辰神字 兗昌名通元,甲寅神字子靡名化石。
    quan ư lục đinh lục giáp đích danh húy , 《 thượng thanh lục giáp kì đảo bí pháp 》 xưng lục đinh thần danh vi : 
đinh mão thần danh văn bá tự nhân cao , 
đinh sửu thần danh văn công tự nhân hiền ( quý ) , 
đinh hợi thần danh nhân ( văn ) thông tự nhân hòa , 
đinh dậu thần danh văn khanh tự nhân tu , 
đinh mùi thần danh thăng thông tự nhân cung , 
đinh tị thần danh đình khanh tự nhân kính , 
l
ục giáp thần danh vi : 
gi
áp tý thần tự thanh công danh nguyên đức , 
gi
áp thành thần tự lâm tề danh hư dật ,
gi
áp thân thần tự quyền hành danh tiết lược , 
gi
áp ngọ thần tự tý khanh danh sàn nhân , 
gi
áp thần thần tự duyện xương danh thông nguyên , 
gi
áp dần thần tự tý mĩ danh hóa thạch 。
《黃帝太一八門入式訣》中還有六丁將軍:丁卯天雷上將孔昌阿明,丁丑龍雷上將王昭阿高,丁亥神雷上將何掛阿平,丁酉地雷上將崔茂阿申,丁未水雷上將高恆阿隆,丁巳烈雷上將徐向阿虔。
《 hoàng đế thái nhất bát môn nhập thức quyết 》 trung hoàn hữu lục đinh tướng quân : 
đinh mão thiên lôi thượng tướng khổng xương a minh , 
đinh sửu long lôi thượng tướng vương chiêu a cao ,
đinh hợi thần lôi thượng tướng hà quải a bình , 
đinh dậu địa lôi thượng tướng thôi mậu a thân , 
đinh mùi thủy lôi thượng tướng cao hằng a long , 
đinh tị liệt lôi thượng tướng từ hướng a kiền 。
《太上說玄天大聖真武本傳神咒妙經》卷二六甲神名 為:「甲子水將李文思,甲成土將李宗通,甲申金將李守全,甲午火將李守左,甲辰風將李守進,甲寅木將李守遷。」又《清微元降大法》卷一六稱六甲神名為:甲 子鳴雷大將軍管拱辰,甲成興雷大將軍康復,甲申烈火雷大將軍王延,甲午追雷大將軍張願,甲辰策雷大將軍許計昌,甲寅運雷大將軍區喆。
《 thái thượng thuyết huyền thiên đại thánh chân vũ bổn truyền thần chú diệu kinh 》 quyển nhị lục giáp thần danh vi : 
「 giáp tý thủy tướng lí văn tư , 
gi
áp tuất thổ tướng lí tông thông , 
gi
áp thân kim tướng lí thủ toàn , 
gi
áp ngọ hỏa tướng lí thủ tả , 
gi
áp thần phong tướng lí thủ tiến ,
 giáp dần mộc tướng lí thủ thiên 。 」 
h
ựu 《 thanh vi nguyên giáng đại pháp 》 quyển nhất lục xưng lục giáp thần danh vi : 
gi
áp tý minh lôi đại tướng quân quản củng thần , 
gi
áp tuất hưng lôi đại tướng quân khang phục , 
gi
áp thân liệt hỏa lôi đại tướng quân vương diên , 
gi
áp ngọ truy lôi đại tướng quân trương nguyện , 
gi
áp thần sách lôi đại tướng quân hứa kế xương , 
gi
áp dần vận lôi đại tướng quân khu 。
然最為一般的說法還是《老君六甲符圖》與《三才圖 會》中所說,其六丁神為:丁卯神司馬卿,丁丑神趙子任(玉),丁亥神張文通,丁酉神臧文公,丁未神石叔通,丁巳神崔石(巨)卿,六甲神為:甲子神王文卿, 甲成神展子江,甲申神扈文長,甲午神衛上(韋玉)卿,甲辰神孟非卿,甲寅神明文章。
nhi
ên tối vi nhất bàn đích thuyết pháp hoàn thị 《 lão quân lục giáp phù đồ 》 dữ 《 tam tài đồ hội 》 trung sở thuyết , kì lục đinh thần vi : 
đinh mão thần ti mã khanh , 
đinh sửu thần triệu tý nhậm ( ngọc ) , 
đinh hợi thần trương văn thông , 
đinh dậu thần tang văn công , 
đinh mùi thần thạch thúc thông , 
đinh tị thần thôi thạch ( cự ) khanh , 
l
ục giáp thần vi : 
gi
áp tý thần vương văn khanh , 
gi
áp thành thần triển tý giang , 
giáp thân thần hỗ văn trường
, 
gi
áp ngọ thần vệ thượng ( vi ngọc ) khanh , 
gi
áp thần thần mạnh phi khanh , 
gi
áp dần thần minh văn chương 。
  道教稱若心存六丁玉女,意注六丁神符,即可令房宅清潔,五毒不近,災難不生,又可求仙得仙,求官得官,萬事如意。道士齋醮作法時,常用符箓召請他們「祈禳驅鬼」,在道教宮觀中,他們被置於真武大帝的兩旁,作為恃衛之神。
    đạo giáo xưng nhược tâm tồn lục đinh ngọc nữ , ý chú lục đinh thần phù , tức khả lệnh phòng trạch thanh khiết , ngũ độc bất cận , tai nan bất sinh , hựu khả cầu tiên đắc tiên , cầu quan đắc quan , vạn sự như ý 。 đạo sĩ trai tiếu tác pháp thời , thường dụng phù lục triệu thỉnh tha môn 「 kì nhương khu quỷ 」 , tại đạo giáo cung quan trung , tha môn bị trí ư chân vũ đại đế đích lưỡng bàng , tác vi thị vệ chi thần 。
【六丁六甲護身神咒】
【 lục đinh lục giáp hộ thân thần chú 】
丁丑延我壽,丁亥拘我魂。丁酉制我魄,丁未卻我災。丁巳度我危,丁卯度我厄。甲子護我身,甲戌保我形。甲申固我命,甲午守我魂。甲辰鎮我靈,甲寅育我真。
đinh sửu diên ngã thọ , đinh hợi câu ngã hồn 。 đinh dậu chế ngã phách , đinh mùi khước ngã tai 。 đinh tị độ ngã nguy , đinh mão độ ngã ách 。 giáp tý hộ ngã thân , giáp tuất bảo ngã hình 。 giáp thân cố ngã mệnh , giáp ngọ thủ ngã hồn 。 giáp thần trấn ngã linh , giáp dần dục ngã chân 。
六丁六甲神厭法
l
ục đinh lục giáp thần yếm pháp
混元五斗圖紅黑赤分○←混元道氣○↓陽化吾身○→出幽入冥○↓或隱或現○↓○←←←←←萬物皆成○天罡所指,出入萬人,不見吾兵,隱匿吾形,賊兵敗亡,吾軍安寧急急如律令。
h
ỗn nguyên ngũ đẩu đồ hồng hắc xích phân ○ ← hỗn nguyên đạo khí ○ ↓ dương hóa ngô thân ○ → xuất u nhập minh ○ ↓ hoặc ẩn hoặc hiện ○ ↓ ○ ← ← ← ← ← vạn vật giai thành ○ thiên cương sở chỉ , xuất nhập vạn nhân , bất kiến ngô binh , ẩn nặc ngô hình , tặc binh bại vong , ngô quân an ninh cấp cấp như luật lệnh 。
▼用法:於六丁日、六甲日,各依其式畫符,踏混元武鬥罡步,每晚三更時分,左手執六甲、六丁本色帛,右手執硃砂筆,各望本方,唸咒,取氣四十九口,吹在帛、筆上。
▼ dụng pháp : ư lục đinh nhật 、 lục giáp nhật , các y kì thức họa phù , đạp hỗn nguyên vũ đấu cương bộ , mỗi vãn tam canh thời phân , tả thủ chấp lục giáp 、 lục đinh bổn sắc bạch , hữu thủ chấp chu sa bút , các vọng bổn phương , niệm chú , thủ khí tứ thập cửu khẩu , xuy tại bạch 、 bút thượng 。
▼咒語:謹請天壓神王,日壓神王、時壓神王、六丁神箭壓王、伏望聞請速降靈驗,助壓令某某人病不語疼痛,吾壓法東行,樹 木摧折。吾壓法南行,炎消滅,吾壓法西行,金剛裂缺。吾壓法北行,江海水竭,吾壓法上行,雲星光暗,吾壓法下行,地皮破裂,吾壓法到神,神安神和,吾壓不 忠、不孝。欺國滅族......急急如律令。
▼ chú ngữ : cẩn thỉnh thiên áp thần vương , nhật áp thần vương 、 thời áp thần vương 、 lục đinh thần tiễn áp vương 、 phục vọng văn thỉnh tốc giáng linh nghiệm , trợ áp lệnh mỗ mỗ nhân bệnh bất ngữ đông thống , ngô áp pháp đông hành , thụ mộc tồi chiết 。 ngô áp pháp nam hành , viêm tiêu diệt , ngô áp pháp tây hành , kim cương liệt khuyết 。 ngô áp pháp bắc hành , giang hải thủy kiệt , ngô áp pháp thượng hành , vân tinh quang ám , ngô áp pháp hạ hành , địa bì phá liệt , ngô áp pháp đáo thần , thần an thần hòa , ngô áp bất trung 、 bất hiếu 。 khi quốc diệt tộc . . . . . . cấp cấp như luật lệnh 。