Translate

Thứ Bảy, 15 tháng 5, 2021

LA KÍNH THẤU GIẢI -P2

TẦNG THỨ 1 : TIÊN THIÊN BÁT QUÁI
Tiên thiên bát quái là do 2 vị thánh :Văn Phục Hy và Văn Vương chế tạo ra, phù hợp với đức độ của trời đất và sự quang minh của nhật nguyệt thứ tự thời tiết của 4 mùa, cùng sự cát hung của nhân gian, như là có linh ứng với quỷ thần.
Do thái cực chia ra động và tĩnh để làm lưỡng tượng tức âm dương...Do ở trong dương tượng mà sinh ra thái dương và thiếu âm. Do trong âm lượng mà sinh ra thái âm và thiếu dương:tức lá tứ tượng. Do thái dương mà sinh ra Kiền - Đoài -2. Do thiếu âm mà sinh ra Ly -3, Chấn -4, Do thiếu dương mà sinh ra Tốn-5, Khảm -6.Do thái âm mà sinh ra Cấn -7, Khôn - 8 : là bát quái.Bát quái quyết định việc tốt xấu, tốt xấu sinh ra tất cả mọi việc hay dở.
Nét vạch của quái(tức quẻ) thì có chẳn,lẻ như là :quẻ Kiền thì tam liền (tức 3 gạch liền ).Khôn lục đoạn(nét đứt). Chấn ngưỡng bồn(tức hình cái chậu để ngửa). Cấn phúc uyển (hình cái chén úp). Ly trung hư (hình rỗng giữa).Khảm trung mãn(liền ở giữa). Đoài thượng khuyết (nét trên thiếu đứt đôi).Tốn hạ đoạn (nét dưới đứt đôi )TẦNG THỨ HAI: LẠC THƯ(tức hậu thiên bát quái)

Lạc thư là chữ số ghi trên lưng con rủa ở sông Lạc, hiện lên thấy có: số 9 ở đầu, số 1 ở chân, số 3 bên tả, số 7 bên hữu, số 2 và số 4 ở vai, số 6 và số 8 ở chân, số 5 ở trung cung. Đây là thần quy phụ đế ở trên giữa sông Lạc. Lấy đó mà thành biến vô cùng, 1-Khảm-Thuỷ, 2-Khôn-Thổ, 3-Chấn-Mộc, 4-Tốn-Mộc, 5-Trung-Thổ, 6-Kiền-Kim, 7-Đoài-Kim, 8-Cấn-Thổ, 9-Ly-Hoả. Bát quái do đó lập thành. Phép làm lịch nhân đó mà có nhất bạch, nhị hắc, tam bích, tứ lục, ngũ hoàng, lục bạch, thất xích, bát bạch, cửu tử. Lấy hình tượng để hoá tứ tượng. Thái dương ở số 1, liền với số 9 nên thành ra 4x9=36. Thái âm ở số 4 liền với số 6 nên thành ra 4x6=24, cộng lại 36+24=60 số, để thành 60 giáp tý. Thiếu dương ở số 3 mà liền với số 7 nên thành ra 4x7=28. Thiếu âm ở số 2 mà liền với số 8 nên thành ra 4x8=32, cộng lại 28+32=60, để thành 60 hoa giáp, hợp với 60 trước hoá ra 120, là nguồn gốc của 120 phân kim, còn về sự hoá ra số chẵn, lẻ, âm, dương thì số 1, 3, 5, 7, 9 là số lẻ thuộc về dương; số 2, 4, 6, 8 là số chẵn thuộc âm. Kiền, Khôn, Khảm, Ly là 4 quẻ thuộc dương. Chấn, Tốn, Cấn, Đoài là 4 quẻ thuộc âm. Theo hậu thiên 1 được 9 thành 10, tức hướng Tý, Ngọ(Khảm, Ly) 2 được 8 thành 10, tức hướng Khôn, Cấn, 3 được 7 thành 10, tức hướng Chấn, Đoài(Mão, Dậu) 4 được 6 thành 10, tức là hướng Kiền, Tốn là hậu thiên phu phụ đối đãi. Theo số của Lạc thư thì Khảm 1, Kiền 6, Cấn 8 cộng là 15 số ở phương Bắc; Tốn 4, Ly 9, Khôn 2 cộng là 15 số ở phương Nam; Chấn 3, Tốn 4, Cấn 8 cộng là 15 số ở phương Đông; Đoài 7, Khôn 2, Kiền 6 cộng là 15 số ở phương Tây; tổng cộng là 60 số để ứng với 60 long. Do ở nguồn gốc đó mà ra; Tứ chính, tứ duy, trung ương cộng là 60 số, hợp cả 60 số trước lại là 120 phân kim. Ngang 15, dọc 16 cái thành ra 240 phân, mỗi sơn 10 phân, lấy ứng 240 sơn, để dùng làm việc phân kim, biết số vượng, tướng, cô, hư, sát diệu. Về Hà đồ thì 1 cùng tông với 6, nên Giáp và Kỷ hợp; 2 cùng đạo với 7 nên Ất và Canh hợp; 3 với 8 là bạn nên Bính với Tân hợp; 4 với 9 cùng hội nên Đinh với Nhâm hợp; 5 với 10 cùng đường nên Mậu với Quý hợp. Như vậy ta thấy Hà đồ Lạc thư vận dụng rất rộng rãi, hễ gặp hợp thì hoá, tất được 5 mà thành 10. Cho nên giáp kỷ bắt đầu khởi từ Giáp Tý đến 5 vị gặp Mậu Thìn hoá thổ; Ất Canh khởi Bính Tý tiến 5 vị gặp Canh Thìn thì hoá kim; Bính Tân khởi Mậu Tý tiến 5 vị gặp Nhâm Thìn thì hoá thuỷ; Đinh Nhâm khởi Canh Tý tiến 5 vị gặp Giáp Thìn thì hoá mộc; Mậu Quý khởi Nhâm Tý tiến 5 vị gặp Bính Thìn thì hoá hoả. Đó là tương hợp tương hoá, tương tòng, nguyên tắc của phép độn ngũ tý; gặp dần mà sinh, gặp thìn mà biến là lẽ thường như: Giáp Kỷ khởi Giáp Tý, đến Dần là Bính hoả mà sinh ra Mậu Thìn thổ. 4 cung sau cũng vậy theo đó sẽ suy ra.
Lạc thư 1 được 5 thành 6 nên Giáp với Kỷ hợp; 2 được 5 thành 7 nên Ất với Canh hợp; 3 được 5 thành 8 nên Bính với Tân hợp; 4 được 5 thành 9 nên Đinh với Nhâm hợp; 5 được 5 thành 10 nên Mậu với Quý hợp. Theo Hà đồ 1-6 là Thuỷ, 2-7 là hoả, 3-8 là Mộc, 4-9 là Kim, 5-10 là Thổ. Thiên 1, địa 2, thiên 3, địa 4, thiên 5, địa 6, thiên 7, địa 8, thiên 9, địa 10. Nói về thiên số thì giáp, bính, mậu, canh, nhâm là 5 vị dương can. Về địa số thì ất, tân, đinh, kỷ, quý là 5 âm can. Theo số đại diễn thì thiên số có 25, địa số có 30, cộng là 55 rất tinh vi và diệu dụng vô cùng.


TẦNG THỨ BA: BÁT SÁT HOÀNG TUYỀN

Khảm Long, Khôn Thố, Chấn sơn Hầu
Tốn Kê, Kiền Mã, Đoài Xà đầu
Cấn Hổ, Ly Trư, vi sát diệu
Trach, mộ phùng chi, nhất khắc hưu
Trên đây là cái sát hàng đầu, rất kỵ cho việc tạo táng. Người ta thường gọi là Bát sát, chỉ có 8 cái phương sát: Khảm long kỵ Thìn và Tuất 2 thuỷ lại, Khôn long kỵ Mão thuỷ lại, Chấn long kỵ Thân thuỷ lại, Tốn long kỵ Dậu thuỷ lại, Kiền long kỵ Ngọ thuỷ lại, Đoài long kỵ Tỵ thuỷ lại, Cấn long kỵ Dần thuỷ lại, Ly long kỵ Hợi thuỷ lại, mỗi long chỉ có 1 sát.Còn về chọn ngày tạo mệnh thì ở năm, tháng, ngày, giờ kỵ dụng. Ví dụ như Khảm sơ thì kỵ mậu thìn, mậu tuất, Khôn sơn kỵ ất mão, Chấn sơn kỵ canh thân, Tốn sơn kỵ tân mậu, kiền sơn kỵ nhâm ngọ, Đoài sơn kỵ đinh tỵ, Cấn sơn kỵ bính dần, Ly sơn kỵ kỷ hợi. Đó, đều do ở hào quan quỹ của hỗn thiên ngũ hành phạm sát. Nếu tạo táng hay sửa chữa mộ ở phương đó cả hai việc; Trước hết đem thái tuế của năm, vào trung cung, tiến theo chiều thuận phi luân chuyển; sau lấy nguyệt kiến của tháng và ngày giờ phi ra 9 cung, như gặp quý tỵ, quý hợi của năm tháng ngày giờ vào trung cung, thì mậu tuất, mậu thìn đến nhất bạch, không nên sửa chữa ở phương khảm và tạo táng ở khảm sơn. Nếu gặp kỷ dậu niên, kỷ dậu nguyệt, kỷ dậu nhật, kỷ dậu thời nhập trung cung, chuyển đến ất mão là nhị hắc đáo khôn sơn thì có thể sửa hay là tạo táng ở khôn sơn được. Nếu như quý sửu niên, hay nguyệt, nhật, thời nhập trung cung phi chuyển đến canh thân, tân dậu đáo tam bạch, tứ lục thì không nên tu tạo ở 2 sơn chấn, tốn. Tân tỵ niên, nguyệt, nhật, thời nhập trung cung, luân chuyển tới ngọ là lục bạch, đáo kiền thì không nên tu tạo ở kiền sơn. Quý hợi niên, nguyệt, nhật, thời vào trung cung, luân chuyển đến bính dần là bát bạch đáo cấn thì không nên tu tạo ở cấn sơn. Ất mão niên, nguyệt, nhật, thời nhập trung cung phi chuyển đến đinh tỵ là thất xích đoài thì không nên tu tạo ở đoài sơn. Ất mùi niên, nguyệt, nhật, thời nhập trung cung phi chuyển đến kỷ hợi là cửu tử đáo ly, thì không thể tu tạo ở ly sơn được.Đó đều là bát sát quy cung, thì quyết định bách nhật nội, đại sinh hung hoạ thật nên tránh, đó là 8 cung sát nên cẩn thận chơ phạm vào.

Bài ca về hỗn thiên ngũ hành:
Kiền Kim, Giáp Tý, ngoại Nhâm Ngọ
Khảm Thuỷ, Mậu Dần, ngoại Mậu Thân
Cấn Thổ, Bính Thìn, ngoại Bính Tuất
Chấn Mộc, Canh Tý, Canh Ngọ lân
Tốn Mộc, Tân Sửu ngoại Tân vị
Ly Hoả, Kỷ Mão, Kỷ Dậu tầm
Khôn Thổ, Ất Mùi gia Quý Sửu
Đoài Kim, Đinh Tỵ, Đinh Hợi bình
Nghĩa là Kiền thuộc kim thì kỵ giáp tý và nhâm ngọ 2 phương, 7 cung kia cũng theo như thế mà suy nhận.Không kể chính sát hay bàng sát, chỉ kỵ ở chổ nạp giáp. Canh, Thân, Tân, Dậu đồng phạm với Ất, Mão; Cấn, Dần đồng phạm Nhâm, Hợi. Sơn và thuỷ đều có sát, sơn có sơn sát, thuỷ có thuỷ sát. Lập hướng gồm kỵ cả. Cho nên thuỷ hai dòng chảy lại, nước bên hữu lại thì trưởng tử bại, nước bên tả lại thì con thứ hai bại, nước chảy ngang trước mặt thì con thứ ba bại. Xem nước ở trên mặt ruộng sẽ thấy.
Hướng kỵ:
Khảm long thì kỵ Thìn Tuất hướng
Cấn long thì lỵ Dần hướng
Chấn long thì kỵ Thân hướng
Tốn long thì kỵ Dậu hướng
Ly long thì kỵ Hợi hướng
Khôn long thì kỵ Mão hướng
Đoài long thì kỵ Tỵ hướng
Kiền long thì kỵ Ngọ hướng
Đây là hào quan quỷ về hỗn thiên ngũ hành của tiên thiên bát quái.
TẦNG THỨ TƯ
TỨ LỘ VÀ BÁT LỘ HOÀNG TUYỀN
 
Bài thi ca :
Canh Đinh , Khôn thượng thị Hoàng Tuyền
Khôn Hướng, Canh Đinh thiết mạc ngôn
Ất Bính tu phòng Tốn Thủy tiên
Tốn Hướng kỵ hành Ất Bính thượng
Giáp Quý Hướng trung ưu kiến Cấn
Cấn phùng Giáp Quý họa liên liên
Tân Nhâm, Kiền lộ tối nghi kỵ
Kiền Hướng, Tân Nhâm họa diệt nhiên
Bốn cài Sát này là Tứ Lộ, đảo lộn lại hóa ra Bát Lộ Hoàng Tuyền, cũng sát kỵ như nhau.
Đó là kỵ ở trên phương vị Lập Hướng có nước chảy lại Minh Đường ngay trước mặt. Khai Môn, Phóng Thủy càng kỵ nữa. Lấy Tọa Sơn khởi lệ, dùng bàn tay mà định 12 vị của vòng Trường Sinh, tính đến số Mộ, Tuyệt là phương Tiêu Thủy ở đó.
Ví dụ như :  Giáp Sơn Canh Hướng, thì Giáp là Mộc, Mộc Trường sinh ở Hợi, Mộc Dục ở Tý, Quan Đới ở Sửu...Mộ ở Đinh Mùi, Tuyệt ở Khôn Thân.
Đây là mượn Hướng thược để lấy bàn về Tọa Sơn. Như Canh Hướng thì Tọa Giáp Sơn, Đinh Hướng thì Tọa Quý Sơn, đó chính là nghĩa câu " Kim Dương thu Quý Giáp chi linh", tức là nước ở phương Mùi Khôn nên chảy đi, không nên chảy lại trước Huyệt, Thủy triều vào là bại, phạm Hoàng Tuyền đại sát, bị yểu vong, cô quả. Chỉ lấy Tọa Sơn làm chủ, không cần bàn đến Long Tả Toàn hay Long Hữu Toàn gì cả. Thánh Nhân nói :  Sinh-Vượng-Mộ hợp lại mà Mạnh-Trọng-Quý 3 phòng phân biệt; là ý nói : 2 phương Sinh, Vượng nên chảy lại, Mộ khố phương nên chảy đi. Nếu nên chảy vào mà lại chảy đi là phản! Là Sinh-Dưỡng Thủy khứ thì Mạnh phòng, tức là con trưởng bại. Nếu Vượng Thủy mà chảy đi thì trung phòng, tức con thứ hai bại. Nếu như Thủy nên chảy đi mà chảy lại, như là Thủy phượng Tử, Mộ chảy lại vào trước Huyệt đó thì Quý phòng, con thứ ba bại.  Ví dụ ở cục này như thế, các cục khác cũng tương tự vậy mà suy ra.
ĐỊA CHI HOÀNG TUYỀN:
Mẹo Thìn Tị Ngọ phạ Tốn cung
Ngọ Mùi Thân Dậu, Khôn nhược phùng
Dậu Tuất Hợi Tý, Kiến cung thị
Tý Sửu Dần Mẹo, Cấn tao hung.
Nghĩa là:
Mẹo Thìn Tị Ngọ thì Hoàng Tuyền ở Tốn
Ngọ Mùi Thân Dậu thì Hoàng Tuyền ở Khôn
Dậu Tuất Hợi Tý thì Hoàng Tuyền ở Kiền
Tý Sửu Dần Mẹo thì Hoàng Tuyền ở Cấn
 
BẠCH HỔ HOÀNG TUYỀN:
Kiền Giáp Khảm Quý Thân Thìn sơn
Bạch Hổ chuyển tại Đinh Mùi gian
Cánh hữu Ly Nhâm Dần kiêm Tuất
Hợi sơn lưu Thủy chủ ưu phiền
Chấn Canh Hợi Mùi tứ sơn kỳ
Thủy nhược lưu Thân khước bất nghi
Cánh hữu Đoài Đinh Tị kiêm Sửu
Phạm trước Ất Thìn Bạch Hổ khi.
Khôn Ất nhị cung Sửu mạc phạm
Thủy lai tất nam định vô nghì
Cấn Bính sầu phùng Ly thượng hạ
Tốn Tân ngộ Khảm họa nan di
Nghĩa là :
Kiền Giáp Khảm Quý Thân Thìn thì Bạch Hổ Hoàng Tuyền ở Đinh Mùi
Ly Nhâm Dần Tuất                      .................................. Hợi
Chấn Canh Hợi Mùi                      .................................. Thân
Đoài Đinh Tị Sửu                        ....................................Ất Thìn
Khôn Ất                                    ....................................Sửu
Cấn Bính                                   ....................................Ly
Tốn Tân                                    ....................................Khảm
 
Cả 2 cái Hoàng Tuyền trên đây ( Địa Chi Hoàng Tuyền và Bạch Hổ Hoàng Tuyền) đều lấy Hướng làm chủ, kiêng kỵ mở cửa và chỗ nước chảy tiêu đi ở phương đó.
Tóm lại  : Quyết (phép) này lấy Hướng thượng để luận định về Thủy lai đáo đường, hoặc Thủy khẩu, chỗ tiêu đi và đường ngõ đi, rất sợ phạm vào phương kỵ sát đó, sẽ hao người tốn của, tai họa và ly hương biệt tổ, nghiệm lắm! Cần dựa vào Thủy để lấy Hướng thì không bị những cái sát đó. Như Khôn Thủy lai thì lập 2 hướng Khôn Thân mà thu Thủy thì tốt, nếu lập Hướng Canh tức bị phạm Hoàng Tuyền thì xấu.


TẦNG THỨ NĂM
CỬU TINH ĐẾ ỨNG TỨ VIÊN CỤC

Cửu tinh là: Tham, Cự, Lộc, Văn, Liêm, Vũ, Phá, Phụ, Bật phối hợp với 24 sơn, dụng Địa mẫu quái để định, theo Bát Quái biến sao. Lấy cung đối với cung khôn khởi Tham Lang để phối hướng.
Như Cấn Bính là Tham Lang thuộc Mộc, Cự Môn Thổ ở Tốn Tân, Kiến Giáp là Lộc Tồn Thổ, Ly Nhâm Dần Tuất là Văn Khúc Thủy, Chấn Canh Hợi Mùi là Liêm Trinh Hỏa, Đoài Đinh Tị Sửu là Vũ Khúc Kim, Khmả Quý Thân Thìn là Phá Quân Kim, Khôn Ất là Phụ Bật thuộc Thổ Mộc đó vậy.
Kinh Dịch nói: Nhìn khí tượng bay trên trời rũ xuống thấy cát hung, ở trên trời thành khí tượng, ở dưới đất thành cái hình thể, chiếu xuống 24 sơn. Tinh có tốt có xấu, cho nên đất cũng có lành có dữ.
Bảo rằng: Trời che Đất chở là lấy sao Thiên Hoàng ở Hợi, chiếu vào Tử-vi-viên ở trên đó, và Cấn là Thiên-thị-viên, Tốn là Thái-vi-viên, Đoài là Thiếu-vi-viên. Bốn cục này là 4 Vi-Thiên-Tinh rất quý. Thiến Quý chiếu vào Bính, Thiên Ất thì chiếu vàoTân, Nam Cực chiếu Đinh hợp Cấn, Tốn Đoài gọi là Lục Tú. Lại còn Thiên Bình chiếu vào Tị là đối cung Tử-vi-viên, gọi là Đế đô minh đường. Nên Hợi Tị hợp với Lục Tú gọi là Bát Quý. Ly cư chính nam là chính giửa trời đất đều tốt lành, nếu là mọi Dương Long thì là hạ (kém). Tóm lại, lấy Tử-Vi, Thiên-Thị, Thái-Vi, Thiếu-Vi làm 4 vị Thiên Tinh quý, trong 4 viên này thì có Tử-Vi, Thiên-Thị, Thái-Vi là 3 viên có cái hiệu nghiệm lập quốc, kiến đô, hợp 3 viên là tốt. Còn như Thiếu-Vi không phải là Đế tòa, là Huyền Đô không nên lấy dùng. Lấy 24 vị Thiên tinh này phối với sơn, sa, thủy ứng nghiệm.
Lại còn lấy cái Long của Tam Dương, Lục Kiền là Thiên Hợi, Địa Cấn, Nhân Đinh, Tài Mão, Lộc Tốn, Mã Bính, tinh thần là Ngũ Cát đinh. Ngọc môn Tốn, Văn bút Tân, Học đường Bính, Xá đường Mão, Trường bịnh Bính Đinh. Kim đới Canh Dậu Tân, Ngân đới Mão Cấn, Cấu Phú Văn Quý Tốn Tân. Trên đây, trong cái Tam Cát, Lục Tú này thì Dương Trạch đại vượng, nhân đinh phú quý, và bền vững lâu dài; còn Âm Phần không bị mối, kiến, bùn nước vào quan tài mà phát phúc lâu dài. Đó là cùng vị về Thiên Tinh, Sa, Thủy, tốt hay xấu do đó mà định đoán. Hễ Sa quý thì sinh ra người quý, Sa tiện thì sinh ra người tiện. Còn Tầm Long nhập huyệt ở chỗ quá giáp, hễ thấy Thổ sắc biến khác thì tìm huyệt ở chỗ quá giáp đó. Như là: Quá giáp là đá thì huyệt cũng có đá, sắc đất màu đỏ là Liêm Trinh, vàng là Cự Môn... tất cả đều lấy Cửu Tinh mà luận.
Xem Thổ sắc thì chuyên xem Long quá giáp, chỗ quá giáp với chỗ huyệt tính tình cũng tương tự.
Phép xem Thổ sắc biến thì cần yếu lấy chỗ Long Nhập Thủ ở chỗ quá giáp đặt La Kinh coi. Như Cấn Bính là Tham Lang thuộc Mộc, mà Long đến lại huyệt thì sắc đất hẳn xanh; Tân Tốn là Cự Môn thuộc Thổ thì sắc đất vàng; Kiền Giáp là Lộc Tồn Thổ thì chỗ huyệt sắc đất cũng vàng; Ly Nhâm Dần Ngọ Tuất là Văn Khúc Thủy thì sắc đất chỗ huyệt hẳn đen; Chấn Canh Hợi Mùi là Liêm Trinh Hỏa thì sắc đất chỗ huyệt hẳn đỏ; Đoài Đinh Tị Sửu là Vũ Khúc Kim thì sắc đất hẳn trắng; Khảm Quý Thân Thìn là Phá Quân Kim thì đất chỗ huyệt hẳn là đen và trắng; Khôn Ất là Phụ Bật Thổ Mộc thì có phân ra Phụ thuộc Mộc, Bật thuộc Thổ, do vậy sắc đất chỗ huyệt hẳn là xanh vàng. Lấy màu sắc hồng hoàng, sáng tươi, mềm dẻo thì tốt; đen khô, rời vụn thì rật xấu. Thổ phì hậu thì tốt, kiên ngạnh và đá cứng cũng hung.
Trên đây, trước nói về các công dụng của Cửu Tinh, sau kế Tứ-Viên Cửu tinh để ứng với viên-cục thiên tinh của 24 phương vị, phân hoạch kinh độ của một kinh bàn đều ra trong và ngoài thông, hợp cẩn trọng cả.
PHÉP XEM SẮC ĐẤT:
Thiên Thôi Quan nói: Chỗ quá giáp màu sắc đất tía thì huyệt cũng tía, hồng là Liêm Trinh, hoàng là Cự Môn.
Thuyết an táng của tiền hiền nói: Bói để tìm chỗ đất táng mộ hay làm nhà ở xem tốt xấu, thì xem lấy chỗ đất sắc màu tươi sáng có cỏ cây mọc xanh tốt, chỗ ấy trước kia không phải là sông, đầm, thành trì và không có đường đi áp bức thì tốt. Chỗ đất có khí mạch tốt thì hài cốt tốt, vong hồn được yên ổn, con cháu được thịnh vượng, đó là lẽ cố nhiên. Nên người xưa định đặt huyệt chỗ nào thì bên ngoài xem hình thể núi sông, bên trong thì xem màu sắc đất tốt xấu, mới chắc chắn là được. Cốt nhất là được đất chắc mịn, mềm dẻo, sắc tươi sáng, thấy hồng hoàng như viên ngọc hay như thớ thịt, nửa nạc nửa mỡ là tốt thượng hạng. Nếu khô khan, rời rã như cát sỏi vụn thì xấu không có khí mạch.
Tụ khí là hành Kim thì đất trắng, là Thủy khí thì đất đen, Mộc khí thì sắc xanh, Hỏa khí thì đất đỏ, là Thổ khí thì sắc vàng. Có nơi đất như cẩm thạch, óng ánh như long não, như ngọc bích là rất quý. Cần phải lựa xem chỗ nào có tính cách đặc biệt mới là thật tốt. Ví dụ: Cả vùng đất đó đều bình thường như nhau, chỉ có một chỗ khác sắc, hoặc mịn tươi hơn là rất tốt, khi khai đào huyệt thấy có sinh vật nào như rùa, cá là tinh túy của Thiên Địa, là có điềm tốt. Còn nếu thấy rắn, chuột, sâu bọ, kiến là xấu. Cấn phải nhận định rõ ràng kỹ lưỡng.
Khi xem Âm phần, Dương trạch, cả hai bên đầu tối kỵ không được phạm vào Long Thể, phải để dư ra rộng rãi tư nhiên. Nếu bị phá thương Long sẽ sinh ra kiện tụng, hao tài, tổn nhân đinh, đã kinh nghiệm thấy nhiều không sai. Nếu không, hãy xem những nhà không biết, khi Tạo Táng đào xẻ phạm vào Long Thể thì sẽ thấy sự tai hại. Ngoài ra còn, ở ngoài chỗ Thủy Khẩu có tượng đá đặc biệt, hoặc có những diệu tinh, cũng không được phá hoại, phạm đến cũng sẽ bị ảnh hưởng như thế.

TẦNG THỨ SÁU
ĐỊA BÀN CHÍNH TRÂM
Gọi là Tiên Thiên Kinh Bàn, hay còn gọi là La Kinh. Trước hết phân ra Bát Quái để định vị, lập hướng. Tiên Thiên Địa Chi chỉ có 12 Chi ở 12 vị, gọi là 12 Lôi Môn, làm Thi-Cốt Long. lấy Chính Trâm mà luận định. Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu là ngôi chính của Trời Đất; Dần, Thân, Tị, Hợi là nơi Trường Sinh của Ngũ Hành; Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là chổ Ngũ khí Quy nguyên (Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ trở về gốc) cho nên Hậu Thiên vận dụng Chính Trâm, thì Chi nào cũng có Chính đính (chơn chính).
Địa chi thuộc Âm, tĩnh mà không động. Hậu Thiên thêm vào Tứ Duy và Bát Can: Tứ Duy là Càn, Khôn, Cấn, Tốn; Bát Can là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Lấy Tứ Duy và Bát Can thuộc về Dương và chủ động. Lấy ở giửa ranh giới của 12 Chi và Tứ Duy, Bát Can tức nơi giao giửa Âm và Dương là lúc Khí hậu thay đổi ở khoảng đó. (cái này các anh chị, các bạn có thể thấy ở tầng tứ 29, nơi giao nhau giửa chúng luôn là điểm giao Tiết Khí). Nên ở khoảng Thiên Địa là có Âm thì cần phải có Dương, tức như trong Âm Chi phải có Dương Can, không thể hỗn độn được. Âm nhờ Dương nên không bị Hư, Dương nhờ Âm nên không bị Cô (đơn lẻ). Hai khí tự nhiên có sự hoá sinh, sinh hoá huyền diệu. Người xưa chế tạo ra Chính Trâm cũng không ngoài sự biến hoá của 12 Chi, Địa bàn vốn làm gốc rễ của Trung trâm, Phùng trâm và Xuyên sơn, Thấu địa. Những ngôi Sinh, Vượng, Hưu, Tù của Ngũ Hành, hoặc thường lệ của Âm, Dương thuận, nghịch di chuyển tự đấy (12 Địa Chi) mà suy ra cả. Trên có thể phân độ của các vị Tinh tú, dưới có thể hoạch định được địa phận của các phương, rất huyền diệu và đầy đủ. Người trí thức nên thuộc hiểu cái đó.
Đời sau người ta dùng Chính Trâm phân 24 sơn, là gốc do ở Vua Văn Vương hoạch định Bát Quái, mỗi quái quản tam sơn (3 phương) vị:
_ Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu ở bốn ngôi chính, tức là Khảm, Ly, Chấn, Đoài, là 4 quẻ tàng.
_ Càn, Khôn, Cấn, Tốn ở bốn phương bàng (tứ duy), là 4 quẻ hiển.

ĐỊA VỊ CỦA TỨ CHÍNH VÀ TỨ DUY

BÁT QUÁI              CHÍNH VỊ              PHỤ VỊ TẢ, HỮU            THUỘC QUẺ
Khảm                    Chính Bắc                Nhâm, Quý                     tàng
Ly                        Chính Nam                Bính, Đinh                      tàng
Chấn                    Chính Đông                 Giáp Ất                        tàng
Đoài                      Chính Tây                Canh, Tân                      tàng
Càn                        Tây Bắc                  Tuất, Hợi                       hiển
Khôn                      Tây Nam                  Mùi, Thân                      hiển
Tốn                       Đông Nam                  Thìn, Tị                        hiển
Cấn                       Đông Bắc                  Sửu, Dần                       hiển

Trong đây gồm đủ cả vị Chính, vị Thiên, ngang Trời, dọc Đất đều thấu suốt hết cả, dùng để Cách Long, Định Huyệt, Lập Hướng, Thừa Phong, Tiêu Sa, Nạp Thuỷ, Cất nhà, An phần, trọn phôi Âm Dương, tác dụng rất rộng rãi, vô cùng. Trong này bày Lục Giáp tại Bát Môn thì suy ra Ngũ Vận Lục Khí, Ngũ Hành điên đảo, còn dùng nhiều việc khác vô cùng vậy! Cổ nhân có câu " Thức đặc Gủ Hành điên đảo điên, tiên thị nhân gian Địa trung Tiên". Nghĩa là: Biết được phép dụng của Ngũ Hành xoay chuyển xuôi ngược, đảo lộn, tức là Tiên trong thế gian rồi!
Biết thì làm được hợp Long, Huyền Quan thông khiếu. Phép dùng thì trước hết đặt La Kinh trên Long Tích (sống đất mô lên) chiếu phân biệt 4 cái Đại Thuỷ Khẩu, rồi sau lấy đến Tả toàn, Hữu toàn mà luận định
Thành Hiền xưa nói: "Ất Bính giao nhi xu Tuất. Tân Nhâm hội nhi tụ Thìn. Sửu Ngưu nạp Canh Đinh chi khí. Kim Dương thu Quý Giáp chi linh". Bốn câu quyết này bàn về Lý khí của Tiên Thiên, Hậu Thiên, cần phải hiểu tường tận về 4 cái Thuỷ Khẩu của 4 cục:
VÍ DỤ:
1_ Như phương Mẹo, Thuỷ từ Ất chuyển lại là Hữu toàn Thuỷ, Ất thuộc Âm Mộc thì phải phối hợp với Thuỷ ở phương Bính là Dương Hoả, rồi chảy ra phương Tuất là Mộ Thuỷ Khẩu của Hoả cục. Được như thế là Phu Thê tương phối, hợp lẽ. Nếu phối với Thuỷ ở phương Canh chảy ra phương Sửu, hoặc phối với Giáp chảy ra Mùi, hay phối với Nhâm chảy ra Thìn...thì phạm về Dương Sai. Ví như nam nữ gặp nhau ngoài đường mà nhận càn làm chồng, làm vợ vậy.
2_Như phương Ngọ, Thuỷ từ Bính chảy qua là Tả toàn Thuỷ, Bính là Dương Hoả thì phải phối với Thuỷ ở Ất là Âm Mộc, rồi chảy ra Tuất là Thuỷ Khẩu. Được như thế là Phu Thê tương phối thì đúng tốt. Nếu phối Tân Thuỷ mà chảy ra ở Thìn, hoặc phối với nước ở Quý mà ra ở Mùi, hoặc phối với Đinh mà ra ở Sửu...là phạm về Âm Thác. Đó chẳng khác nào Âm Dương hỗn tạp, người đi đường vơ bậy làm chồng, vợ vậy.
Hai đoạn trên đây là nghĩa của câu "Ất Bính giao nhi xu Tuất".

3_Như Thuỷ từ phương Tân chảy sang phương Dậu là Hữu toàn Thuỷ, Tân là Âm Kim thì phối với Nhâm là Dương Thuỷ, mà xuất ra ở Thìn là Mộ Khố của Thuỷ cục, được như thế là Phu Thê tương phối tốt. Nếu phối với Canh Thuỷ mà chảy ra ở Sửu, phối với Giáp Thuỷ chảy ra ở Mùi, phối với Bính Thuỷ chảy ra ở Tuất là phạm Dương sai.
4_Như Thuỷ từ Nhâm chảy sang Tý là Tả toàn Thuỷ, Nhâm là Dương Thuỷ thì phối với Tân là Âm Kim, rồi chảy ra ở Thìn, được như thế mới là Phu Thê tương phối. nếu phối với Đinh Thuỷ mà chảy ra ở Sửu, phối với Quý Thuỷ mà chảy ra ở Mùi, phối với Ất Thuỷ mà chảy ra ở Tân là phạm bệnh Âm Thác.
Hai đoạn trên đây là giải nghĩa của câu "Tân Nhâm hội nhi tụ Thìn"

5_ Như phương Ngọ mà nước từ phương Đinh chảy lại là Hữu toàn Thuỷ, Đinh là Âm Hoả thì phải phối hợp với Thuỷ ở phương Canh là Dương Kim, rồi chảy ra ở Sửu là Mộ Thuỷ Khẩu của Kim cục, được như thế mới đúng là cách Phu Thê tương phối. Nếu phối Bính Thuỷ xuất ở Tuất, hay phối Giáp Thuỷ xuất ở Mùi, phối Nhâm Thuỷ xuất ở Thìn, là phạm về bệnh Dương Sai.
6_ Như Thuỷ từ phương Canh chảy sang Dậu là Tả toàn Thuỷ, Canh là Dương Kim thì phối hợp với Đinh là Âm Hoả, rồi chảy ra ở Sửu, được như thế mới là Phu Thê chính phối. Nếu phối Quý xuất Mùi, phối Ất xuất Tân, phối Nhâm xuất Thìn là phạm Âm Thác.
Hia đoạn trên đây là nghĩa của câu "Sửu ngưu nạp Canh Đinh chi khí"

7_ Như Thuỷ từ Quý chảy lại phương Nhâm Tý là Hữu toàn Thuỷ, Quý là Âm Thuỷ thì phối với Thuỷ ở Giáp Dương Mộc, rồi chảy ra ở Mùi là Mộ Thuỷ Khẩu của Mộc cục, được như thế mới là Phu Thê chính phối tốt. Nếu phối với Canh Thuỷ xuất ở Sửu, phối với Bính Thuỷ xuất ở Tuất, phối với Nhâm Thuỷ xuất ở Thìn là phạm Dương sai.
8_ Như Thuỷ từ phương Giáp chảy qua Mẹo là Tả toàn Thuỷ, Giáp là Dương Mộc thì phối với Quý là Âm Thuỷ, mà chảy ra Mùi Khẩu, được như thế mới là Phu Thê tương phối. Nếu phối với Tân Thuỷ xuất ở Thìn, phối với Đinh Thuỷ xuất ra ở Sửu, phối với Ất Thuỷ xuất ra ở Tuất, tức là phạm Âm Thác.
Hai đoạn trên đây là giải nghĩa của câu "Kim Dương thu Quý Giáp chi linh"
Bốn cái đại cục này là lấy cái Thuỷ nhập đường và xuất khứ khẩu (nước chảy lại Minh Đường và chảy ra Thuỷ Khẩu), để phối hợp với Long và Toạ Sơn.
Còn về Tả toàn, Hữu toàn của Long Nhập Thủ, thì cũng lấy cái sự thuận nghịch như phép lệ của Thuỷ.
Ví dụ:
_ Như 5 cái Long Nhập Thủ là Dần, Giáp, Mẹo, Ất, Tốn, năm phương này lấy Giáp Mộc làm Tả toàn Long, tức là Trường sinh Hợi, tính thuận đến Nhâm, lần chuyển đi thì Đế Vượng tại Mẹo, Mộ tại Mùi. Nếu ở Ất quay ngược lại thì lấy Ất Mộc làm Hữu toàn Thuỷ, Trường sinh tại Ngọ, tính lần ngược lại đến Tị, chuyển đi đến Dần là Đế Vượng, Tuất là Mộ.
_ Như 4 cái Long Nhập Thủ là Tị, Bính, Ngọ, Đinh; thì lấy Bính Hoả làm Tả toàn Long, tính thuận thì Trường Sinh tại Dần, Đế Vượng tại Ngọ, Mộ tại Tuất; nếu từ Đinh quay ngược là Hữu toàn Long, thì Trường Sinh tại Dậu, Đế Vượng tại Tị, Mộ tại Sửu.
_ Như 5 cái Long Nhập Thủ là Thân, Canh, Dậu, Tân, Càn; nếu từ Canh chảy lại là Tả toàn Long, tính thuận thì Trường Sinh tại Tị, Đế Vượng tại Dậu, Mộ tại Sửu; nếu chảy từ Tân ngược lại là Hữu toàn Long, thì tính nghịch lại Trường Sinh tại Tý, Đế Vượng tại Thân , Mộ tại Thìn.
_ Như cái Long Nhập Thủ là Hợi, Nhâm, Tý, Quý, Cấn, Khôn, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; thì Tả toàn Long là Nhâm Thuỷ, Mậu Thổ, thì tính Trường Sinh tại Thân, Đế Vượng tại Tý, Mộ tại Thìn; Hữu toàn Long thì phân ra Quý lấy Trường Sinh ở Mẹo, Đế Vượng tại Hợi, Mộ tại Mùi; Kỷ Âm Thổ thì tính Trường Sinh tại Dậu, Đế Vượng tại Tị, Mộ tại Sửu.
Phép này là lấy trong Long Nhập Thủ, lấy Thuỷ xuất Mộ khố mà luận định phương vị, Lập Hướng, phải theo đúng như thế mà Tiêu sa, Nạp Thuỷ. Các bậc Tiền Hiền đã kinh nghiệm xác nhận, tường tận minh bạch, hậu học nên thận trọng chớ có sai lầm.
Chính Trâm là kim đỏ ở Địa bàn chỉ giửa Ngọ ở phương Nam, kim đen chỉ vào giửa chữ Tý ở phương Bắc. Lấy Bát Can thì theo phương Lộc, Tứ Duy thì theo phương Mộ. Tám quẻ gồm 8 cung, mỗi quẻ 3 phương, chỉ có Càn, Khôn, Cấn, Tốn là 4 quẻ chính, tức là Tứ Trụ Quái.


TẦNG THỨ BẢY
ÂM DƯƠNG LONG
(Xuất tự Tiên Thiên Bát Quái, nap giáp thủ phối)

Kiền nạp Giáp; Khôn nạp Ất; Ly nạp Nhâm, Dần, Tuất; Khảm nạp Quý, Thân, Thìn, đó là mười hai Dương Long hợp với bốn quẻ Dương. Cấn nạp Bính; Tốn nạp Tân; Chấn nạp Canh, Hợi, Mùi; Đoài nạp Đinh, Tị, Sửu, đó là mười hai Âm Long hợp với bốn quẻ Âm. Lấy 24 sơn, Âm Dương đều có một nửa. Dương Long dùng điểm tròn trắng là Dương Hư, là sáng vậy; Âm Long dùng điểm đen làm Âm Thực, là tối vậy. Chia ra 12 vòng tròn trắng, 12 chấm đen là để thấy Âm, Dương phân biệt, dùng để xét về Long.
Khi Âm Long chuyển động thì đốt này đến đốt khác đều là Âm, Âm Long thì lập Âm Hướng, thu Âm Thuỷ thì tốt lành, lẫn vào Dương thì độc. Dương Long chuyển hoán từ đốt này đến đốt kia cũng đều là Dương, Dương Long đáo đầu Huyệt thì lập Dương Hướng, thu Dương Thuỷ thì tốt lành, lẫn vào Âm thì xấu. Nhận rõ được Long thì quý, tiện phân biệt; Dương Long không quý mà Âm Long rất quý! Âm Long quý là lấy cái Tam Cát, Lục Tú tại Tứ Thiên Viên tinh chiếu xuống, có ý nghĩa là lấy 9x6 xung hoà.
Xét rõ Long mà thu nạp Thuỷ. Là lấy Tam cát, Lục Tú hết thảy ở trong Âm Long. Tỷ như Hợi, Chấn, Canh là Tam Cát thì Cấn, Tốn, Bính, Tân, Đoài, Đinh là Lục Tú; lai Long và Toạ Huyệt đều là quý địa, thượng hạng! Tất cả Dương Long đều là hạ cấp.
Đại sư Phong Thuỷ LẠI BỐ Y nói: Không nên chấp nhất để mà bàn; chỉ cốt Lai Long tú mỹ, lấy cái Long Chân Huyệt thì cũng xuất pháp phú quý. Cho nên, bàn về Long lấy Tịnh Âm, Tịnh Dương làm chính; xét cái đại lược của 24 Long lấy số Tiết Hành Long nhiều hay ít mà bàn về Hướng và Tiêu Thuỷ, Thuỷ lộ Khứ Lai đại, tiểu...v.v... Nếu cố chấp một cái bế tắc mà cắt xén, cầu khởi cho thông thì dẫu là Đại địa, Kỳ cục tất cũng bị mất cái hay đi, và những hào ở trong Bát Quái cũng sẽ vì đó mà bị biến đổi.
Ví dụ: Quẻ Kiền là Thiên Phụ, Kiền quái thì có 3 nét liền. Lần thứ nhất biến hào trên đứt thành quẻ Đoài, lần thứ hai biến TIẾP hào giửa thành quẻ Chấn, lần thứ ba biến TIẾP hào dưới cùng thành quẻ Khôn, lần thứ tư biến TIẾP hào giửa thành quẻ Khảm, lần thứ năm biến TIẾP hào trên thành quẻ Tốn, lần thứ sáu biến TIẾP hào trung thành quẻ Cấn, lần thứ bảy biến TIẾP hào dưới cùng thành quẻ Ly, lần thứ tám biến TIẾP hào giửa trở về nguyên bản quái của quẻ Kiền.
Ngoài ra 7 quẻ kia đều theo thứ tự biến quẻ y như thế. Phép này là theo quẻ biến khởi Tham Lang.
Ví dụ: Kiền Long, thì cung Đoài là biến quái thứ nhất, tức khởi Tham Lang; lần thứ hai biến được thành Chấn, tức Cự Môn; lần thứ ba biến được quẻ Khôn, là Lộc Tồn; lần thứ tư biến được quẻ Khảm, là Văn Khúc; lần thứ năm biến được quẻ Tốn, là Liêm Trinh; lần thứ sáu biến được quẻ Cấn, là Vũ Khúc; lần thứ bảy biến được quẻ Ly, là Phá Quân; lần cuối cùng biến được quẻ Càn bản vị chính là Phụ Bật.
Đó là dựa trên Long mà tìm Tam Cát, Lục Tú theo phép ấy.
Thuỷ pháp thì theo Hướng thượng khởi Phụ, Vũ, Phá, Liêm, Tham, Cự, Lộc, Văn.
Ví dụ như: Ất Hướng thì khởi Khôn là Phụ Bật, Khảm là Vũ Khúc, Đoài là Phá Quân, Chấn là Liêm Trinh, Ly là Tham Lang, Kiền là Cự Môn, Tốn là Lộc Tồn, Cấn là Văn Khúc. Lấy Phụ, Vũ, Tham, Cự là bốn cái Cát; tránh Phá, Liêm, Lộc, Văn là bốn cái Hung..
Trước lấy Cửu Tinh là Tứ Viên trung làm Thiên tinh tối thượng: Thiên Quý chiếu Bính, Thiên Ất chiếu Tân, Nam Cực chiếu Đinh, Thiên Bính chiếu Tị, là đối cung với Tử Vi Viên, gọi là Đế Toà Minh Đường. Cho nên Hợi, Tị hợp với Lục Tú gọi là Bát Quý.
Ly ở giửa phương Nam gọi là "Thiên Địa chi trung". Ly nạp Âm với Nhâm, vì vậy mà mọi sao đều ủng hộ vào Nhâm, nên gần Đế Viên (tức Tử Vi Viên), cũng là rất Quý (có lẽ vì thế nên trong khoa xem bói qua Thập Can, thì người xưa nói "Quý biến Thiên" chăng?). Chấn nạp Canh, ứng Liêm Trinh, người xưa bảo "đoạt võ chi địa" là đất đoạt cả võ quyền. Vì Hợi, Chấn, Canh là Tam Cát. Ngoài ra như Thìn, Tuất, Sửu, Mùi và mọi Dương Long đều kém hơn.
Âm Long thì phát phúc lâu dài, Dương Long thì phát phúc dần dần. Nhưng cũng chớ nên câu luận. Nếu Dương Long được hợp cục, chân thì cũng hay phát phúc bền lâu. Âm có Lục Tú thì Dương cũng có Lục Tú. Như Kiền quái thượng hào nhất biến vi Đoài; Khảm quái thượng hào nhất biến Tốn; Ly quái thượng hào nhất biến vi Chấn; Khôn quái thượng hào nhất biến vi Cấn...
Bát Quái thì mỗi quái quản ba sơn, lấy Long làm chủ, theo sao biến của đối cung phân chia đi được Tham, Cự, Vũ. Nếu quái thuộc Dương thì Lục Tú thuộc Âm, nếu quái thuộc Âm thì Lục Tú thuộc Dương. Cho nên, có thể nói là Âm dụng Dương triều, Dương dụng Âm ứng làm chuẩn mực.

Nói Hợi, Chấn Canh là Tam Cát Hướng thực ra là lấy Thiên tinh mà suy ra vậy.
Hợi ứng Bắc cực là Tử Vi Viên, là chủ cả sinh vật một bàn, thu tượng cả sinh vật một bàn. Cho nên Giáp Tý không bắt đầu từ Khôn mà chấm dứt ở Hợi, Quý Hợi không chấm dứt ở Kiền mà chấm dứt ở Hợi, đó là do Hợi là chỗ ty sở của Thiên để hoàn thành mọi việc, là cái sơn tốt đệ nhất của 24 sơn đó.
Chấn là "dương quân thăng điện", tức là nơi vua ra triều, là cửa ngõ của mặt trời, là chức vị chủ tể giúp sự sinh trưởng của vạn vật. Kinh Dịch nói: Thượng Đế ra ở cung Chấn (Đế xuất hồ Chấn), chuyên giữ quyền hành của Tạo Hoá, sinh khí từ đấy mà ra, cho nên lấy làm tốt lành.
Canh là ngôi của Hoàng Hậu, là cửa ngõ của mặt trăng, là chức chủ của ty sở, hàn thành sự vụ. Kinh Dịch nói: Ngôi Hoàng Hậu ở Canh là Âm, trong 3 ngày, phối hợp với ngôi Hoàng Đế là Dương, thực là tiến khí đó, cho nên lấy làm tốt.
Chấn và Canh hai ngôi ấy là chỗ cuống họng, đầu lưỡi của Thượng Đế, để thay quyền Thiên Đế mà điều hành tất cả, cũng như tướng thay vua thi hành pháp lệnh.
Được ba cái Long ấy, thì không khác gì vua và hai vị chúa tể, là ba ngôi sao quý trên hết thảy, thừ nhì là cũng lấy sáu vị khanh tướng, tức là Lục Tú: Cấn, Bính, Tốn, Đinh, Đoài, Tân là những phương hướng rất tốt đó.
Long thì lấy xung hợp làm tốt, Tinh thì lấy được tương phối làm tốt, đó là 6 ngôi được Thiên Tinh tốt đối chiếu xuống: Như Cấn hợp với Thiên Vị Viên, Bính lấy Thái Vi phối, Tôn được Thái Ất chiếu, Tân thì lấy Thái Vi chiếu phối, Đoài la Thiếu Vi tứ phủ, Đinh thì lấy Nam Cực phối, đó là được hợp với tinh anh của Thiên Tinh ở trên, vậy nên được làm cái vị tốt.
Nếu được quý khí của 6 Long, hình hợp là Thược cách, quyết sanh xuất tam khanh công, lục khanh, quan quý; thứ cách sanh ra nhân tài siêu quần quán thế, là lấy 6 ngôi đó kết nạp, theo Bát Quái suy phân, thì cái tốt đẹp là được Âm Dương xung hoà, chính là ý nghĩa phu phụ phối hợp, như là: Cấn, Tốn, Đoài ba quẻ, trừ cái trung hào là thể, còn 2 hào thượng, hạ đều là nhất Âm, nhất dương tương phối, là nghĩa đó.
Cho nên những chữ Can kết nạp, hợp với Lục Tú, như bốn quẻ Kiền, Khôn, Khảm, Ly, trừ nét giửa (trung hào) làm bản thể, còn những nét trên và dưới đều là Cô Dương hoặc Hư Âm, không có nghĩa phối hợp. Vậy nên không ở vào hạng Tam Cát, Lục Tú. Mà quẻ Chấn, hào trên, hào dưới đều có xung hoà nên hợp Chấn, Hợi, Canh 3 Long cũng là Tam Cát.

BÀI THI CA VỀ XEM ĐẤT ĐIỂM HUYỆT:
Âm, Dương nhị tự tối nan minh
Thuỳ thức kỳ trung, Tạo Hoá tinh
Âm nhũ khắp như nam tử dạng
Dương Oa thiên tợ nữ nhân hành.

Thị nam Âm nhũ hưu thường thú
Thị nữ Dương Oa, mạc phá thần.
Thổ Tú, La Văn lai chân huyệt
Thiên cơ đáo thử hợp Khôn Kiền

GIAỈ NGHĨA:
Hai chữ Âm Dương này hiếu được rất là khó, mấy ai biết được cái tinh khí bên trong của Tạo Hoá? Như là cái hình Âm nhũ (cái đầu vú người đàn bà), trông như hình dạng cái dương vật của người đàn ông. Cái hình Dương Oa (chỗ đất lõm)nó giống hệt cái vật hiểm của người đàn bà. Nó giống như là Âm nhũ của đàn ông thì chớ có phá hoại, sẽ làm tổn thương, gây thương tích vào chỗ đầu chỗ cùng của nó. Nó như là cái Dương Oa của đàn bà, thì chớ đừng phá vỡ cái môi của nó thè ra. Còn như cái Thổ Tú và La Văn, là những tinh phong nó ứng ở chung quanh, là cái thần giữ cửa huyệt, tức là cái then chốt của thiên cơ, đến đó để hợp lại cái sinh khí của Kiền Khôn (tức là Thiên Địa phối hợp).
Sinh Khí thì lấy cái Long, nó chuyển động là Sinh Long, phải lấy một đoạn Nhập Thủ (lĩnh đường khí), tức là chỗ tóm thắt nhỏ lại, gọi là thúc khí đó ( trong Địa Lý Tả Ao, khi gần kết Huyệt luôn nhìn từ điểm này mà dễ tìm ra Huyệt kết tại đâu). Lấy Thuỷ làm cốt yếu, Thuỷ thì lấy chỗ chảy lại, chảy đi ở trước mặt Huyệt làm đầu nguồn của cung vị Tiêu, Nạp. Phải xem cả cái nước ở bên tả lẫn bên hữu, và đằng trước, phía sau là Thuỷ tinh Âm, tịnh Dương là Thuỷ hợp cục hay phá cục, để kinh nghiệm sinh khắc

TẦNG THỨ TÁM
CHÍNH NGŨ HÀNH LUẬN VỀ LONG SỞ THUỘC

Hợi, Nhâm, Tý, Quý ở phương Bắc thuộc Thuỷ. Dần, Giáp, Mẹo, Ất, Tốn ở phương Đông thuộc Mộc. Tị, Bính, Ngọ, Đinh ở phương Nam thuộc Hoả. Canh, Tân, Thân, Dậu, Kiền ở phương Tây thuộc KIm. Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Cấn, Khôn ở bốn phương góc thuộc Thổ. Đó là lão tổ tông của Ngũ Hành.
Ngũ Hành là đầu mối của Âm Dương, là cán cân của Tạo Hoá, suốt từ xưa đến nay, các bậc triết sĩ xoay trời, chuyển đất, vận dụng Kiền Khôn, những hạng anh hùng vận trù quyết sách vĩ đại, cao xa, tri vãng, tri lai, tri cơ, tri biến, phóng thuỷ, bát sa, biến phương, lập hướng...vv.. chưa có ai bỏ Ngũ Hành đó mà vận dụng bằng cái gì khác. Có những tên gọi: Ngũ Hành, Ngũ Sự, Bát Chính, Ngũ Kỷ, Hoàng Cực, Tam Đức, Kế Nghi, Thứ Trưng, Ngũ Phúc, Lục Cực.
Hành Mộc ở phương Đông chủ về Nhân, hành Kim ở phương Tây chủ về Nghĩa, hành Thuỷ ở phương Bắc chủ về Trí, hành Hoả ở phương Nam chủ về Lễ, hành Thổ ở Trung Ương chủ về Tín. Vì vậy 24 sơn trong La Bàn thì Thuỷ, Hoả ở bốn sơn; Kim, Mộc đều ở năm sơn; chỉ có Thổ ở sáu sơn. Thổ chân Trung Ương là sơn quý nhất. Vậy nên vạn vật sinh ra ở trong Thổ, mà La Kinh gồm có hơn ba mươi tầng, chẳng hay bỏ Ngũ Hành mà dùng cái khác được. Lại theo Hà Đồ Long Mã hiến thuỵ hoá ra Thiên Can, Địa Chi là nguồn gốc ở đó vậy.
Thiên nhất sinh ra Nhâm Thuỷ, Địa lục Quý hoàn thành. Địa nhị sinh Đinh Hoả, Thiên thất Bính hoàn thành. Thiên tam sinh Giáp Mộc, Địa bát Ất hoàn thành. Thiên ngũ sinh Mậu Thổ, Địa thập Kỷ hoàn thành. Đó là Thập Can.
1-6 ở dưới mà sinh ra Hợi, Tý Thuỷ; 2-7 ở trên mà sinh ra Tị, Ngọ Hoả; 3-8 ở bên tả mà sinh ra Dần, Mẹo Mộc; 4-9 ở bên hữu mà sinh ra Thân, Dậu Kim; 5-10 ở giửa mà sinh ra Thìn, Tuất, Sửu, Mùi Thổ. Đó là Thập nhị Địa Chi.
Bậc Thánh Hiền nhân Bát Quái mà suy ra thiên thời, dùng Địa Chi để phối với Thiên Can: Là lấy Thiên nhất sinh Thuỷ, mà Khảm là ngôi vị của Thuỷ, nên ở chính Bắc; Quý được cái thuỷ nhu của Địa Huyệt nên Quý ở sau Tý. Thuỷ không ngừng thì chảy đi mà không trở lại, nên phải lấy Thổ để ngăn lại, thì mới có thể sinh vật. Sửu là đá có tính nhu nên Sửu ở sau Quý. Cấn là Sơn và là Thổ cương, nên Cấn ở sau Sửu mà ở phương Đông Bắc, đó là thay Chấn để sinh trưởng vạn vật. Thổ hợp lại mà hoá ra khí để sinh Mộc. Dần là tạp Mộc nên Dần ở sau Cấn. Giáp được Tam Dương Mộc chí cương của Thiên nên ở sau Dần. Chấn là ngôi của Mộc, vậy Mẹo ở chính Đông. Ất được Âm Khí của Địa bát là Mộc nhu nên ở sau Mẹo. Mộc phải cần Thổ mới tươi tốt, Thìn là ngôi Chính khí của Thổ nên Thìn ở sau Ất là Mộc tạp Dương. Mộc không vượng thì không thể sinh Hoả, nên Tốn là Vượng Mộc mà ở sau Thìn là Vượng Thổ. Mà để được Vượng Thổ thì cần phải có Hoả sinh. Tị là Sơ khí của Hoả nên Tị ở sau Tốn. Bính được Hoả của Thiên thất là Dương cương nên Bính ở sau Tị. Ly là vị chính của Hoả nên ở Chính Nam liền sau Bính. Đinh được Âm khí của Địa nhị là Hoả nhu nên Đinh ở sau Ngọ. Hoả Vượng hẳn klà ngưng lại để sinh Thổ nên Mùi ở sau Đinh. Khôn là Chính Khí của Thổ nên Khôn ở sau Mùi. Thổ vượng tất sinh Kim, Thân là Sơ khí của Kim nên Thân ở sau Khôn. Canh được Dương khí của Thiêncửu Dương Kim, nên Canh ở sau Thân. Đoài là vị trí của Kim, nên Dậu ở Chính Tây. Tân được Âm Khí của của Địa tứ là nhu Kim, nên Tân ở sau Dậu. Kim không Thổ thì không thành Kim. Tuất là phương chính của Thổ nên Tuất ở sau Tân. Kim là tạp khí trộn lẫn, nếu Kim không thịnh thì không thể hoá được, nên Kiền là Vượng Kim mà ở sau Tuất, cực vượng mà hoá thành, nên sở dĩ sinh Thuỷ là vì vậy. Hợi là Sơ khí của Thuỷ nên Hợi ở sau Kiền> Nhâm được Dương Khí của Thiên nhất là Thuỷ cương nên Nhâm ở sau Hợi. Do đó mà 24 vị có định cục vậy. Tôi thường đọc KInh Dịch, nên biết sự chuyển của Trời đất, và thứ tự độ hành của các vì tinh tú không sai. Người ta nói: " Kiền ngộ nạp Tốn quan Nguyệt Quật", "Khôn phùng Chấn dĩ Kiền Thiên Căn". Nguyệt Quật là hang của mặt trăng, Thiên Căn là gốc rễ của Trời. Xem đó có thể thấy, Dương sinh ở Ngọ, Âm sinh ở Tý, Âm Dương ở đúng chỗ thì bốn mùa lưu hành muôn vật sinh trưởng sáng tỏ vậy.
Phương Bắc khí cương nên có vẻ nghiêm khắc, dữ dội; phương Nam nhu nên có tính ôn hoà. Vì vậy đất ở phương Nam lấy oa, kiềm, nhũ làm bằng cớ; thế đất ở phương Bắc thỉ lấy gò đống đột cao hậu làm chuẩn đích.
Đây là Địa lý gia luận về Sơn khắc, vong mệnh, kỵ Nạp Âm chính là thế vậy. Chính Ngũ Hành xuất ở Hà Đồ: 1-6 ở dưới sinh ra Hợi Tý Thuỷ. Thiên nhất (1) sinh ra Nhâm Thuỷ, Địa lục (6) hoàn thành ở Quý. Thiên 1 sinh Khảm Thuỷ mà có 6 hoàn thành ở Kiền. Đây chỉ là một cục, các cục khác cũng thế sẽ suy ra. 
 
TẦNG THỨ CHÍN
SỬ DỤNG VỀ KIẾP SÁT


BÀI QUYẾT CA
Tốn, Mùi, Thân sơn Quý kiếp tàng
Tân, Tuất cư Sửu; Canh Mã hương
Chấn, Cấn phùng Đinh; Giáp kiến Bính
Nhâm Hầu; Kiền Thố; Bính Tân phương.

Khảm, Quý phùng Xà; Tị, Ngọ Kê.
Đinh, Dậu phùng Dần; Khôn, Hợi Ất
Long, Hổ ngộ Dương; Ất Hầu hề
Tê Ngưu Long vị vĩnh bất lập.
Giải nghĩa: Như Tốn, Mùi, Thân ba sơn thì Kiếp Sát ở Quý. Tân, Tuất hai sơn Kiếp Sát ở Sửu. Canh Kiếp Sát ở Ngọ. Chấn, Cấn hai sơn thì Kiếp Sát ở Đinh. Giáp thì Kiếp Sát ở Bính. Nhâm Kiếp Sát ở Thân. Kiền Kiếp Sát ở Mẹo. Bính Kiếp Sát ở Tân. Khảm, Quý hai sơn Kiếp Sát ở Tị, Tị, Ngọ hai sơn thì Kiếp Sát ở Dậu. Định, Dậu hai sơn thì Kiếp Sát ở Dần. Khôn, Hợi hai sơn thì Kiếp Sát ở Ất. Thìn, Dần hai sơn Kiếp Sát tại Mùi. Ất Kiếp Sát ở Thân. Sửu Kiếp Sát ở Thìn.
Tóm lại là phương Kiếp Sát chỉ lấy Toạ sơn mà bàn về tiêu, nạp chứ Hướng sơn không liên quan gì đến. Chỉ kỵ có một sơn thôi, như ngồi ở Tốn sơn hay Mùi sơn, hay Thân sơn, mà phương Quý có sơn sa cao, mà nghiêng ngả, lệch vẹo, hoặc vỡ lỡ, hoặc núi đá gồ ghề, lỏm chỏm thì rất kỵ. Nếu ngay ngắn, tròn đẹp thì không sợ kỵ. Các sơn khác cũng vậy.
Đây chỉ thấy chép ở Kim tự Bàn, các sách chưa thấy chép, nên nhiều người không biết. Tôi được thầy truyền riêng cho, nhưng không nỡ giấu kín, e có hại cho đời sau, nên viết ra để phổ biến cho mọi người cùng biết.


TẦNG THỨ 10
XUYÊN SƠN 72 LONG
Người xưa dùng 72 long xuyên sơn, 60 long thấu địa. Xuyên sơn là: Xét định cái long dẫn vào huyệt, nó xuyên đúng chữ nào thuộc con gì của vòng Giáp Tý gọi là địa Kỷ chuyên luận về lai long ở giữa chỗ long quá Giáp mà chiếu la bàn, nếu không có Giáp, thì lấy ở chỗ long nhập thủ Giáp xuống ở sai huyệt là chủ của huyệt tinh, tức là cho long nó khởi lên rồi, phục xuống thắt nhỏ lại như cuống họng, chữ gọi là “thúc nhân xứ”. Cứ chỗ long tích phân thủy mà định châm bàn, xem là long gì, để dùng nạp âm mà đón sinh khắc; như Tý long là thủy, trong khoảng chữ Tý lớn ấy có 5 chữ Tý nhỏ, hễ được chữ Bính Tý là thủy long, Canh Tý là thổ long, thì đều là vượng khí. Giáp Tý kim long là bại long khí, Mậu Tý hỏa long là tử khí, Nhâm Tý mộc long là sinh khí. Vì vậy phải coi mạch lại, xem long mạch lại ở phương nào, thuộc can gì. Vậy lấy 72 long có xấu, có tốt đã phân biệt do Tiên Hiền truyền thụ. Tóm lại là ở trong địa bàn mỗi chữ chi ở dưới có 5 Tý long, thành ra 60 Giáp Tý; là số của 12 địa chi của địa bàn có 60, cộng với tứ duy và bát can là 12 vị, mỗi chữ can và chữ duy ở dưới, đều có ghi thành 12 chữ đỏ, thấu thành 72 long xuyên sơn, khi dùng những long này cần phải tránh cô hư, không vong, sai thác, Quý Giáp, không lẫn nhau là tốt; lại cần phải đón cái sinh khí của vượng; tướng 1 đường mạch rót suốt đến chỗ kết huyệt thì tốt. 72 long đã phân rõ cô hư, diêu sát và vượng tướng, đều căn cứ vào 8 quẻ nạp Giáp, 9x6 xung hợp của can mà ra. Như gặp Giáp Nhâm là dương, mà cô ra ở nạp Giáp của quẻ Kiền, lấy 6 hào thuộc dương trừ đi 1 hào giữa, còn 2 hào trên dưới cô dương, là 2 nam vô nữ tướng phối cớ vậy. Nếu gặp ất, Quý là hư xuất ở nạp Giáp của quẻ Kiền, là lấy 6 hào thuân âm trung hư, không có dương câu là 2 nữ, không có nam phối nạp cớ vậy. Nếu gặp Bính, Canh là dương, mà vượng ra ở nạp Giáp của quẻ Cấn, Chấn, 6 hào ở trong 2 quẻ, trừ hào giữa còn trên dưới 2 hào, có 1 dương phối với 1 âm, là âm dương xung hào mà vượng vậy. Nếu gặp Đinh, Tân là âm mà cùng ra ở Tốn, đoài nạp Giáp, 6 hào trong 2 quẻ này, trừ hào giữa, còn trên dưới là 1 hào âm, 1 hào dương, là âm dương xung hợp mà là tướng. Nếu gặp Mậu Kỷ là Quý Giáp, không vong thì kiên nganh mà khí bất nhập vậy. Xuất ở nạp Giáp của Khảm Ly, trừ hào giữa là thể hiện của quẻ, còn trên dưới đều tuyệt nhất, bất giao, nên là Quý Giáp không vong. Dụng đó thì rất nên tránh Giáp ất là cô hư. Như 1 tuần Giáp Tý đến ất Hợi. Đó là 12 long khí mạch trung chính, lấy Bính, Đinh là vượng. Lấy Bính Tý 1 tuần, đến Đinh Hợi, đó là khí mạch trung chính của 12 long, tránh Mậu Tý là sát diệu. Lấy Mậu Tý 1 tuần đến Kỷ hợp, đó là khí mạch ở trong 12 long. Canh, Tân là tướng, lấy Canh Tý 1 tuần đến Tân Hợi, đó là khí mạch ở trong 12 long. Nhâm Quý là hư, lấy Nhâm 1 tuần đến Quý Hợi, đó là khí mạch thoái ở 12 long.

Cái vượng tướng ấy là 4 quẻ được tiên thiên: Cấn, Chấn, Tốn, Đoài ở 4 phương góc là nơi dưỡng sinh mà thành quẻ, thì 4 quẻ, 6 hào đều là âm dương xung hợp. Nhiều phối với Bính, Đinh, Canh, Tân là vượng tướng cớ vậy. Nếu gặp 4 quẻ tiên thiên: Kiền, Khôn, Khảm, Ly ở nơi tứ chính là khoảng hư, nguy thì 4 quẻ, 6 hào đều là thuần nhất bất giao lại phối với
Giáp, Ất, Nhâm, Quý, Mậu, Kỷ là quý Giáp, sát diệu. Như vậy bảo là 9 và 6 không xung hợp tất là nhân, tài hao tán mà bại tuyệt, nên khi sử dụng phải suy xét cẩn thận. Còn như Bính long lai mạch thì phải tựa vào chân khí của Bính long xuyên tới; đằng trước đối Nhâm; Ngọ, gác giây trên thẳng xuống chỗ kết huyệt mới là chuẩn đích, đúng long xuyên sơn.
Dần long lai mạch là địa chi, thì tựa vào Bính Tý một vòng đến chữ Dần gặp Mậu Dần khí xuyên sơn là khí vượng. Nếu Nhâm Dần long lai mạch nhập thủ, thì từ Canh Tý 1 tuần, đến số Dần là khí mạch tướng. Tôi được thầy truyền riêng rằng: lên núi xét long hành phải nhận rõ chỗ khí vào huyệt, đều căn cứ lấy 72 long làm chủ. Muốn xét nghiệm những cái họa phúc về dĩ vãng và cái lành, dữ về tương lai của người ta thì phải ở nơi chu tinh đó làm căn cứ không được sai lầm 1 hào Ly.
Người sau muốn kinh nghiệm điều đó, thì cần phải biết cái long khí của 1 vòng Giáp Tý và khí cộ, hạ huyệt vào đó thì bị bại tuyệt. Cái long của 1 vòng Bính Tý là khí vượng, đặt huyệt vào thì phát phú quý. Đây chỉ nêu lên 2 vòng làm ví dụ, các vòng khác cũng vậy. 72 long hợp với 64 quẻ, đều bắt đầu từ hào biến trước hết của 8 quẻ. Hỗn thiên hạp Giáp, quyết định năm phát phúc và tuổi mệnh, thì bắt đầu từ hạ hào (nét dưới) mà biến lên, từ nét biến đầu tiên đến nét 2, 3, 4, 5 còn nét thứ 6 không biến mà trở xuống biến nét thứ 4 gọi là quẻ du hồn. Sau khi trở xuống đem cả 3 hào trong quẻ biến hết thảy, để trở về bản quái (quẻ gốc) nên gọi là quẻ quy hồn. Nhà địa lý lấy 1 đoạn long nhập thử làm bản quái (quẻ gốc) để xét xem những sơn sa ở đằng trước, đằng sau, bên tả, bên hữu mà định đoán phát phúc về niên mệnh đã kể trên.
Như: Mệnh là quẻ Khảm lần thứ nhất biến hào đầu thành ra quẻ Đoài; gặp Đinh Can; biến lần hai thành quẻ Chấn gặp Canh can, thì đều phát phúc; biến lần ba thành quẻ Ly gặp Kỷ Nhâm can; so sánh thì Canh Đinh mạnh hơn; so với Mậu Quý quẻ gốc thì bằng nhau; biến lần thứ 4 thì thành ra quẻ du hồn, là ất can thì sức nhẹ hơn. Giáp, Tân, Bính 3 quẻ này thì 3 năm Nhâm không phát phúc vì quẻ Khảm không có 3 quẻ Kiền, Tốn, Cấn nên bảo rằng:
“Xuất quái vô quan chức”, muốn biết rõ nghĩa cần phải đọc cuốn Duyên đàn tử có chép đủ cả 64 quẻ.

TẦNG THỨ MƯỜI MỘT
XUYÊN SƠN BẢN QUÁI, HỢP CHU DỊCH VI THIÊN THỐNG.

Hoặc có người hỏi về nguyên tắc và quái lệ của ba bàn: Bản quái, nội quái và ngoại quái. Đó cũng chỉ là một mối của Lý Khí mà ra. Lấy 60 Giáp Tý của Thấu Địa phối hợp với Khảm làm Thuỷ quái (quẻ Thuỷ) 120 phân kim. Giáp Tý phối với Sơn thành Sơn Lôi Di quái. Lấy xuyên sơn 72 Long Giáp Tý phối hợp với Thuỷ thành Thuỷ Địa Tỷ quái. Quẻ phối hợp thì lấy Thấu Địa làm Nội quái, xuyên sơn làm Bản quái, phân kim làm Ngoại quái. Ba quẻ này gọi là:
_ Quẻ Liên Sơn vì nhà Hạ theo Nhân thống, trên Kinh Dịch lấy Cấn làm đầu. Cấn là núi, liên liên vô tận.
_ Quẻ Quy Tàng vì nhà Ân theo Địa thồng nên Kinh Dịch lấy Khôn làm đâuù. Khôn là đất, vạn vật đều quy tàng trong đất.
_ Quẻ Chu Dịch vì nhà Chu theo Thiên thống nên Kinh Dịch lấy Kiền làm đầu. Kiền là trời, Đạo Trời vận chuyển, lưu hành vô cùng, biến hoá không ngừng vậy.
Ba quẻ này rất là tinh vi, nếu không phải là những thầy thông minh thì không thể nghiên cứu được những bí ẩn. Tôi được thầy dạy tâm truyền riêng cho nên biết được chút ít mà viết ra đây, muốn cho mọi người cùng biết.
Ba quẻ Dịch trên là sự phân phối của 60 Long, nên lấy dùng được rất là hay! Chủ yếu vào khí vận của Thiên Địa. Gọi là Địa Mạch: là khí đi ở dưới đất, hình chiếu lên trời, vì vậy sinh khí của trời đều ứng vào các quẻ, tức là thông cả luật lữ Thiên Địa khí cảm mà ứng. Đây chuyên bàn về tuyển trạch (lựa chọn đất tốt), lấy các hào của quẻ hỗn thiên để hỗ trợ cho Lai Long và Toạ Huyệt thì được vẹn toàn, đều căn cứ vào Thiên tinh, Địa diệu làm chủ chốt.
Học về Địa lý có người chuyên dụng về Loan đâyù, có người chuyên dụng về Thiên tinh, chia ra phe phái phân biệt, mỗi môn làm một cách. Nhưng vì họ không biết rằng: Loan đầu là Thể, Thiên tinh là Dụng. Thể và Dụng đều liên quan với nhau làm cái trong và cái ngoài vậy. Tinh tú trên trời chia ra khắp núi sông, khí lưu hành dưới đất, phản ứng lên trời, nói rằng "Địa thừa Thiên khí" mà lưu hành, chính do đây mà ra vậy.
Ông Lý Thuần Phong nói: Từ Đông Nam tới Tây Bắc của Thiên thể có đường kính là 357.000 dặm, mỗi phương là 89.250 dặm. Từ đất lên trời là 84.000 dặm. Vì vậy người ta nói: Lập Hướng mà sai một li là sai đi ngàn dặm, đều là vì thế. Đất có bốn thể, Khí có 8 phương. Bốn thể là Dần, Thân, Tị, Hợi, là khí Ngũ Hành mới sinh. Vậy nên Dần là đầu của phương Đông, Tị là đầu của phương Nam, Thân là đầu của phương Tây, Hợi là đầu của phương Bắc. Khí của bốn phương Sinh đó (Trường Sinh) đi ở trong đất mà vận lên trời. Ở trên trời thì bàn về thời tiết, ở dưới đất thì bàn về hình thể. Lấy thời tiết để xem hình thể. Lấy hình thể để nghiệm về khí tiết. Vì vậy nên khí thịnh, khí suycó khi đầy khi rổng. Sơn của bốn thể sinh ra Long ở 8 phương. Bốn thể làm đầu mối cho Ngũ Hành hoá sinh, 8 phương làm tông tích chỗ ngũ khí lui tới. Bởi vậy nên Lý Khí của xuyên sơn tức là phải có được Loan Đầu, thừa cái Sinh khí đó dẫn vào Huyệt, thì tự khắc có Phúc đưa tới.


TẦNG THỨ MƯỜI HAI
TRUNG CHÂM NHÂN BÀN

24 sơn của tầng Trung Châm là Nhân bàn, so sánh với Địa bàn có khác chút ít. Đó là do nguyên lý: Thiên Đạo thì mạnh mẽ, Địa Đạo thì thuận an, Nhân Đạo thì hoà bình. Có Trời, Đất trước rồi mới đến Người, nên Nhân bàn ở khoảng giửa của Thiên bàn và Địa bàn.
Lấy một vị Tý Ngọ làm thí dụ: Tý Ngọ ở Thiên bàn thì hai bên rìa là Bính Tý, Nhâm Tý khép lại, giáp liền nên gọi là Phùng Châm. Ở Địa Bàn thì Tý Ngọ ngay ở giửa, nên gọi là Chính Châm, ở Nhân bàn thì Tý Ngọ ở giửa khoảng Tý, Quý, Ngọ, Đinh nên gọi là Trung châm. Người xưa dụng ra Tam Tài để sử dụng rất rộng rãi. Phương pháp lấy Nhân bàn ở giửa, trên liên quan với Thiên tinh tú độ, khí vận tiến, thoái; dưới thì liên quan với núi sông, phân giới hạn địa mạch thịnh, suy, bĩ, thái, cho nên lấy Nhân bàn làm chủ tể, tác dụng cả Thiên Địa hai bàn. Tức là người linh thiêng hơn, mà đứng đầu muôn vật, cùng với Trời, Đất thành ra Tam Tài. Vậy có chữ " Nhân lực thắng Thiên" nên mới dùng Nhân bàn hợp với Địa bàn để tham dụng thì công quả mới vẹn toàn. Xưa Thái Tố Tiên sư xét Long. lấy đó dùng để Tiêu Sa. Dương Công thì dùng để Nạp Thuỷ, đúng hợp với Thuỷ pháp của ông Tư Mã đầu đà là "phóng khứ Hoàng Tuyền, vị chi xuất sát": Xẻ lạch cho nước Hoàng Tuyền chảy đi, gọi là Xuất Sát. Gọi là: Quý Nhân, Lộc-Mã thượng ngự giai. Nên có bài ca rằng: Quý Nhân lâm hợp Liên Châu Thuỷ. Cách nhập tương sinh Long liễu tiến. Kỳ quý Tham Lang tinh Lộc Mã, Tam hợp Liên Châu quý vô ngôn. Tân nhập Kiền cung, bách vạn trang. Quý quy Cấn vị, phát văn phương. Ất Hướng Tốn lưu, thanh phú quý. Đinh tòng Khôn khứ, vạn tư sương. Nghĩa là: Ở phương Quý Nhân được ba cái nước hợp với nhau gọi là Liên Châu Thuỷ, cách xa không hợp nhau liền, mà chảy vào được Minh Đường mới hiệp nhau được là tương sinh với Long, thời giàu to, tiền để đến mục nát. Phát quý là do cái nước Tham Lang và Lộc Mã cùng hợp, nếu cả Quý Nhân, Lộc, Mã là Tam hợp Liên Châu thì quý lắm, không thể đánh giá nổi. Ất, Tân, Đinh, Quý là bốn Âm Can, ở bốn vị trí Mộ khố của bốn cục Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả. Kiền, Khôn, Cấn, Tốn là bốn vị trí Tuyệt của bốn cục. Nếu Thuỷ tiêu đi, được hợp cách như bốn câu thi ca, là đón phát phú quý đó. Là hợp Thuỷ pháp. Lấy một câu thứ nhất làm thí dụ: Tân là phương Mộ của Hoả cục, Kiền là vị Tuyệt của Hoả cục, thấy nước ở Minh Đường trước Huyệt chảy đi qua phương Tân Tuất, ra phương Kiền là Thuỷ khẩu phóng đi, đó là Tân nhập Kiền cung, bách vạn trang là giàu có trăm vạn trang điền, viên thổ. Ba cục kia cũng như vậy suy ra, có cách gì thì ứng nghiệm cách ấy, chính là hợp với Nhân bàn này. Ông Lại Thái Tố dùng bàn này để Tiêu Sa, lấy làm yếu quyết. Sa tuy tại Địa, nhưng thực ra quan hệ tại Thiên. Tại sao mà biết vậy? Xưa Thánh Nhân nói rằng: Làm việc Chính thì phải lấy người có Đức lớn. Ví như ngôi Bắc Thần ở chỗ nào, thì mọi vì sao khác phải triều củng vào đó, tức là sao Bắc Đẩu. Chòm sao Bắc Đẩu có chín ngôi, gọi là Cửu Tinh. Sao Bắc Thần ở giửa làm tiêu chuẩn chủ chốt kiện cục, để vận động bốn phương 28 sao khác rải bày ở vòng ngoài, khắp cả ngang, dọc trong bầu trời. Theo phép Địa lý của nhà Kham Dư, thì ngôi Bắc Thần là Huyệt trường, các Long là Cửu Tinh, Sa- Thuỷ là Nhị Thập Bát Tú. Dương Quân Tùng thì dùng Cửu tinh để xem Long, Lại Thái Tố thì dùng nhị thập bát tú để xem Sa- Thuỷ, cái lý bảo tại Thiên chính là tại cái này vậy. Đời xưa Dương Công, Lại Công, hai vị này về phép bát sa cùng là một. Nhưng về sau bí ẩn không truyền lại trong kinh sách, mà chỉ truyền khẩu cho nhau thuộc lòng thôi, nói rằng nếu truyền lại thì sợ tiết lộ, bị tội với Thiên Địa quỷ thần trách phạt. Nên đời nay vẫn có nhiều người không dám tiết lộ. Nhưng Thánh Hiền có nói: Đạo lý không thể bị mai một, nếu bí ẩn thì hậu thế lấy đâu mà biết. Thánh Nhân còn lo là thất truyền, thì tôi đâu dám giử bí ẩn lại. Vậy tôi cam tâm xin chịu tội mà đem phép bát sa của hai ông Dương Công, Lại Công ra mà chú thích rõ ràng để hậu thế mọi người học lấy, để làm việc phúc đức giúp cho nhân loại (theo thiển ý của NCD, thực ra Tiền Hiền không phải e sợ việc đó, mà chỉ sợ các kiến thức này truyền vào tay kẻ ác, mà đời thường những kẻ đó thì đầy dẫy).
Bài ca về Sa pháp nói rằng: Kiền, Khôn, Cấn, Tốn thị Mộc Hướng (là thuộc Mộc), đấy là một câu thuộc về 28 sao, thuộc về Thất Chính, Ngũ Hành bốn sao này thuộc Mộc. Kiền thuộc vị trí sao Khuê tên gọi là Mộc Lang, Khôn thuộc sao Tĩnh tên gọi là Mộc ngan, Tốn thì thuộc sao Giác tên gọi là Mộc giảo, Cấn thuộc sao Đẩu tên gọi là Mộc giải. Tiêu sa thì phải lấy Mộc mà luận.
Dần, Thân, Tị, Hợi thì thuộc Thuỷ: Dần thì là sao Cơ tên là Thuỷ Báo, Thân là sao sâm tên gọi là Thuỷ Viên, Tị là sao Chẩn tên gọi là Thuỷ Dẫn, Hợi thuộc sao Bích tên gọi là Thuỷ Du. Tiêu Sa thì phải lấy Thuỷ mà luận.
Giáp, Canh, Bính, Nhâm thì thuộc Hoả, Giáp thuộc sao Vỹ tên gọi là Hoả Hổ, Canh thuộc sao Chuỷ tên gọi là Hoà Hầu, Bính thuộc sao Dực tên gọi là Hào xà, Nhâm thuộc sao Thất tên gọi là Hoả Chư. Bốn sao này thuộc Hoả phải lấy Hoả mà Tiêu Sa.
Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu bốn sao này cũng thuộc Hoả, nên theo như sao Hoả mà dùng để Tiêu Sa. Tý thuộc sao Hư tên gọi là Nhật Thử và sao Nguy tên gọi là Nguyệt Yến, Ngọ thuộc sao Tinh tên gọi là Nhật Mã và sao Trương tên gọi là Nguyệt Lộc, Mẹo thuộc sao Phòng tên gọi là Nhật Thố và sao Tâm tên gọi là Nguyệt Hồ, Dậu thuộc sao Mạo tên gọi là Nhật Kê và sao Tất tên gọi là Nguyệt Ô. Tại sao Nhật, Nguyệt lại bảo là Hoả? Vì Nhật là Quân Hoả, Nguyệt là Tướng Hoả. Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu ở bốn vị chính, vì vậy lấy Nhật, Nguyệt cùng một cung sánh với đôi sao, chỉ bốn ngôi chính là có hai sao, còn ngoài ra đều có một sao phối thôi.
Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì thuộc Kim cục, bốn sơn đều là Kim. Thìn thuộc sao Cang tên gọi là Kim Long, Tuất thuộc sao Lâu tên gọi là Kim Cẩu, Sửu thuộc sao Ngưu tên gọi là Kim Ngưu, Mùi tthuộc sao Quỷ tên gọi là Kim Dương. Bốn sao này thuộc Kim, nên nhớ mà dùng Tiêu Sa phải lấy Kim mà xét.
Ất, Tân, Đinh, Quý Thổ tương thương, là bảo bốn sơn này thuộc về Thổ. Ất thuộc sao Đê tên gọi là Thổ Lạc, Tân thuộc sao Vỹ tên gọi là Thổ Trĩ, Đinh thuộc sao Liễu tên gọi là Thổ Chướng, Quý thuộc sao Nữ tên gọi là Thổ Bức. Bốn sao này là Thổ nên lấy theo Thổ mà Tiêu Sa.
Còn năm loại khác đều là Sinh, Vượng, Sát, Tiết, Nô. Có bài thơ ca:
Sát Tiết Nô hề, Sinh dữ Vượng
Sinh ngã thực thần cư lương bảng
Tỵ hoà nhân tài phát khoa trường
Ngã khắc thị tài, vi trừu nô
Khắc ngã thất sát, tối nan đương
Tiết ngã văn chương cùng đáo đế
Nữ biến công danh, hảo hựu cường.
Sát là khắc sát; tiết là chảy, rút, mất đi; nô là làm nô bộc; sinh là sinh ra lợi ích; vượng là thịnh vượng.
Giải nghĩa theo nguyên văn bài thi ca như sau:
Năm loại Sát, Tiết, Nô, Sinh và Vượng.
Sinh vào mình gọi là Thực Thần, tốt lắm! Thì phát phú quý, chiếm bằng đậu cao.
Tỷ hoà là bằng như nhau, phát người và của cải, học hay, đỗ đạt cao.
Mình khắc nó thì phát tài, gọi là Nô.
Nó khắc mình là sát (giết mình) tức Thất sát.
Mình sinh nó là Tiết, thì cũng có văn chương, nhưng nghèo cũng đến đấy, về bên giới nữ tức con gái thì có công danh, giàu mạnh.
Phép này lấy tọa sơn làm chủ: Tọa Kiền sơn thuộc mộc, lấy Tốn, Cấn, Khôn sa tức là tỵ hòa thì tốt. Thấy Sửu, Mùi, Thìn, Tuất cùng có sơn sa là khắc ngã tối nan dương, là sát ta. Nếu thấy Giáp, Canh, Nhâm, Bính, Tý, Ngọ, Mão, Dậu có sơn sa, tức là “Tiết ngã văn chương cùng đáo đế”. Thấy Ất, Tân, Đinh, Quý sơn tức là ngã khắc “tài thân vi thừa nô”. Thấy Dần, Thân, Tỵ, Hợi sa tức “sinh ngã vi thực thân”. Các sơn khác cũng vậy sẽ suy ra mà phát biểu rõ. Khi đăng sơn tự thấy cái phép hay; theo phép xem các sơn sa đằng trước, phía sau, bên tả, bên hữu cần yếu là cái cung vị có sơn sa ứng đối diện tiền. Hễ sơn ứng gần thì phát vào người chủ mau chóng, còn ở xa thì ứng chậm trễ. Ông Trương Cửu Nghi nói: Sa nhược ly huyệt tam lưỡng trượng, lưu niên tức đáo sản anh hào. Nghĩa là: Sa cách huyệt độ 2,3 trượng hạn lưu niên đến đó sẽ sinh ra người hào kiệt. Lại nói: Tốt nhất là biết cái sa ở ngay trước mặt huyệt. Quyết đoán họa phúc của người ta thì không sai.
Phép này chẳng phải riêng tôi bàn đặt hay là một môn phái nào, mà đây là ở bộ sách Duyên đàn tử ra. Học giả nào mà được hiểu tường tận 3 quyển này sẽ biết rõ trong đó có phân phòng, phân vùng vị của sa cát, hung tự thấy công hiệu vô cùng. Nếu biết được 4 quyển thì xét long trở lên được 8,9 cung, quyết định được sự giàu nghèo, rất hiệu nghiệm. Nếu biết được quyển thứ 5 thì luận định được các ngôi đất cũ phát phúc, hiểu rõ sa thủy cung vị, trăm điều đúng cả trăm không sai. Nếu tường được 1,2 quyển thì biết về thủy pháp, phá cục, hợp cục, tị hoàng tuyền, sát diệu, trong đó xét tường tận tự nhiên trong tâm trí khác sáng suốt nhận SA THIÊN: hình mạo xấu hay đẹp cũng giống như núi sông xấu hay đẹp. Vì vậy, núi Trung nhạc linh ứng mà sinh ra Đức Khổng Tử.
Ông Ngô Cảnh Long nói: Đất trông phúc hậu thì nhiều người sống lâu, đất tú lệ sinh ra nhiều người thanh nhã; đất thấp sình lầy sinh ra người u trọc; đất cao khô khan sinh ra người nóng nảy; đất tán loạn sinh ra người du đảng; đất có nhiều núi nhọn sinh ra nhiều người bị sát thương và hung ác; đất ương ngạnh sinh ra người bướng bỉnh; đất bằng phẳng sinh ra người trung tín.
Ông Dương Quân Tùng nói: Núi mập mạp thì người no ấm; núi gầy gò thì người đói rách; núi xinh đẹp thì sinh người đẹp đẽ; núi thô trọc thì sinh người xấu xí; núi đầy đặn thì sinh người vui tươi; núi vỡ lở thì sinh người đau buồn; sơn quay về thì người đoàn tụ; sơn tẩu khứ thì người ly tán; sơn duỗi trải buông rộng thì người thọ khảo; sơn co rút hẹp lại thì người đê tiện; sơn quang minh thì sinh người thông min; sơn u ám sinh ra người ngu dốt; sơn quay mặt vào thì người hòa thuận nhau; sơn quay lưng lại thì bị người phản bội, khí trá.
Ông Tư Mã Đầu Đà nói: Lấy đoan chính vuông vắn thì biết là trung lương, thấy nghiêng ngã, lệch lạc thì biết siểm nịnh, thấp kém thì sinh ra người hạ tiện; nhu loạn thì sinh dâm ô; thấy sơn sa đơn bạc thì nghèo hèn; tú mỹ thì biết là nhân từ; uy vũ thì đấu tranh quả quyết. Nhận xét nguồn gốc của đại giang thì biết xuất thân xa hay gần; xem cả ngoại thành, nội cục, thì biết lực lượng rộng hay hẹp. Mạnh xuất thì có chỗ thiên thẹo, có chỗ trung chính; phát triển thì có chỗ lớn, chỗ nhỏ, người ta bảo: Sa quản về nhân đinh; hễ sa chân chính thì nhân đinh tương bình, vậy bảo nhân bàn thu sa đó. Lại nói: Sa không ngấc đầu lên được là sa yếu ớt bất lực. Thủy không quanh co, ôm vào là thủy vô tình làm ngơ, ngoảnh mặt đi; sa ở bên ngoài không quý bằng sa ở bên trong; thủy ở ngoài không bằng thủy ở gần (nội cục)
LẠI CÔNG BÁT SA CA (theo nguyên văn dịch nghĩa)
Tiêu sa xưa nay có 5 loại là: Nô, vượng, sát, tiết, sinh
- Ngoài nó khắc vào ta là sát
- Ta sinh ra nó là tiết (tiết khí đi)
- Vượng thân tức là ta thấy ta (cùng loại)
- Nó sinh lại ta là thực thân; thực thân thì phát khoa giáp, sinh nhân đinh
- Vượng thì phát tài lộc, nhiều con cháu
- Sinh không ở chính hướng, chỉ như vượng
- Hai vượng thì hơn 1 sinh
- Sát lại thì tai họa
- Tiết đi thì dần dần hao mòn
- Ta khắc vào nó, là nô thì phát tài bạch và làm quan được lộc, lại hòa bình
- Những kiểu đất lớn thường nhiều có sát, vì hai khoảng công vị đó không đều nhau
- Nếu long khí thịnh vượng thì sát sẽ yếu đi
- Thiểm mạch và thoát mạch thì sát rất linh, sợ lắm
- Long yếu sa mạnh, tiết vượng tốt thì con gái lấy chồng nhà danh giá, hào hoa.
Vì là sinh, là vượng thì quý tại nội, vượng tốt, kiêm cả tiết tại ngoại môn. Đây là bí quyết chân truyền của Lại Thái Tố; chỉ có phép ai tinh rất linh nghiệm.
PHÉP HUYỀN DIỆU VỀ TIÊU SA
QUYẾT CA

Kiền, Khôn, Cấn, Tốn thị mộc hướng
Dần, Thân, Tỵ, Hợi thủy thân đương
Giáp, Canh, Nhâm, Bính chân thị hỏa
Tý, Ngọ, Mão, Dậu hỏa y sương
Thìn, Tuất, Sửu, Mùi kim vị cục
Ất, Tân, Đinh, Quý thổ trương trường.
Sát tiết nô hề
Sinh ngã thực thân, cư lưỡng bảng
Tỵ hòa nhân tài, phát khoa trương
Ngã khắc thị tài, vi trừu nô
Khắc ngã thất sát, tối nan dương
Tiết ngã văn chương cùng đáo đế
Nữ biên công danh, hảo hựu cường.
Cũng như bài ca trước đã giải nghĩa rồi. Nói về thiên, thế thì có thất chính để giữ nguyên hóa (đầu gốc tạo hóa, tức mặt trời, mặt trăng va 5 vì sao, có tứ viên để chấn 4 phương: Tử vi, Thiên thị, Thái vi, Thiên vi; có 28 sao rải rác khắp vòng trời)
Thanh long có 7 sao: Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vỹ, Cơ
Chu tước có 7 sao: Tĩnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn
Bạch hổ có 7 sao: Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chủy, Sâm
Huyền vũ có 7 sao: Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích
Tứ viên tức là tứ tượng; thất chính tức là 7 vị tinh tú, căn cứ vào ngũ hành âm dương để tiêu sa; then chốt ở ngôi bắc đẩu mà phân biệt ra 4 phương là 28 sao, vậy nên:
- Các sao: Phòng, Hư, Mão, Tinh thì ứng vào mặt trời;
- Còn các sao: Tâm, Nguy, Tất, Trương thì ứng vào mặt trăng;
- Các sao: Giác, Đấu, Khuê, Tỉnh thì ứng vào các năm;
- Các sao: Vỹ, Thất, Chủy, Dực thì ứng vào sao huỳnh hoặc;
- Các sao: Cang, Ngưu, Lâu, Quỷ thì ứng vào sao thái bạch;
- Các sao: Cơ, Bích, Sâm, Chấn thì ứng vào giờ;
- Các sao: Đế, Liễu, Nữ, Vị thì ứng vào trân tinh.
Hình tượng ở trên trời mà chiếu sáng xuống đất, bởi vậy mới bảo: “Sa tuy tại đại, quan thực ư thiên” nghĩa là: Sơn sa ở dưới đất, nhưng thực quan hệ ở trên trời. Nếu không có kinh tuyến (dây ngang) thì không thể lập cực (đúng cao) không có vĩ tuyến (dây dọc) thì không lấy gì mà biến hóa; một đường ngang, một đường dọc đúng là âm và dương giao đạo vậy.
PHÂN PHÒNG CUNG VỊ
Có một người con trai thì nó quản lý tất cả trong vòng bàn của địa cục; có 2 người con thì bên tả thuộc về trưởng (con lớn), bên hữu và tiền, hậu (trước sau) đều thuộc về tiểu (con nhỏ), chỗ này khô khan, đã là không đều! Có 3 con thì phân cung vị; triêu và tọa thì thuộc về phòng thứ 2; có 6 con thì bày lại, thì thứ 3 và thứ 6 thuộc về bên hữu, con thứ 4 ở đầu trước, lần lượt chia đều bằng nhau; phòng thứ 2 thì ở triều và án sơn; có 5 con thì chia bằng nhau. Đây là căn cứ vào số của các phòng để phân vị với các sơn sa. Nếu biến đổi khác như lẫn lộn sa và bùn lầy thì phải rõ, mà luận định khác nhau.
Thí dụ: Cung vị của 6 con: về bên Thanh long, từ đằng sau qua đi là sa thuộc về trưởng; từ án sơn trở đi là sa thuộc về con thứ 4; về bên Bạch hổ từ đằng sau qua ra đằng trước là cái sa của con thứ 3; từ án sơn trở đi là sa của con thứ 6
Tóm lại, sa thế gần cung nào, thì ứng vào cung ấy. Như vậy là đến cung nào không có sơn sa thì phòng (con) ấy bị tuyệt tự.
Như: Tý sơn Ngọ hướng thì Cấn, Dần, Giáp là nội Thanh long thì thuộc về phòng trưởng; Mão, Ất, thìn là ngoại Thanh long thuộc về phòng thứ 4. Kiền, Tuất, Tân là nội Bạch hổ thì thuộc phòng thứ 3. Dậu, Canh, Thân là ngoại Bạch hổ thì thuộc phòng thứ 6
Bên tả không có sa thì con trưởng bại trước; bên hữu không sa thì con thứ 3 bị lênh đênh. Hướng sơn và tọa sơn không có sa, khoáng khuyết thì con thứ 2 và 5 thất bại, chỉ có 1 án, 1 huyệt sơn thì con trưởng và đứa thứ 3 sẽ lưu lạc. Bên Thanh long bằng và thẳng được, mà triều sơn và hai phương rất đẹp đẽ thì con trường dần dần tiêu ma; con cháu phòng thứ 4 ly tán đi xa. Nếu bên Thanh long toàn mất, triều ghé vào bên hữu thì hợp vào trưởng phòng làm long tinh. Triều sơn không có, long ở xa đến làm án thì con thứ 2 cùng hợp cả phòng thứ 3 và thứ 2 như nhau. Cái cát, hung, phúc, họa cứ theo thứ tự đó mà làm. Đây là chân bí quyết của Lại Công, thân như bố con cũng không chịu nói. Người đời sau mà biết được phép tiêu sa này thì làm ông tiên ở lục địa trong thiên hạ.
Hợp nhật, nguyệt với ngũ hành lại gọi là thất chính, tức là 7 vị chính đứng đầu:
-         Tả sa thuộc về con thứ 1,4,7
-         Tiên sa thuộc về phòng thứ 2,5,8
-         Hữu sa thuộc về phòng thứ 3,6,9
Có một con thì hết thảy đều thuộc về người đó.
28 sao chuyển ngược từ bên hữu về bên tả, tức là hữu toàn; Hợp thiên - thông lịch.


TẦNG THỨ 13
60 LONG THẤU ĐỊA
Chia đều 60 long thấu địa gọi là thiên kỷ, bắt đầu từ Giáp tý ở tầng chính châm. Hợi, Mùi thuộc Kiền cung; Kiền của hậu thiên thì liên hệ với cấn ở tiên thiên; Cấn là sơn vì cớ đó gọi là xuyên sơn. Chia đều 60 long bắt đầu từ Giáp tý ở chính châm. Nhâm đứng ở đầu thuộc về Khảm; Khảm ở hậu thiên, liên hệ với Không ở tiên thiên; Không là đất nên gọi là thấu địa, không nói xuyên mà nói thấu; lấy thấu là thông thấu tất cả, như cái ống thổi tro, hơi ra ở cái lỗ đó là thoát thấu được hết. Không nói sơn mà nói địa, là vì địa phát sinh ra vạn vật va ngũ hành khí đều do ở trong đó: Địa có cát khí, thổ tùy khí mà khởi. Có thể thấy hình tượng nổi lên trên mặt đất, đều do khí của ngũ hành thấu qua địa trung, hễ khí mạnh thì đất tùy khí mà lên cao, hễ khí yếu thì đất cũng tùy khí mà bình phục; khí thanh thì đất được thanh tú, đẹp đẽ, khí trọc thì đất cũng tùy khí mà hung ác. Như vậy, khả dĩ nói là đắc địa. không nói ... mà nói long, là vì long có khí mà không hình, nó biến hóa không lường được. Không ai là không phải luận long, thấu ở huyệt trung vì long đó là đầu mối biến hóa. Vậy cần phải biết cái hay của 60 long thấu địa nên được gọi tên là thấu địa long. Vì lẽ đó, sự tác dụng này là “táng thừa sinh khí”. Tất nhiên là phải nhận định cái long lai nhập thủ trước hết, tức là chỗ xương sống đất phân thủy ở sau huyệt, phải nhận xét kim của la bàn và mạch vào huyệt cho thật đúng.
Thí dụ: NHẬP THỦ LONG: Như 60 long: Tân Hợi nạp âm thuộc kim, mạch long từ bên hữu lại thì lấy tay bên tả làm thừa khí, thì huyệt tinh phải tọa Kiền hướng Tốn, mới thâu được Đinh Hợi khí là thộc thổ; Chính Kiền long tọa huyệt là thổ sinh Tân Hợi kim, là huyệt sinh lai long thì nhà ấy phát phúc. Nhược bằng, thâu được Ất Hợi thì 7 phần hợi, 3 phần Kiền là hỏa âm (âm nạp âm) tọa huyệt thì khắc Tân Hợi là long lại khắc huyệt sơn, thì nhà đó ít có lộc. Cũng thâu được Kỷ Hợi khí 5 phần Kiền, 5 phần Hợi là sát diệu gọi là hỏa khanh thì con cháu phần nhiều mắc bệnh lao thổ huyết, tốn thê, khắc tử, bị nước bùn, kiến, mối vào quan tài đục cắn hài cốt.
Có bài thi ca của Tiên thánh rằng:
Nhị thập tứ sơn, điên điên, đảo đảo,
Nhị thập tứ sơn, hữu châu bảo
Nhị thập tứ sơn, thuận nghịch hành
Nhị thập tứ sơn, hữu hỏa khanh.
Lại nói: “Đáo đầu sai nhất chỉ, như cách vạn trùng sơn”. Xem đó được thấy xuyên sơn, thấu địa đều là tự dụng. 72 long chỉ luận về lai mạch, để định cường đầu (chố sông đất gồ lên) mà thấy phân thủy, ở sau huyệt, cứ trên long tích mà đặt bàn châm, độ khoảng 8 thước long đầu ở phía sau huyệt, dùng bàn châm của 60 long thấu địa, xuyên sơn thì không cần dùng.
Thẩm nhận, khí nhập huyệt của 60 long: mỗi một long có 5 khí, chữ là vượng; như long của 2 vòng Bính tý và Canh tý, thì có 24 vị châu bảo là cát. Lại cần phải tránh chỗ không, hư, sát diệu, không vong như: Giáp tý, Nhâm tý, Mậu tý long ở trong 3 vòng này, có 36 huyệt là khí thác quan sát là toàn hung. Lại cần phải tránh cái hỗn thiên độ, không nên khắc phân kim; phân kim không nên khắc tọa huyệt; tọa huyệt không nên khắc thấu địa; thấu địa không nên khắc lai long. Khắc thì nên thuận khắc: Lấy cái hạ khắc thượng thì cát. Sinh thì nên nghịch sinh, là lấy dưới sinh trên thì làm xem đó thấy tác dụng của thấu địa, phải nên lưu tâm, cẩn thận chớ nên khinh thường.
Trong la kinh bàn chép 24 vị có chính tự, hợp với 24 sơn chính, khí mạch, nhập thủ là châu bảo. Chép có 12 ngũ tự là hỏa khanh.
Trong 24 sơn thì có 37 long là sai thác, không vong. Người đời ai cũng biết là huyệt tại sơn, mà không biết các vị trí của huyệt chỉ độ một tấc vuông, là nhỏ bằng sợi dây tơ, đặt nằm trên la bàn.
NGHIỆM TÂN CỰU PHÂN ĐOÁN
THI CA
Nhất cá sơ đầu, táng thập phân
Nhất phân phú quý, cửu phân bần
Đông sơn, đông hướng, đồng triều thủy
Cánh hữu đồng đôi, công tỉnh doanh
Nhất biên quang hoa, sinh phú quý
Nhất quan nô thủy, tuyệt nhân đinh
Huyệt tọa hỏa khanh, chiêu nô thủy
Kim ngưu tọa huyệt, khởi tử đằng
Thời sư nhược năng tri thử lý
Đả phá âm dương huyền diệu tinh.
Nghĩa là:
Một khoảng sơn ở sau đầu, chôn 10 ngôi mộ
Chỉ có 1 ngôi là phát phú quý, còn 9 ngôi bần
Cùng một sơn, một hướng, một giãy thủy chầu
Cũng có cùng đồng mộ, ở cùng một lỗ huyệt
Một bên khí nhuận tươi, sáng thì sinh phú quý
Một bên thấy bùn nước vào quan tài bị tuyệt tự
Đó là huyệt tọa vào chỗ hỏa khanh, thì bùn nước vào
Huyệt tọa vào chỗ kim ngưu, thì có tơ tía quấn phủ
Thầy địa lý nào biết lý khí này nghiệm như thế
Là khám phá được mọi huyền diệu tinh vi của âm dương.
TINH VI HUYỀN CƠ THI CA
Bát xích loan đầu yêu thức chấn
Trung gian tích thủy lưỡng biên phân
Khán tha sinh ý quy hà xứ
Thập tự đương trung chính lập thành
Cánh khán lưỡng biên vô cường nhược
Định tâm phương khả hạ la châm
Châu bảo hỏa khanh an bài định
Phú quý bần tiện nghiệm như thân
Nhị thập tứ sơn điên điên, đảo đảo
Nhị thập tứ sơn hữu châu bảo
Hữu nhân tọa liễu thử nhật huyệt
Vinh hoa phú quý thử trung thảo.
Nhị thập tứ sơn đảo đảo điên
Nhị thập tứ sơn, hữu hỏa khanh
Hữu nhân tọa liễu thử nhất huyệt
Gia nghiệp thoái bại, tuyệt nhân đinh
Chỉ nhân bất thức, loan đầu xứ
Hỏa khanh tương lai, tác châu bảo
Hữu nhân tri đạo, kỳ trung diệu
Năng cứu thế gian bần cùng nhân
Lập lại loan đầu tâm chính khí
Kim ngưu tọa huyệt khởi tử đằng
Giải nghĩa theo nguyên văn:
- Cần nhận rõ ở chỗ loan đầu khoảng 8 thước
- Ở giữa khoảng sống đất cao hơn thủy phân 2 bên
- Xét cái ý nó chuyển về bên nào, đó là sinh khí
- Mình đứng chính giữa chỗ chứ thập đó
- Xét thấy 2 bên quân bình, không bên nào mạnh yếu
- Quyết định có thể đặt la bàn đúng chấm
- Châu bảo, hỏa khanh đã phân rõ vị trí rồi
- Giàu sang, nghèo hèn ứng nghiệm như thần
- Trong 24 sơn đảo xuôi, đảo ngược đều là có châu bảo
- Đều là có châu bảo ở trong 24 sơn đó
- Ai đặt huyệt tọa đúng chỗ châu bảo là phú quý.
- Trong 24 sơn cũng đảo ngược, đảo xuôi kia
- Đều có vị trí của hỏa khanh ở trong đó
- Nếu ai đặt táng tọa vào hỏa khanh thì tuyệt tự
- Đó chỉ vì họ không biết rõ khí của loan đầu
- Nên làm lộn vị trí của hỏa khanh đem làm châu bảo
- Nếu ai biết được cái đạo lý kỳ diệu ở trong đó
- Có thể cứu được những người cùng khổ ở trong đời
- Là đứng tại giữa chỗ loan đầu mà tìm chính khí
- Đặt huyệt đúng tọa vào kim ngưu thì tơ hồng tía quấn phủ.

DƯƠNG CÔNG NGŨ KHÍ LUẬN:

Treo ông Dương Công luận xét thì: Từ Giáp tý luận chuyển đi một vòng đến ất hợi là mạch lãnh khí, là hư; Từ bính tý đi một vòng đến đinh hợi là mạch chính khí là vượng; từ Mậu tý một vòng đến kỷ hợi là mạch bại khí là sát; từ Canh tý một vòng đến Tân hợi là mạch khí vượng là tướng; từ Nhâm tý một vòng đến quý hợi là mạch khí thoái là hư.

Còn tiếp



Thứ Năm, 15 tháng 4, 2021

LA KINH THẤU GIẢI- P1



BÀI TỰA VỀ LA KINH


XÉT VỀ PHƯƠNG PHÁP CHẾ TẠO LA KINH :
Trước hết do vua Hiến Đế chế tạo ra, sau ông Chu Công bắt chước và dùng kim chỉ nam,để định phương vị . Tuy nhiên , khi ấy chỉ có 12 địa chi . Đến ông Trương Lương nhà Hán , mới phối hợp với bát can,(tám phương vị về thiên can) , và tứ duy( là 4 phương :kiền ,khôn ,cấn ,đoài vào khoảng giửa 12 chữ hàng chi và đặt tên là Địa bàn .Đến Dương Công và Lại công hai vị thêm hai 2 tầng nữa ,gọi là Thiên bàn và Nhân bàn ,tất cả gộp lại gọi là Thấu bàn tức Tam tài ).Trong đó tất cả hành độ của các tinh tú đều được trình bày đầy đủ , diễn tả được những bí mật và ngũ hành của Hà Đồ, Lạc Thư ; phơi bày những sự hiện, tàng ,kỳ diệu của các quẻ .Đến vua Phục Hy và Văn Vương , những cái kỳ diệu của các quẽ ,biết được tinh vi và thể ,dụng rộng rãi , biến hoá vô cùng ! Bao la vậy thay ! Gồm hết thảy muôn ngàn hiện tượng cả dọc ngang trên trời đất . Trên có thể hiểu thấu được hành độ của các vì sao luân chuyển ;dưới có thể phân biệt được núi, sông , phương hướng tốt xấu ;giửa có thể định được Dương cơ ,Âm phần cho mọi người , về sự phúc hoạ v. v. .dùng làm được muôn việc, thật là quý báu vô cùng !
Từ đời Hán , Tấn , Đường , Tống đến nay , nhiều bậc danh nhân , hiền sĩ nổi tiếng , ngoài 4 vị họ Dương , Tăng , Liêu , Lại ra , cũng không thiếu gì những người làm việc phúc đức để giúp ích cho những người nghèo , rất là linh nghiệm .
Xét về cách trước thư lập ngôn của các vị này , ta thấy căn cứ vào các Tinh thể , Sơn loan , nhưng thực dụng lại phải căn cứ vào La Kinh . Những nhà Địa lý sau này , giảng về Loan Đầu , chọn hình tượng , đặt cách đo hoạch , chia ra nhiều môn , nhiều kiểu , đua nhau ra đời . Tuy nhiên giảng về La Kinh mà không biết yếu điểm của Địa lý : là "lấy Loan Đầu làm Thể , La Kinh làm Dụng " là chưa rõ nghĩa của La Kinh , mà làm sai 1 ly thì sai đi 1 dặm . Nếu La Kinh không rành thì không thể căn cứ vào đâu để phân biệt Long , Huyệt , Sa , Thủy ; thật , giả , tốt , xấu . Như vậy , dẫu có được Loan Đầu thích hợp , cũng luôn luôn lâqnx lộn vị trí giửa tốt và xấu ,khiến cho nước hung , khí sát xung vào hài cốt , làm cho hao người tán của , sự tai hại là vô cùng không thể tránh thoát . Ngưới đời thường nói : Thầy Địa lý không rành làm tai hại cả toàn gia tông tộc ! Lời ngạn ngữ ấy rất đáng tin . Tôi đã học tập nhiều năm về Địa lý , hiểu biết khá rộng về sự tốt xấu của các Tinh , Loan , thế mà , khi chọn lựa Tinh đẩu vẫn còn sợ chưa hiểu thấu rành rẽ về La Kinh , rất khó quyết định được họa , phúc . Sau đó tôi tìm tòi các sách cổ , kim và tìm thầy học đạo , đem hết tâm trí đẻ nghiên cứu La Kinh , lặn lội đi khắp mọi nơi , thăm những ngôi mộ danh tiếng để khảo nghiệm về họa phúc , không 1 chút điểm sai lầm . Như vậy mới hiểu rằng 3 yếu tố quan trọng của Địa lý : trong có thể tự hỏi mình , ngoài có thể chất vấn người khác , và khi chọn 1 ngôi mộ cho ai phải làm sao chọn được chỗ tốt , tránh được nơi xấu , không xảy ra sự suy bại tai hại cho người . Bởi vì khoa Địa lý rất là tinh vi , nào là Xuyên Sơn Thấu Địa , Tiêu Sa , Nạp Thủy , Phân Kim , Tọa Độ , tầng thứ rất phiền phức , lý luận rất sâu xa . Có khi nhiều tầng chia ra để dùng , có khi 2 tầng kiêm dụng chung cả , có khi 1 tầng dùng cho 2 việc , có khi nhiều tầng hợp lại mà thông dụng , đó là những biến hóa vô cùng huyền diệu , ta phải có linh cảm để mà hiểu thấu chi ly , nếu sai 1 chút , sẽ bị ảnh hưởng rất lớn . Nay tôi căn cứ vào La Kinh gồm có 36 tầng của người xưa , viết thành sách để phổ biến ra 4 phương , cho mọi người đời sau cùng biết , có thể căn cứ vào các đồ án để chọn Loan Đầu , cho tận thiện , tận mỹ , để việc tạo phước khỏi bị sai nhầm .

Bài tựa này làm tại : Thái Nguyên Tứ hợp đường âm dương học
Vương Đạo Hanh viết ở Phượng Sơn thư trai
Mùa thu năm Quý Mùi , thời vua Đạo Quang thứ 3 .


                                                        BÀI TỰA II

Ngày xưa bậc Thánh nhân làm ra Kinh Dịch , ngẩng lên có thể xem Thiên Văn , cúi xuống có thể xét Địa Lý . Người ta còn nói : cái Đạo dựng lên Trời là Âm Dương , cái Đạo dựng lên Đất là Cương Nhu ( cứng mềm ) , đó là nguyên nhân của thuyết Địa Lý . Vậy trong Kinh Thi nói : Quan sát về Âm Dương , nhìn xem dòng suối chảy lại càng rõ rệt nghĩa lý hơn nữa .
Từ đời nhà Tần , nhà Hán tới nay , không thiếu những người tinh rành về Địa Lý : Quách Cảnh Thuần đời Tấn , Dương Quân Tùng đời Đường , thông hiểu thấu đáo lẽ huyền diệu của Địa Lý , hiếm có trên đời .
Gần đây đa số các nhà nho không nghiên cứu về Địa Lý , thường chôn hài cốt của thân nhân vào nơi không Long , không Huyệt , Thủy tán , Sa phi , khiến cho nước ngấm , kiến mối phá hoại , làm cho tuyệt tự hậu nhân , thật là đáng thương ! Người đời thường nói : Muốn thành người hay , nên biết làm thuốc và địa lý . Lại có chỗ nói : nếu núi sông mà biết nói thì mặt thầy địa lý sẽ xám như đất chết , phủ tạng của con người mà biết bảo thì thầy thuốc không có chỗ hành nghề ! Như thế nói rõ là Địa Lý rất khó , còn quan trọng hơn làm thuốc ! Cho nên học thấp kém mà ra làm thầy , lừa dối người không biết , thì mang tội vào người không ít !
Đời Tống có hai nhà nho là ông Chu , ông Thái , tinh thông về khoa Địa Lý , có viết những cuốn sách bất hủ truyền cho đời sau . Tại sao người ta không kiếm những sách ấy mà coi ?
Vì vậy , khoa Địa Lý ngoài 4 ông Dương , Tăng , Liêu , Lại , ít có người tinh thông .
Tóm lại , về Địa Lý chỉ có Loan Đầu và Thiên Tinh mà thôi ! Loan Đầu tức là Hình Thể , Thiên Tinh tức là Lý Khí . Hai yếu tố quan trọng như nhau . Hình Thể ở trong Trời Đất , khiến cho người ta có thể nhìn ngang , nhìn dọc , trông xa , trông gần ; người tinh mắt có thể quan sát dễ dàng . Những cuốn sách như : Trầm Tân Chu Địa Học , Toàn Phong Nguyên Bản , Sơn Dương Chỉ Nê , Kham Dư , Nhất Quán ...vv...đã nói rõ ràng và đầy đủ .
Còn về Lý Khí thì chắc chắn phải nghiên cứu La Kinh , tìm hiểu sâu xa về Nhị Khí , Ngũ hành , mặc khải được những huyền bí của Hà Đồ , Lạc Thư . Rộng ra thì có 36 tầng , hẹp lại thì có 15 tầng , rất quảng đại , rất tinh vi . Nếu không có người chỉ dẫn , giảng dạy , thì không có thể căn cứ vào đâu để ý thức được sự huyền diệu . Có người nói rằng : Hình Thể không đẹp , dầu Lý Khí có hợp cục cũng không dùng được ! Lời đó cũng đúng . Nhưng Hình Thể tốt , mà Lý Khí không hợp , thì đất tốt nhưng cách táng xấu cũng không phát phúc được . Phương chi đại địa rất ít , không phải người có đại đức thì không thể được . Còn những núi đồi tầm thường , thì dẫu có Lý Khí không hợp lắm , mà muốn cho con cháu nối truyền , no cơm , lành áo , bình an , cũng phải dùng La Kinh để tìm Địa Lý cho khỏi phạm sát thì mới được . Vì vậy người làm Địa Lý phải tận tâm phân tách tỉ mỉ để phân tim tốt , tránh xấu . Ông Định Ấp Vương Đạo An khi còn nhỏ học nho , lớn lên học Địa Lý , ngấm ngẫm nhiều năm , thường chê người đời chỉ giảng Hình Thể mà không tìm học Lý Khí , nên đã gây tai hại vô cùng ! Vậy sau khi đọc hết các sách nghiên cứu , các ngôi mộ có danh tiếng , tìm hiểu về nguồn gốc của phúc , họa , thực nghiệm nguyên nhân của sự giàu nghèo , ông viết ra cuốn La Kinh Thấu Giải này , và nhờ tôi viết bài tựa , khi đó tôi làm Tri Huyện ở Mậu Châu , nhân có kỳ thi tại tỉnh đọc sách của ông , mới biết là ông lưu tâm giúp đời để mọi người an táng cho thân nhân mình , được hài cốt yên lành , gầy hạnh phúc cho con cháu đời đời thịnh vượng . Còn việc tìm đất thì cần phải hợp với thiên lý , . Người có Đức lớn , thì gặp được đất lớn , đó là tất nhiên , không còn ngờ vực gì nữa . Người đời đừng cho là lời bàn tầm thường của các ông già quê mùa , mà không chịu lưu ý đến những lời chỉ dẫn quan trọng về âm chất thẩm , thiên của cổ nhân .
Bài tựa này làm tại Mậu Châu , viết vào hạ tuần tháng 5 , năm
Quý Mùi , niên hiệu Đạo Quang thứ 3 .
Học Chính Nhiếp Nguyên Chương soạn .



                                                 TÂN ĐÍNH QUYỂN ĐẦU
                                Biên soạn : Thục Đồng Âm dương học , Vương Đạo Hanh
                                 Hiệu chính: Định Ấp Nho trí Vương Thiệu Chí
                                 Tham duyệt: học trò là : Lý Duy Tân,Chu Quốc Hồng,Đặng Quan Vũ,Trần Vạn Bằng.
                                                             -------------------------------
 
Long mạch chia làm 24 vị khí , thuộc về Ngũ Hành , Âm Dương mất hay còn mặc dầu , căn cứ vào Hướng , Long , Huyệt , Sa , Thủy , nhưng then chốt của họa phúc đều căn cứ ở trong một cái huyệt. Chính giửa huyệt mà chiếu đủ Tiêu Sa , Nạp Thủy và Thừa Khí , cần phải rành rẽ cách phân châm , để thực hiện 3 điều trọng yếu :
_ Khi xét về Long , phải coi kỹ chỗ Xuất mạch
_ Coi về Huyệt , phải nhận kỹ chỗ Động khí.
_ Coi về Thủy lai , phải coi kỹ chỗ Thủy triều lại ; ở trước mặt Huyệt coi Thủy khứ , phải coi kỹ chỗ cửa miệng nước chảy ra đi. Coi về thủy phải coi về sự hợp cục và phá cục. Coi về Long lai thì phải coi chỗ Long Nhập Huyệt ( hoặc là phía sau ). Coi về Hướng thì phải coi ở đằng trước. Coi Thủy lai thì phải coi ở chỗ nước chảy tới tới ( Minh Đường). Coi Thủy khứ thì phải coi chỗ nước chảy đi ra ( Ngoại Minh Đường)
Nếu không rõ hình thế mà đặt La Kinh cẩu thả , bậy bạ , thì tai hại vô cùng ! Người đời xưa nay đều nói : Thầy thuốc lầm chỉ hại 1 mạng người , thầy địa lý lầm làm hại cả dòng họ người ta !
Bởi vì , chỉ có Tuyệt Hướng mà không có Tuyệt Long , tức là không sai về Sa , Thủy , mà chỉ bị về Lập Hướng sai vào phương Khắc Sát , mà bị Tuyệt thôi ! Xin các Thầy Địa Lý trong thiên hạ , nên lưu ý để cho những người hiếu tử , hiếu tôn được nhờ ơn Thầy , được ngôi mộ của Tiền nhân an lành , phát phúc cho cháu chắt đời sau , thì không phúc gì bằng !
                                                       Những sách tham khảo :
                        _ Thanh triều khâm định hiệp kỷ : để phân biệt Ngũ Hành , bàn về các sao và ngày tháng.
                        _ Duyên đàn tử : Phân biệt Sa , Thủy và phân chia cung vị.
                        _ Lưu thị gia tàng : Nói về ngày tháng.
                        _ Nhất quán kham dư : Nói về tinh thể và La Kinh.
                        _ Tứ đàn tử : Nói về các Tinh thể và Thủy pháp.
                        _ Tượng cát : Nói về năm tháng.
                        _ Chính kỷ nhất thống : Nói về Xuyên sơn thấu địa.
                        _ Thiên cơ hội nguyên : Nói về Tinh thể địa bàn.
                        _ Ngao đẩu : Nói về năm tháng và quái lệ ( các quẽ )
                        _ Đính hỗn châm : Nói về Ngũ hành , Thiên Văn , Địa lý.
                        _ Bình địa ngũ tinh : Nói về Dương Trạch.
                        _ Nguyên chân : Nói về Thủy khẩu và Tam hợp.
                        _ Địa lý bất cầu nhân : Nói về Tinh thể địa bàn.
                        _ Thanh lang kinh : Nói về Quái lệ ( các quẽ ).
                        _ Tào an phong : Nói về Tinh thể ( hình dạng sơn sa )
                        _ Tuyết tâm phú : Nói về Tinh thể.
                        _ Ngọc tủy kinh : Nói về Tinh thể
                        _ Sơn dương chỉ mê : Nói về Tinh thể.
                        _ Ngũ chủng bí khiếu : Nói về các quẽ và Địa bàn.
                        _ Sùng Chính tịch mậu : Nói về năm tháng và Ngũ Hành.
                        _ trần tân chu : Nói về Tinh thể.
                        _ Địa lý thống nhất toàn thư : Nói về Tinh thể.
                        _ Trần tử tánh : Nói về năm tháng ngày giờ.
                        _ Ngọc xích kinh : Nói về Thiên văn và Địa lý.
                        _ Địa lý đại thành.
Cần phải đọc sách của các bậc danh sư , trong đó có nhiều điều chỉ dạy huyền bí.
 
                                                         -------------------------------
 
                                                 MỤC LỤC CÁC TẦNG CỦA LA KINH
 
Tầng 1   : Là Tiên Thiên bát Quái biến thành Hậu Thiên Bát Quái. Tiên Thiên làm cái bản thể , Hậu Thiên làm cái sử dụng. Dùng Hậu Thiên không được phá Tiên Thiên , chỉ dùng Hậu Thiên chứ không dùng Tiên Thiên , nhưng vẫn có Tiên Thiên ở bên trong.
Tầng 2   : Lạc Thư biến thành Tứ Tượng. Hóa Hậu Thiên thành Cửu Tinh ( 9 sao ) , chia Lục Giáp thành 120 phân kim , ngang dọc 16 cái và 5 số.
Tầng 3   : Bát Quái Hoàng Tuyền , tức là Quan và Quỹ của Tiên Thiên Bát Quái , hòa hợp với Ngũ hành để sử dụng trong việc : Long thời kỵ Thủy lai , Lập Hướng thì kỵ khắc Long.
Tầng 4   : Là tứ lộ và Bát lộ Hoàng Tuyền bạch Hổ ( tức sao sát ) của Địa Chi , quay đi trở lại. Hướng về Bát can thì kỵ Tứ duy Thủy lai , Hướng Tứ duy thì kỵ bát can Thủy lai ; nghĩa là 4 phương Hoàng Tuyền , 8 phương Khắc Sát ,l nước chảy đi thì tốt , nước chảy lại thì xấu. Nếu phạm thì hao người tốn của.
Tầng 5   : Cửu tinh ứng vào cục đất để phân biệt Long tốt xấu , coi sắc đất biến đổi mà tìm Huyệt , tương ứng với thứ vị của 24 vì Thiên tinh mà lấy dùng.
Tầng 6   : Kim chính thức của Địa bàn dùng để xem Long lai , định hướng , thừa khí nhập Huyệt ; Lập Trạch , An Phần chọn âm dương. Tóm lại , cả 36 tầng đều căn cứ ở tầng này vận chuyển mà sử dụng.


 Tầng 7   : Âm và Dương Long của Tiên Thiên Bát Quái , Kiền Nam , Khôn Bắc , Ly Đông , Khảm Tây , ở 4 phương chính là Dương ; Chấn , Tốn , Cấn , Đoài ở 4 phương góc tức là Tứ Duy của Tiên Thiên là Âm. Mỗi quái Nạp Âm đều có Can và Chi là nửa Âm , nửa Dương. Phép biến Thủy không được sai lầm về Âm Dương.
Tầng 8    : Chính Ngũ Hành , tóm hết thảy cả trong địa bàn , nguồn gốc là do Hà Đồ mà ra , phân Đông Tây Nam Bắc , 24 sơn và sự tương khắc của Kim , Mộc , Thủy , Hỏa , Thổ để sử dụng.
Tầng 9     : Là Kiếp sát , lấy Tọa Sơn làm chủ , chỉ kỵ 1 sơn xấu , hoặc nghiêng ngã , vỡ lỡ thôi , còn tốt thì không kỵ.
Tầng 10   : Là 72 Long Xuyên Sơn , ở trong Địa Bàn ghi 60 Giáp Tý , trong 5 cung Tý có 12 chữ chính màu đỏ là để chỉ 4 phương tứ duy và 8 phương bát can , thấu thành 72 Long , lấy lẽ Long Nhập Thủ thừa tiếp với thấu địa khí 1 mạch rót suốt vào Huyệt , và để phù hợp với 72 thời tiết mỗi năm.
Tầng 11  : Xuyên Sơn làm quẽ gốc , sách Chu Dịch gọi là Thiên Thông. Trong Kinh Dịch lấy quẽ Kiền làm đầu , nói : Thiên Địa biến hóa ra quái , hào để bổ trợ cho Lai Long ; Tọa Huyệt là chủ của Thể , Dụng.
Tầng 12   : Là Trung Châm thuộc về Nhân Bàn , tham hợp với Thiên-Địa 2 bàn , là Thiên-Địa-Nhân tam tài. Ông Lại Công lấy để Tiêu Sa và tham hợp với Ai Thiên Tinh và Nhị Thập Bát Tú , để làm biểu lý , bàn về Thái Dương đáo Sơn , và 12 vị Tiến Xá Tinh ; và đến 12 cung phân ranh giới 24 vị Thiên Tinh , Thấu Địa Kỳ Môn , tất cả đều do tầng Trung bàn này thông dụng.
Tầng 13  : Là 60 Long Thấu Địa. gọi là Thiên Kỷ , ở phía sau ngôi mộ hay là ngôi nhà khoảng 8 thước chỗ Loan Đầu phân khí dẫn suốt tới. Có các chữ Vượng , Tướng , Châu Bảo , sát Diệu , Hỏa Khanh , Cô Hư , Sai Thác và Không Vong , để phân biệt lấy quẽ xung hòa 9x6= 54 là Vượng Tướng , không xung hòa là Không Vong.
Tầng 14   : Là Thấu Địa Kỳ Môn , người ta lấy 2 quẽ độn Tử Phụ, Tài Quan , Lộc Mã Quý Nhân , Âm Dương làm gốc để khởi lệ.
Tầng 15   : Là Thấu Địa Quái , lấy Thấu Địa làm nội quái , gọi là quẽ Liên Sơn. Nhà Hạ dùng Nhân Thông , nên Kinh Dịch lấy quẽ Cấn làm đầu , quẽ phối thì lấy Hỗn Thiên Ngũ Hành , phối hợp với quẽ Tử Phụ , Tài Quan , Lộc Mã Quý Nhân là Tứ Cát ( 4 cái tốt ) của Sa , Thuỷ làm đắc dụng.
Tầng 16   : là Thấu Địa 60 Long phối hợp với 28 ngôi sao , ngũ thân ( 5 cái gần ) Sa , Thủy , Cầm Tinh, để quản cục trì thế , một cách tự nhiên mà dùng.
Tầng 17   : Định phương vị của Tứ Cát là : Ngũ Thân , Tam Kỳ , Bát Môn , Cửu Tinh đáo Sơn.
Tầng 18  : Là Phùng Châm Thiên Bàn để biến Thủy Lai và Khứ. Đây là quẽ phiên của Dương Công , gồm có có 9 sao là Thiên Phụ Quái , phiên : Bật , Phụ , Vũ , Phá , Liêm , Tham , Cự , Lộc , Văn làm Cát , Hung thần , để đoán phúc họa do ở luật Tịnh Âm , Tịnh Dương mà ra.







Tầng 19  : Là 240 phân số , do Lạc Thư chia ra 16 cái , 15 số dọc , ngang thành 240 phân số , chia cho 24 sơn , mỗi sơn 10 số. Đây là nguồn gốc của phân kim.
Tầng 20  : tầng Địa bàn phân kim , gia giảm 2 phân , 8 phân ( 2/8 ) : giảm Sa , Thủy , Minh Đường không ngay , Khắc Mệnh , Khắc Long , vì vậy mới có sự gia giảm bên 3 phân , bên 7 phân ( 3/7 ).
Tầng 21  : là tầng Thiên bàn phân kim , gia , giảm tam , thất ( 3/7 ). Mỗi Sơn có 5 chữ phân kim , như Tý Sơn thì có : Giáp Tý , Bính Tý , Mậu Tý , Canh Tý , Nhâm Tý , thì Giáp Ất là Cô ; Nhâm Quý là Hư ; Mậu Kỷ là Sát ; Bính Đinh là Vượng ; Canh Tân là Tướng ; để tránh sự gác giây , sai lầm vào Không Vong...vv..thì tai hại lắm !
Tầng 22  : là phân biệt khoảng Vượng , Tướng , Cô , Hư. Lấy Bính , Đinh , Canh , Tân , chỉ vào khuyên chữ đỏ là Vượng Tướng. Mậu Kỷ chỉ chữ Thoa ( X ) là Sát Diệu. Giáp , Ất , Nhâm , Quý chỉ điểm đen là Cô , Hư , Không , Vong.
Tầng 23  : là phân kim phối với Địa Nguyên , thuộc quẽ Ly tàng , là quẽ ở ngoài. Nhà Ân dùng Địa thống , nên Kinh Dịch lấy quẽ Khôn làm đầu. 60 quẽ phối với 60 phân kim , lấy quẽ Kim lưỡng toàn làm Vượng , Tướng , gọi là Đắc Kim. Ngoại trừ 4 quẽ Khảm , Ly , Chấn , Đoài , là quẽ Tiên Thiên chính thức ứng với 4 mùa Xuân Hạ Thu Đông , mỗi mùa giữ 1 quẽ , mỗi quẽ 6 hào , mỗi hào gồm 15 ngày ( 4x6=24 ) , 24 hào gồm 24 tiết khí , ngoài 60 quẽ , mỗi tháng 5 quẽ , mỗi quẽ 6 ngày ( 6x60=360 ) , nên mỗi năm có 360 ngày.
Tầng 24  : là Nạp Âm Ngũ Hành , 60 Giáp Tý , Thiên Can , Địa Chi phối hợp , do Tiên Thiên Bát Quái lấy Nạp Giáp phối. Ngoại trừ quẽ Kiền và quẽ Khôn là Đại Phụ Mẫu không kể , nếu Thiên Can gặp Tý , Ngọ , Sửu , Mùi tại Chấn , Tốn , sẽ do 2 quẽ suy luận ; Thiên Can gặp Dần , Mẹo , Thân , Dậu tại Khảm , Ly sẽ do 2 quẽ suy luận ; Thiên Can gặp Tuất , Hợi , Thìn , Tị tại Cấn , Đoài sẽ do 2 quẽ suy luận ; Theo phương pháp Dụng , lấy 9 Mộc , 7 Kim , 5 Thủy , 3 Hỏa , 1 Thổ. Đặt tại cửa đầu kim , phải biết ý nghĩa sâu xa.
Tầng 25   : là phương vị của 12 cung , nếu được Tinh phong đẹp đẽ , Sa -Thủy trong sáng , được chứng ứng ở phương nào , thì cung ấy phát quý , hưởng lộc.
Tầng 26   : là vị trí của 28 ngôi sao , ngôi nào đóng ở độ số nào , thì ứng với tỉnh , châu , thành , huyện ở cung ấy ( ở dưới đất ).
Tầng 27   : là 24 khí tiết của hàng tháng đón Thái Dương đến cung , tránh Hung sát , tìm Tốt lành : tức là cung Trục Nguyệt , lấy 4 cái Đại Cát Thời làm Thần Tàng sát để Tạo , Táng , thì được Thượng Cát ( tốt trên hết ).







Tầng 28   : là vị trí của 12 Tướng Đăng Minh , đón Thái Dương đến cung , nửa tháng tới 1 Sơn , mỗi tháng qua 1 cung , đi ngược lại 24 sơn , tức là cung Đăng Minh.
Tầng 29   : là 12 vị tinh thể Nghinh Thái Dương đáo cung triều xá , mỗi tháng giửa kỳ khí tiết , để rước Quý Nhân lên Thiên môn.
Tầng 30   : là cung xá quán dịch , tức Thần Thái Dương. Đem văn , võ bá quan đến chỗ chân thủ , mỗi tháng cùng Thái Dương qua 1 cung , Tạo Táng gặp ở cung này rất tốt, mọi cái sát tiềm tàng hết.
Tầng 31   : là 24 ngôi Thiên Tinh chiếu vào cục đất , chia ra Tam Cát , Lục Tú , Cửu Tinh ; Sa , Thủy Thôi Quan , phát phúc. Nếu được Sơn quý tất xuất Đại Cát Quý. Tiên Thánh nói : Long lấy xung hòa làm đẹp ; Tinh lấy được phối làm tốt , chính chỗ này vậy.
Tầng 32   : là Hỗn Thiên Ngũ Hành tinh độ , tại 28 vì sao , chia làm Thất Chính ( 7 vị Chủ tinh ) đều có định , sở , thuộc 1 sao ; cũng có ngũ hành ở trên : Kim 12 , Mộc 13 , Thủy 12 , Hỏa 12 , Thổ 12 , cộng có 61 vị. Duy có cung Cấn là nhiều thêm chữ Mộc. Đây là Ngũ Tinh Đăng Viên ( 5 sao đến cục ) , Ngũ hành cùng với Xuyên sơn , Thấu địa , Phân kim , sự Cát , Hung cùng là cái ở trong , cái ở ngoài , lại hợp với 72 khí tiết , 365 độ trong 1 năm.
Tầng 33   : là chia đều 60 Long , tham hợp với 61 Hỗn Thiên ( tức Hỗn Thiên Ngũ Hành ) , mỗi chữ 1 Long , mỗi chữ quản 6 ngày , thành ra 365 ngày 3 giờ , để ứng với 72 thời tiết của độ số trong 1 năm. Địa bàn căn cứ vào đó căng giây , Phân kim , Thấu địa , Toa huyệt mà dùng. Trong sách Ngỏa Vương hợp tượng cát thư , còn có 24 sơn Thấu Địa Long , thừa khí nhập huyệt.
Tầng 34   : là ngang , dọc độ số của 28 sao , hợp với Nhân bàn có 365 vạch. Trong giới hạn độ số của mỗi sao , chia ra Thượng quan , Trung quan , Hạ quan ( quan là cửa ) để dùng làm cung vị Tiêu sa , là phép của Ai tinh.
Tầng 35   : là định sự Sai thác và Không vong , có điểm đỏ , chấm đen để gát dây Phân kim , cùng với Xuyên sơn , Thấu địa làm cái ở trong , cái ở ngoài liên quan nhau. Khi giăng dây Phân kim phải đặt trên điểm đỏ , không được đặt vào điểm đen , nếu lọt vào khoảng của chấm đen một nửa sợi tơ tóc là hỏng.
Tầng 36   : là 28 sao phối hợp với 24 sơn , và Trung châm Tiêu sa của Nhân bàn , gọi là phép Ai tinh. Lấy sao của sơn Tọa Huyệt làm chủ ; lấy sao ở đằng trước làm Hướng ; và tả , hữu làm Khách. Huyệt trường là Ngôi Bắc Thần ( sao Chính chủ ) , Sa , Thủy là Nhị Thập Bát Tú ( sao phụ tá ). Cũng như sao Bắc Đẩu có các sao khác chầu vào. Vậy sách nho có câu " Thí như Bắc Thần cư kỳ sở , nhi chúng Tinh củng chi " chính là bảo về nghĩa thế.

Trên đây là 36 tầng La Kinh , tôi tham khảo các kinh sách của các vị Tiền Hiền , lập ra La Kinh toàn đồ và chỉ dẫn phép sử dụng minh bạch. Phân phối phổ thông ra bốn phương trong thiên hạ , để mọi người cùng biết sử dụng mà tìm lành , tránh dữ cho công việc tạo phúc khỏi bị nghi hoặc và sai nhầm.

 KHÂM ĐỊNH LA KINH THẤU GIẢI
                                                            QUYỂN THƯỢNG.

                                                        ---------------------

Bàn về việc dùng La Kinh không khác gì : Đứng trên bờ suối , lượng bóng cây. đo chiều sâu...
La Kinh đầu tiên là do Hiên Viên Hoàng Đế đi đánh Si Vưu bị lạc đường. Thượng Đế sai bà Cửu Thiên Huyền Nữ hiện xuống , chỉ cho cách mà đặt ra phương hướng , mới phá tan được yêu thuật của Si Vưu. Phép dùng kim -chỉ -nam là có từ khi đó , tuy nhiên , câu chuyện có vẻ hoang đường.
Có người nói do ở vua Thành Vương nhà Chu. Khi ấy nước Việt thường đến triều cống. Khi về sứ giả quên đường cũ , sợ lạc lối , nên vua nhà Chu cho chế ra Chỉ-nam-xa ( xe có kim chỉ nam bắc ) để dẫn đường. Từ đó La Kinh mới dùng kim pháp để định vị trí , quan sát khí thế để thừa khí vào huyệt mà đặt táng Âm phần.
Xét hành độ của các thiên tinh xung hợp , lấy sinh, vượng khí , phân tích rõ rệt tính chất của Tiên Thiên , dùng Hậu Thiên để xem Thủy lộ chảy đi , chảy lại ; xét kỹ càng về họa phúc do hào ly ở nơi sai, đúng , làm cho Trời không đổi được mạng người. Vì vậy người trí thức có tài năng , am hiểu về địa lý , thiên văn , thì có thể đoạt được thần công , cải được Thiên mệnh ! vậy đất có nhiều cái không hoàn toàn mỹ mãn , nên phải thay đổi , thêm bớt ít nhiều để tránh sự hung , tìm cái lành. Vì vậy ý nghĩa của Tam Tài là cần yếu phải xem ở La Kinh , mới rõ ràng được chí lý. Trên xem được Thiên thời , dưới xét được Địa lợi , giửa có thể quyết định được nhân sự. Ngoài ra không còn cái gì khác và phải đạo lý hơn cả.
Luận Thái Cực Hóa Sinh :
1/.  Thái Cực là Hoàng Đạo , Ngũ Hành thiên biến , vạn hóa là do ở đó.
2/.  Tượng ( Lưỡng Nghi ) tức Âm và Dương , là Kiền Khôn ( trời đất )
3/.  Tam Tài ( là Trời , Đất , Người ).
4/.  Tứ Tượng ( là Đông , Tây , Nam , Bắc ).
5/.  Ngũ Hành ( là Kim , Mộc , Thủy , Hỏa , Thổ ).
6/.  Lục Giáp ( là mỗi 60 năm là 1 Nguyên , có Thượng Trung Hạ Nguyên ).
7/.  Thất Chính ( là Nhật cầu , Nguyệt cầu và 5 vì Tinh tú ).
8/.  Bát Quái ( là Kiền , Khảm , Cấn , Chấn , Tốn , Ly , Khôn , Đoài ).
9/.  Cửu Cung ( là Tham , Cự , Lộc , Văn , Liêm , Vũ , Phá , Phụ , Bật ).
10/. Thành số ( theo ở Lạc Thư , thì 1 được thêm 9 thành 10 , gọi là Hợp Thập ).
 
 
 
 
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
 
                                                   KHẢO NGHIỆM LA KINH
                                           ( Khởi lệ , dụng pháp , đối chứng ).
                                                  -------------------------
 
La KInh chế ra tập trung được tất cả mọi tinh hoa của Trời Đất. Nguyên bản Thái Cực là tinh chất của Thiên Địa ngưng đọng lại , là căn bản của vạn vật. Đặt tên là La Kinh , vì chữ La có nghĩa là " bao la vạn vật " ; Kinh có nghĩa là kinh luận " Kinh Thiên Vĩ Địa , là trải khắp cả ngang Trời , dọc Đất ". Sở dĩ lập ra có qui cũ ( khuôn mẫu ) quyền cái , khinh trọng , thành ra vuông , tròn , chẳng cái gì mà không do cái Kim Châm ( kim vàng chỉ nam , bắc ) và cái Thiên Trì ( vòng tròn ). Trước hết để định về Phong Thủy , giả sử cái La Kinh mà không có Thiên Trì , thì không quyết định được phương Tý , Ngọ ; không phân biệt được Âm Dương ; không hoạch định được Bát Quái , Cửu Cung  ; Ngũ Hành lẫn lộn , không sử dụng được 2 đầu mối của Can Chi ; không biết được Long , Hướng , Khí , Mạch hay dỡ thế nào , lấy gì mà làm căn cứ ? Vậy nên phải có Kim Châm ở trong vòng Thiên Trì. Động thì Dương , Tĩnh thì Âm . Lưỡng Nghi phân ra Tứ Tượng , phân ra Bát Quái ; định vị Cát Hung , tự nhiên hóa hóa , sinh sinh , vô cùng vô hạn !
Nguyên bản của Trời Đất không phải là ở đầu cực , mà ở 1 điểm chính giửa đỉnh châm làm tổ khí , và cũng là căn bản của vạn vật , vạn hóa.
Phân xét  :  Ngoài Thiên Trì ra thì La Kinh tức là Thái Cực , phải lấy giửa Tý , Ngọ mà phân làm Lưỡng Tượng ; Lưỡng Tượng hợp với Mẹo , Dậu làm Tứ Tượng ; Tứ Tượng hợp với Tứ Duy làm Bát Quái ; Bát Quái định được rồi thì mọi phân vị đều được minh bạch quyền hành phận sự. Tức là Thiên Đạo , Địa Đạo , Nhân Đạo đã thiết lập định hoạch tinh tường.
Có bài thơ   :    Hư , Nguy chi gian châm độ minh.
                      Nam phương Trương độ thượng tam thừa.
                      Khảm Ly chính vị , nhân nan thức.
                      Sai khước hào ly , đoán bất linh.
Nghĩa là  :  trong khoảng sao Hư và sao Nguy đã phân rõ ranh giới ; phương Nam thuộc về độ phận của sao Trương , trên có 3 vị liên tiếp ( Bính , Ngọ , Đinh ) ; Khảm và Ly là ngôi chính khí , đời ít có người biết ! Nếu làm sai 1 li , thì đoán họa , phúc không linh nghiệm
 
La KInh chế ra tập trung được tất cả mọi tinh hoa của Trời Đất. Nguyên bản Thái Cực là tinh chất của Thiên Địa ngưng đọng lại , là căn bản của vạn vật. Đặt tên là La Kinh , vì chữ La có nghĩa là " bao la vạn vật " ; Kinh có nghĩa là kinh luận " Kinh Thiên Vĩ Địa , là trải khắp cả ngang Trời , dọc Đất ". Sở dĩ lập ra có qui cũ ( khuôn mẫu ) quyền cái , khinh trọng , thành ra vuông , tròn , chẳng cái gì mà không do cái Kim Châm ( kim vàng chỉ nam , bắc ) và cái Thiên Trì ( vòng tròn ). Trước hết để định về Phong Thủy , giả sử cái La Kinh mà không có Thiên Trì , thì không quyết định được phương Tý , Ngọ ; không phân biệt được Âm Dương ; không hoạch định được Bát Quái , Cửu Cung  ; Ngũ Hành lẫn lộn , không sử dụng được 2 đầu mối của Can Chi ; không biết được Long , Hướng , Khí , Mạch hay dỡ thế nào , lấy gì mà làm căn cứ ? Vậy nên phải có Kim Châm ở trong vòng Thiên Trì. Động thì Dương , Tĩnh thì Âm . Lưỡng Nghi phân ra Tứ Tượng , phân ra Bát Quái ; định vị Cát Hung , tự nhiên hóa hóa , sinh sinh , vô cùng vô hạn !
Nguyên bản của Trời Đất không phải là ở đầu cực , mà ở 1 điểm chính giửa đỉnh châm làm tổ khí , và cũng là căn bản của vạn vật , vạn hóa.
Phân xét  :  Ngoài Thiên Trì ra thì La Kinh tức là Thái Cực , phải lấy giửa Tý , Ngọ mà phân làm Lưỡng Tượng ; Lưỡng Tượng hợp với Mẹo , Dậu làm Tứ Tượng ; Tứ Tượng hợp với Tứ Duy làm Bát Quái ; Bát Quái định được rồi thì mọi phân vị đều được minh bạch quyền hành phận sự. Tức là Thiên Đạo , Địa Đạo , Nhân Đạo đã thiết lập định hoạch tinh tường.
Có bài thơ   :    Hư , Nguy chi gian châm độ minh.
                      Nam phương Trương độ thượng tam thừa.
                      Khảm Ly chính vị , nhân nan thức.
                      Sai khước hào ly , đoán bất linh.
Nghĩa là  :  trong khoảng sao Hư và sao Nguy đã phân rõ ranh giới ; phương Nam thuộc về độ phận của sao Trương , trên có 3 vị liên tiếp ( Bính , Ngọ , Đinh ) ; Khảm và Ly là ngôi chính khí , đời ít có người biết ! Nếu làm sai 1 li , thì đoán họa , phúc không linh nghiệm.



Còn tiếp




Sưu tầm từ: http://vnthuquan.net/diendan/%28S%284uk55k55cidmaz55fywcpl55%29%29/tm.aspx?m=37082

Thứ Hai, 15 tháng 3, 2021

KỲ MÔN ĐỘN GIÁP BÍ KÍP ĐẠI TOÀN- P3


Phép ẩn náu giấu hình

Ngũ Tử Tư nói:
Ví muốn ẩn náu giấu hình, nên cưỡi Thanh long (sáu Giáp), trải Bồng tinh (sáu Ất), qua Minh đường (sáu Bính), nép Thái âm (sáu Đinh), ra Thiên Môn (sáu Mậu), vào Địa hộ (sáu Kỷ), đánh Thiên hình (sáu Canh), dứt (phán) Thiên Đình (sáu Tân), buộc Thiên lao (sáu Nhâm), lấy cỏ bẻ một nửa che mình, một nửa vào Thiên tàng (6 Quý), từ dưới Thiên tàng chạy về phương Nguyệt yểm (tháng Giêng ở Tuất, mỗi tháng chuyển ngược), có thể giấu thân. Nguyệt yểm với Thiên hỷ cùng.
Giả như ngày Sáu Giáp, giờ Giáp Tý, muốn nép giấu, Sơ khởi từ Giáp Tý, trải Sửu, qua Dần, Phục Mão, ra Thìn, vào Tị, lấy cỏ bẻ nửa che thân, đặt đất Mão, vào đất Dậu, thì ra vào không ai thấy.
 Qua Thái âm thì chú rằng:
 Trời bay đất úp, chín lối đều tắc,
 Người đến Bách ta. Đến đây là cực.
 Nhìn ta thì mù. Dưới ta thì chết,
 Ta vâng Cửu thiên huyền nữ đạo màu nguyên quân luật lệnh.
(Thiên phiên địa phú, Cửu đạo giai tắc, Hữu lai bách ngã. Chỉ thử nhi cực. Thị ngã giả manh, truy ngã giả vong. Ngô phụng cửu thiên huyền nữ, đạo màu nguyên quan luật lệnh).
Chú xong nhẹ nhàng vào Thiên tàng, chớ có ngoảnh lại. Canh là Thiên ngục, Tân là Thiên đình, Nhâm là Thiên lao đều nên tránh. Đừng có hướng đến mà bị bắt trói.

PHÉP KỲ MÔN BAY TRÊN ĐẨU

Khi gặp việc gấp, không được Kỳ môn, dùng phép này cũng diệu. Khi bay trên Đẩu, chân bước tay khoa, miệng đọc chú rằng:
Trời tròn đất vuông : Thiên vi địa phương-Chủ phương này, bản nguyên viết là Bộ).
Sáu luật chín chương :Lục luật Cửu chương.
Ra đi đại cát : Xuất hành đại cát
Giữ mãi an khang : Vĩnh bảo an khang
Quét trừ hung ác : Tảo trừ hung ác
Loại bỏ tai ương : Tước khứ tai ương
Người đuổi đến ta : Nhân lai truy ngã
Che hai mắt nó : Yếm kỳ lưỡng mục
Ngựa đuổi đến ta : Mã lai truy ngã
Bẻ gãy bốn vó : Chiết kỳ tứ túc
Xe đuổi đến ta : Xa lai truy ngã
Chặt vành bánh nó : Đoạn kỳ luân bức
Việc cầu như ý : Sở cầu toại ý
Điều mong vừa lòng : Ham nguyện tòng tâm
Ta vãng Cửu thiên huyền nữ: Ngọ phụng Cửu Thiên Huyền Nữ
Kíp Kíp như luật lệnh sai    : Cấp cấp như luật lệnh sắc.




PHÉP CHÂN NHÂN BẾ LỤC MẬU

Khi xuất quân phải nghỉ nên, cần phải yên doanh, hạ trại, tránh họa, trốn nạn, nên dùng phép này thì quỷ thần cũng không dám phạm gần

BÙA CHÍN TINH 8 MÔN

Phép này, lấy đất phương sáu Mậu trong tuần. Dùng dao khởi từ Quỷ môn vòng về bên trái, vạch đất một vòng. Rồi lấy đất ở trung ương một đấu, chia đặt sáu nơi trên sáu Mậu, mỗi nơi để một thăng, còn dư thì để vào nơi lấy dao đào đất trước. Vào trung ương mà chú rằng:
Dương nơi đỉnh thái : Thái sơn chi dương
Âm non ở Hằng : Hằng sơn chi Âm
Đạo tặc không dấy : Đạo tặc bất khởi
Hổ lang không xâm. : Hổ lang bất xâm
Thành quách không vẹn : Thành quách bất hoàn
Đóng lấy then vàng : Bế dĩ kim quan
Ngàn hung muôn ác : Thiên hung vạn ác
Không dám đến can : Mạo chi cảm can
Kíp kíp như luật lệnh : cấp cấp như luật lệnh
Chú xong vào trung ương nghỉ, đừng cho ra vào. Sáng hôm sau, lúc ra đi lấy dao gạt tan đất đi mà ra. Nếu không gạt đất đi, thần ấy không dám đi (Sáu Mậu tức Cương thần).
Muốn nghiệm phép Lục Mậu, đau mẹ con con nghé, để trâu mẹ ở trong, nghé con ở ngoài không dám vào. Muốn để thần đi, gạt bỏ đất một Mậu, Nghé sẽ theo chỗ trống ấy mà vào.
Tuần Giáp Tý là Mậu Thìn. Tuần Giáp Tuất là Mậu Dần
Tuần Giáp Thân là Mậu Tý Tuần Giáp Ngọ là Mậu Tuất.
Tuần Giáp Thìn là Mậu Thân. Tuần Giáp Dần là Mậu Ngọ.



PHÉP VŨ BỘ
(Khi làm việc đều nên Vũ bộ = Bước Vũ)
Mới đầu rời một bước không ở trong số 9 bước. Mỗi bước 7 xích, hợp thành 2 trượng 1 xích, cho nên nói thấy vết bước Vũ mà thành Quái Nhiếp Tế.
Đứng ngay, chân phải để trước, chân trái để sau. Rồi lại bước chân trái, rồi lại bước chân phải, lấy chân trái theo chân phải là đủ một bước Vũ.
Rồi trở lại chân phải, lại đến chân trái trước, gồm đủ 2 bước vũ.
Rồi trở lại chân trái trước, lại đến chân phải trước. Đến chân trái phải, gồm đủ 3 bước vũ.

Vũ bộ cương CỤC NGỌC NỮ PHẢN BẾ

Kinh nói:
Cục Ngọc Nữ phản bế, trong nhà, trong sân thì dùng 6 bước, ngoài đồng ruông thì dùng 60 bước, tùy theo đất rộng hẹp mà liệu dùng, đều lấy 6 làm cơ. Trước định số xong, rồi tay trái năm 6 con toán. Mỗi con taosn dài 1 xích 2 thốn. Hớp một ngụm vượng khí, đập răng 12 lượt mà chú thầm trong lòng về việc mong muốn. Rồi sau quay mình, lựng tựa vượng khí mà kêu cầu rằng:
Duy Năm X tháng X ngày X : Duy Nở niên, Nở Nguyệt, nở Nhật
Giờ X. Cầu xin trời đất cha mẹ : thời. Khải Thiên Địa Phụ Mẫu
Sáu Giáp, sáu Đinh, 12 thần thời : Lục Giáp, Lục Đinh, thập nhị thời thần
Thanh long, Bồng tinh, Minh đường : Thanh long, Bồng tinh, Minh đường
Ngọc Nữ trên trời, thần sáu Mậu. : Thiên thượng Ngọc Nữ, Lục Mậu chi thần.
Tôi mong học thuật trường sinh : Mỗ hiếu học trường sinh chi thuật
Làm không chọn ngày, đi không chọn giờ  : hành bất trạch nhật, xuất bất trạch thời
Nay muốn đi đến sứ X, làm việc K : Kim lục du hành mỗ sứ, vi cơ sự
Mong nhờ Đại thần giúp đỡ : Lục lại đại thần sỷ hựu
Gắng ám ở Thiên môn (cửa trời) : cần án thiên môn
Vạch địa số cục, ra thiên môn : Hoạch địa số cục, xuất thiên môn
Vào địa hộ, khép then vàng : Nhập địa hộ, bế kim quan
Theo ngọc nữ, mong thỉnh Ngọc nữ : Thừa Ngọc nữ. Cấn thiết Ngọc nữ
Thanh long, Chu tước, Bạch hổ : Thanh long, Chu tước, Bạch hổ
Huyền vũ, Câu trận, Lục hợp : Huyền vũ, Câu trận, Lục hợp
Lục Giáp, Lục Đinh, 12 thời Thần : Lục Giáp, Lục Đinh, thập nhị thời thần
Theo tôi đi đến xứ X làm việc K : thừa ngã nhi hành chĩ mỗ xứ, vi mõ sự
Trái phải phòng gần bên cạnh : Tả hữu cận phòng.
Theo đi, theo làm, theo ngồi theo dậy : tùy hành tùy công, tùy ngọa tùy khởi
Loại trừ trộm cắp quỷ ma mất tiêu : tị trừ đạo tặc, quỷ mị tiêu vong.
Quân tử mà gặp, vui vẻ bội phần : Quân tử kiến chi, hỷ lạc bội thường
Tiểu nhân gặp tôi, vui mừng hớn hở : tiểu nhân kiến ngã hoan hỷ hoàng hoàng
Nam nhi gặp tôi, đem thết rượu thịt : Nam nhi kiến ngã, cộng tương tửu tương
Trăm ác quỷ tặc, đương ta thì vong : Bách ác quỷ tặc, đưỡng ngã giả vong
Hôm nay bước Vũ, trên ứng Thiên cương : Kim nhật Vũ bộ, thượng ứng Thiên cương
Ngọc nữ chờ bên, dẹp hết không hay : Ngọc nữ thị bằng, hạ kích bất tường
Muôn tinh ép phục, hướng đi không ương : Vạn tinh yếm phục, sở hướng vô ương
Trị bệnh phải khỏi, công đâu đạt đấy : Sở trục bệnh sai, sở công giả đạt
Kích đâu phá đó. Đẩy thì phải đổ : Sở kích giả phá, sở suy giả khuynh
Cầu thì phải được, nguyện thì phải thành : Sở cầu giả đắc, sở nguyện giả thành
Đế vương đại thần, hai ngàn thạch trưởng lại: Đế vương đại thần nhị thiên thạch trưởng lai
Thấy ta mến như con đỏ : kiến ngã giả, ái như xích tử
Hôm nay triệu thỉnh Ngọc nữ sáu thần : Kim nhật triệu thỉnh Ngọc nữ Lục thần
Theo ta mà tiến : tùy ngã sở tiến.
Mỗi khi ra đi dùng việc, mà không được phương cát, giờ cát thì có thể dùng phép này. Tiện vạch bát quái đồ cục, hãy định Đông Tây Nam Bắc trong 10 Can, 12 thần, 4 góc.

CHÚ BỘ ĐẨU

(Mỗi rời một bước, đọc chú một câu)
Chú rằng : Chú viết
Khí trắng hỗn độn tưới ngả hình : Bạch khí hỗn độn quán ngã hình
Bước vũ theo nhau hợp Đăng minh : Vũ bộ tương thôi hợp Đăng minh
Thiên hồi Địa chuyển bước bảy tinh : Thiên hồi Địa chuyển bộ Thất tinh
Bước Cương, giẫm Đẩu. Đều chín Linh : Nhiếp Cương, Lý Đẩu tề Cửu tinh
Ngón trỏ phục yêu, chúng tà kinh : Á chỉ phục yêu, chúng tà kinh
Chúng tai tiêu diệt, ta còn trường : Chúng tai tiêu diệt, ngã trường
Ta được trường sinh! : Ngã đắc trường sinh
Ta được trường sinh! : Ngã đắc trường sinh
Chí tâm kiến thành, bước sao Đẩu xong, thi niệm chú này:
Sáu Giáp chín chương : Lục giáp cửu chương
Trời tròn đất vuông : Thiên viên địa phương
Bốn mùa năm hành : Tứ thời ngũ hành
Xanh đỏ trắng vàng : Thanh, xích, bạch, hoàng
Thái ất là thầy : Thái ất vi sư
Nhật nguyệt sáng choang : Nhật nguyệt vi quang
Bước vũ soi đường : Vũ bộ trị đạo
Suy Vưu lánh binh : Suy Vưu tị binh
Thanh long quanh xe : Thanh long phù cốc
Bạch hổ che đường : Bạch hổ phục hành
Huỳnh hoặc dẫn bước : Huỳnh hoặc tiền dẫn
Trừ những bất tường : Tị trừ bất tường
Bắc Đẩu đánh giết : Bắc Đẩu chu phạt
Sạch hết tai ương : Khứ giang hung ương
Năm thần theo ta : Ngũ thần tòng ngã
Đi khắp tám phương : Chu du bát phương
Đương ta thì chết : Đưỡng ngã giả tử

Ghét ta thì thì thương : Tật ngã giả vong
Xã tắc hai bên : Tả hữu xã tắc
Trộm cắp ẩn núp : Khấu đạo phục tàng
Đi thì có mừng : Hành giả hữu hỷ
Ở thì có phước : Lưu giả hữu phúc
Muôn thần hộ ta : Vạn thần hộ ngã
Mãi trừ trộm cắp : Vĩnh trừ đạo tặc
Kíp kíp như luật lệnh : Cấp cấp như luật lệnh 

Cách bầy địa cục
Đồ hình cách bầy địa cục

Kính thỉnh phương Đông Công tào, Thiên xùn, Thiên Cương, Thanh đế Đại thần, Giáp Ất đại thần, giáng vào cục này gìn giữ thân ta.
Phương Nam: Thái ất, Đằng quang, Tiểu cát, Xích đế đại thần, Bính Đinh đại thần, giáng vào cục này, gìn giữ thân ta.
Phương Tây: Truyền tống, Tòng khôi, Hà khôi, Bạch đế đại thần, Canh Tân đại thần, giáng vào cục này, gìn giữ thân ta.
Phương Bắc: Đăng minh, Thần hậu, Đại cát, Hắc đế đại thần, Nhâm Quý đại thần, giáng vào cục này, gìn giữ thân ta.
Đã thỉnh thần 4 phương xong, lấy từ ngày hôm nay, trên nhật thần hạ một con toán. Như gặp ngày Tý thì ttreen Tý hạ con toán 1, trên Sửu hạ con toán thứ 2, trên dần hạ con toán thứ 3, trên Mão hạ con toán thứ 4, trên Thìn hạ con toán thứ 5, trên Tị hạ con toán thứ 6....Bốn ngày Trọng, Địa hộ không thành thì mới đầu hạ con toán 1, an trên Thìn, có xung là xung Mệnh trị nhiên thành môn Ngũ văn thuật (câu này bản nguyên viết: Sở xung khước dĩ xung mệnh khởi tự nhiên thành môn ngũ văn thuật
Chú rằng:
Chuột đi vào hang, chó vào chợ, rồi rời con toán, an trên Tuất hô lớn Thanh long nhập hạ!
Lại chú rằng:
Trâu vào chuồng thỏ ăn ngon ngọt, rồi rời con toán 2 trên Sửu, an trên Mão, hô lớn Chu tước Hạ!
Lại chú rằng:
Hổ mạnh đăm đăm................................, rồi tời con toán 3 trên Dần, an trên Tị, hô lớn Câu trận Hạ!
Lại chú rằng:
Thỏ vào chuồng trâu nép không dậy, rồi rời con toán 4 trên Mão, an trên Sửu hô lớn Bạch hổ Hạ.
Lại chú rằng:
Rồng vào lán ngựa khốn không còn, rồi rời con toán 5 trên Thìn, an trên Ngọ, Hô lớn Huyền vũ hạ!
Lại chú rằng:
Rắn bay uyển chuyển tới trong Thân rồi rời con toán 6 trên Tị, an trên Thân, hô lớn Lục hợp hạ.
Nếu là ngày Ngọ thì đặt con toán 1 trên Ngọ. Trên Mùi đặt toán 2, trên Thân đặt toán 3, trên Dậu đặt toán 4, trên Tuất đặt toán 5, trên Hợi đặt toán 6.
Lại chú rằng:
Ngựa vào suối Rồng uống nước giếng, rồi rời con toán 1 trên Ngọ, an trên Thìn, hô lớn: Thanh long hạ.
Lại chú rằng:
Dê kêu rời Mùi vào trong Dậu, rồi rời con toán 2 trên Mùi, an trên Dậu, hô lớn: Chu tước hạ.
Lại chú rằng:
Vượn hầu chăm chắm chạy Hợi Bắc, rồi rời con toán 3 trên Thân, an trên Hợi, hô lớn: Câu trận hạ.
Lại chú rằng:
Gà bay tan tác trong chuồng Dê, rời con toán 4 trên Dậu, an trên Mùi, hô lớn: Bạch hổ hạ.
Lại chú rằng:
Chó vào hang chuột bắt chuột con, rồi rời con toán 5 trên Tuất, an trên Tý, hô lớn: Huyền vũ hạ.
Lại chú rằng:
Lợn vào hang Hổ tự lấy chết, rồi rời con toán 6 trên Hợi, an trên Dần, hô lớn: Lục hợp hạ.
Bầy toán xong. Thành: trước là Thiên môn, thành sau là Địa hộ. Không thành thì đem toán sơ đặt làm con toán 7, gọi bảo là thành ở phương vị nào.
Đứng cầm toán chú rằng:
Kiền tôn diệu linh : Kiên tôn diệu linh
Khôn thuận trong doanh : Khôn thuận nội doanh
Hai nghi giao thái : Nhị nghi giao thái
Cẩn hợp lợi phối : Yểu hợp lợi phối
Vững trời giẫm đất : Trinh thiên lý địa
Mãi yên đẹp thanh : Vĩnh minh tú thanh
Cảm ứng nguyên hoàng : Cảm ứng nguyên hoàng
Trên áo dưới quần : Thượng y hạ thường
Tốn Ly Khôn Đoài : Tốn Ly Khôn Đoài
Giúp đỡ vun bồi : Dục tán phù tương
Kiền Khẩm Cấn Chấn : Kiền Khẩm Cấn Chấn
Bước Hổ lượn Rồng : Hổ bộ Long tường
Hôm nay làm toán : Kim nhật hành toán
Ngọc nữ chờ bên : Ngọc nữ thị bàng
Gặp gấp thì giúp : Hữu cấp tương trợ
Nên phụ đỡ cùng : Đương phụ phù khuông
Đuổi ta thì tử : Truy ngã giả tử
Bắt ta thì vong : Bộ ngã giả vong
Chàng Ngưu nàng Chức : Khiên Ngưu Chức nữ
Hóa làm biển sông : Hóa vi hải giang
Kíp kíp như luật lệnh : Cấp cấp như luật lệnh.
Ngọc nữ đi theo trái 3 con 4 duy. Ngày Tý bắt đầu đi từ Thìn, hết vòng trở lại. Bên Ngọc nữ mà đi, lúc đi có chú. Nếu hô Ngọc nữ sở tại. Như tại trên Canh thì chú:
Ngọc nữ trên Canh đến ngay hộ ta, đừng để trăm quỷ làm thương ta. Người không thấy ta. Kẻ thấy ta hãy bó que lại. Riêng mở cửa cho ta và đóng cửa kẻ khác vào Địa hộ. Kíp kíp như luật lệnh.
Tức thì mở cửa mà đi, chớ có ngoảnh lại.
Khi muốn làm mọi chuyện như đi xa, đến gặp Quý nhân, thượng quan phó nhậm thi fra Địa hộ, vào Thiên môn, bên Ngọc nữ mà đi, chú rằng:
Thiên môn! Thiên Môn
Hôm này tốt tướng
Ngọc nữ chờ ta
Tả Hữu hai bàng
Đi lại bốn phương
Ngày ra sáu Giáp
Không gặp tai ương
Quân tử mà gặp
Vui vẻ lạ thường
Điều cầu như ý
Muôn việc cát sương
Cấp cấp như luật lệnh.
Khi muốn vào trận chộp bắt thì ra Thiên môn, vào Địa hộ, bên Ngọc nữ mà đi. Chú rằng:
Ừ! Ừ Phải phải!
Đi không chọn ngày
Lại không chọn giờ
Theo dấu Đẩu trỏ
Cùng người nhũng nhu
Trời đất sấp ngửa
Ở giữa mà chờ
Đều được như ý
Khiến nó mê hoặc
Lấy Đông làm Tây
Lấy Nam làm Bắc
Nó biết được ta
Khiến nó mê không trông thấy
Cấp cấp như luật lệnh
Lấy màn che của mà đi (Đều một lòng kính thành, ba lần ca Ngọc nữ). Bên Ngọc nữ chú rằng:
Ngọc nữ ! Ngọc nữ
Thần trời rất linh
Hộ ta, giữ ta
Cùng ta, truyền ta
Đi đến xứ X
Ảo ảo mờ mờ
Không thấy được hình
Người không nhận được người
Quỷ không nhận được tinh
Ưa ta thì phúc
Ghét ta gặp ương
Trăm tà Quỷ tặc
Đương ta thì chết
Trọc ta thì vong
Ngàn vạn con người
Thấy ta vuii vẻ
Cấp cấp như luật lệnh
Lấy dao vạch đất, cấm hẳn mọi ác. Niệm chú, đập răng bảy lần để ứng vói Bắc đẩu, Thiên cương. Tai phải cầm dao vạch đất và chu rằng:
Bốn dọc năm ngang
Muôn ác tiêu tan
Ta đi ngàn dặm rồi lại
Muôn dặm rồi về
Ngăn ta thì chết
Mắng ta thì vong
Tự chịu lấy ương
Cấp cấp như luật lệnh.

Thứ Hai, 15 tháng 2, 2021

KỲ MÔN ĐỘN GIÁP BÍ KÍP ĐẠI TOÀN- P2


Sáu Giáp lợi dụng
Kinh nói:
Khi có việc dùng, trăm việc đều hướng về phương sáu Giáp, hô tên thần, đi 60 bước, chuyển tả vào trong Thái âm, lại hô tên thần Thái âm thì vào Quý nhân được vui mừng, gặp trận thì thắng.
Tuần Giáp Tý, tên Thần là Vương Văn Khanh. Khi đăng đàn bái tướng, Tướng lệnh chịu nhận binh phù. Khi nguyên soái định kế khởi binh, phát lương trữ….đều hướng về phương ấy, hô danh  thần ấy, đi 60 bước, chuyển tả, vào trong Thái âm thì nắm giữ việc như thần.
Tuần Giáp Tuất, tên Thần là Từ Hà Lợi Thông. Khi phạt rừng núi, làm bằng đường đi, khơi thong sông ngòi, được tự nhiên mở đường không tổn hại, đều hướng về phương ấy, hô tên thần ấy, đi 60 bước, chuyển tả vào Thái âm, thì được như ý, đường xá tự thông.
Tuần Giáp Thân, tên Thần là Cái Tân. Khi vào núi săn bắn, lùng bắt hổ lang, trùng thú, đều hướng về phương ấy, hô tên thần, đi 60 bước, chuyển tả, vào Thái âm, trùng thú tự nhiên không chạy.
Tuần Giáp Ngọ, tên Thần là Linh Quang. Khi yên doanh, bầy trận, tuần thú, chiến đấu, hướng về phương ấy, hô tên thần, đi 60 bước, chuyển tả, vào Thái âm, tất là thắng.
Tuần Giáp Thìn, tên Thần là Hàm chương. Khi cầu quan, bái tướng, phó nhậm vùng dân, hướng về phương ấy, hô tên thần, đi 60 bước, chuyển tả, vào Thái âm, làm quan không phải hối tiếc.
Tuần Giáp Dần, tên Thần là Giám Binh. Khi dương binh, chấn võ, dạy trận, đuổi khấu, hành quân chinh phạt kẻ không đạo, đều hướng về phương ấy, hô tên thần, đi 60 bước, chuyển tả, vào Thái âm, thì xuất hành biển yên, giặc cướp tự nhiên không dấy.
Trên đây, sáu Giáp quản hạt ngũ hành tôn thần, thể thống ưa tĩnh. Lúc hành sự vẽ tượng ghi chữ mà chế thì cát. Bởi vì sáu Giáp, trong quản năm hành. Mà động ứng thì không phương nào đủ 5 hành mà lấy bỏ. lại còn đạo tương sinh tương khắc. Tay trái tượng thiên, tay phải phép Địa. Thần linh ưa tĩnh cho nên viết 5 hành để chế nhau. Đạo vận hóa không gì không kiêm thế được.
Khi muốn xuất binh, đại tướng, trong tay tả, lấy son viết chữ cường, cuộn nắm tay lại, đi 60 bước, chuyển tả, vào Thái âm, có thể che yếu lấy mạnh.
Khi muốn gặp Quý nhân cầu quan và hai ngàn thạch lệnh trưởng, trong tay tả viết chữ Thiên.
Khi muốn buôn bán lợi lỗ hòa, kết giao bạn, giá thú, viết tờ khế thì viết chữ Hòa.
Khi vào núi săn bắn viết chữ Sư.
Khi coi việc (bộ công), yên dân cư thì viết chữ Cường.
Khi qua sông trị thủy thì viết chữ Thổ hay chữ Mậu.
Khi sóng gió gào thét, thuyền bè có thể đắm, đặc biệt kỵ ngày Bát phong (8 gió), Độc thủy (nước độc), Chiêu dao (vẫy vòi), hàm trì (ao liền), nên viết chữ Mậu.
Khi lên núi, vào đạo thì viết chữ Long. Rồng không dám động. Quay về phương Trực phù, đi 60 bước, chuyển tả, vào trong Thái âm. Được thế thì đạo Trời hanh.
Đây là phép diệu dụng Năm hành chế thắng.

Xuất hành hô thần vào Thái âm
Khi xuất hành đi về một phương nào, hô tên tự thần phương ấy, mà đi 60 bước, chuyển tả, vào trong Thái âm, Độn dương, trước 2 vị là trong Thái âm. Độn Âm thì sau 2 vị là trong Thái âm.
Lại sáu Đinh cũng là Thái âm, hô tên tự Thần, giờ lúc dùng. Tinh trên Thiên bàn là tên tự.
 Thiên Bồng tự Tử Cầm Thiên Cầm tự Tử Công
 Thiên Nhuế tự Tử Thành Thiên Trụ tự Tử Thân
 Thiên Xung tự Tử Kiều Thiên Nhậm tự Tử Vi
 Thiên Phụ tự Tử Khanh Thiên Ương tự Tử Uy
 Thiên Tâm tự Tử…
Giả như Đông chí Độn Dương, thượng nguyên, ngày Giáp Kỷ, giờ Bính Dần. Lúc ấy, Sáu Bính tới cung 8. Lấy Thiên bàn Giáp Tý Mậu Thiên bồng bay trên cung 8. Muốn đi về phương Đông Bắc thì hô tên tự thần là Tử Cầm, đi 60 bước, vào trong Thái âm. Lúc ấy lùi lại 2 cung là Thái âm ở cung 4 (nên án 9 cung bầy mà đi từ cung Khảm 1) tức thì hướng về tả, vào Đông Nam.

Xuất hành, hô tên thần 10 can trong 12 giờ
Giáp là Thần Thiên Phúc - Vương Văn Khanh.
Ất là thần Thiên Đức - Long Văn Khanh.
Bính là thần Thiên Uy - Đỗ Đường Trọng Khanh.
Đinh là thần Thiên Ngọc - Nữ Lý Du Điền.
Mậu là thần Thiên Vũ - Tư Mã Dương.
Kỷ là thần Minh Đường – Kỷ Du Khanh.
Canh là thần Thiên Hình – Châu Du Dương, Quách Dương Chi.
Tân là thần Thiên Đình – Cao Tử Cường.
Nhâm là thần Thiên Lao – Vương Lộc Khanh.
Quý là thần Thiên Ngục – Viên Cường, Viên Tử Quang.
Thân âm Sáu Giáp (Lục Giáp Âm thần)
Tuần Giáp Tý, thần âm Đinh Mão, đầu Thỏ thân người, tên là Khổng Lâm Tộc, tự là Văn Bá.
Tuần Giáp Tuất, thần âm là Đinh Sửu, đầu Trâu thân người, tê là Lương Khâu Thúc.
Tuần Giáp Thân, thần âm là Đinh Hợi, đầu lợn thân người, tên là Lục Thành, tự là Văn Công.
Tuần Giáp Ngọ, thần âm Đinh Dậu, đầu gà thân người, tên là Phí Dương, tự là Văn Thông.
Tuần Giáp Thìn, thần âm là Đinh Mùi, đầu dê thân người, tên là Vương Khuất Kỳ, tự là Văn Khanh.
Tuần Giáp Dần, thần âm Đinh Tị, đầu Hổ thân người, tên là Hứa Hàn Trì, tự là Cự Khanh.
Tên thần Độn Giáp Môn hộ
Khi xuất hành, hành sự nên dùng.
Tuần Giáp Tý: tên Môn là Tử Nghị. Tên Hộ là Công Tôn Tế. Cởi cáo mà qua, cát.
Tuần Giáp Tuất: Tên Môn là Thiên Khả. Tên Hộ là Từ Khả. Ngửa mặt lên trời, hô to mà qua, cát.
Tuần Giáp Thân: tên Môn là Tư Mã Quang. Tên Hộ là Thạch Chiến. Cởi áo mà qua, cát.
Tuần Giáp Ngọ: tên Môn là Thạch gia. Tên Hộ là Tử Khả. Cởi áo, nhẩy mạnh mà qua, cát.
Tuần Giáp Thìn: tên Môn là Công Tôn Thác. Tên Hộ là Tư Mã Thắng. Xõa tóc rối kết lại mà qua, cát.
Tuần Giáp Dần: tên Môn là Công Tôn Quang. Tên Hộ là Tư Mã Cường. Cởi đai lưng mà qua, cát.
Làm đại tướng, khi ra vào và hành binh, không cứ nhiều ít, phương đến nơi, tất có phép đỡ. Lấy 6 làm Pháp.
Đại tướng dàn sĩ tốt vòng bên tả, vào Thái âm, hô tên Thần Môn Hộ, chú rằng:
Giáp X….có gấp, mời Thần giúp ta, đỡ ta, che ta, giấu ta, đừng để kẻ địch là thương ta, đè ta, úp ta,, năm quân đẩy bẻ đừng để tới ta. Đương ta thì chết. Nhìn ta thì mù. Khiến kẻ địch mờ mờ lặng lặng. Nhìn ta thì mê hoặc, vì ta mà loạn hồn phách, kiến kẻ địch không dám ngóc dậy.
(Chú viết: Mỗ giáp, hữu cấp, thỉnh thần tá ngã, hựu ngã, nặc ngã, tàng ngã, vô sử địch nhân thương ngã, phủ ngã, cái ngã, ngũ binh thôi chiết, vô linh chí ngã. Dương ngã giả tử. Thị ngã giả vong. Sử địch nhân minh minh mặc mặc, thị ngã mê hoặc, vị ngã loạn kỳ hồn phách, sử địch nhân bất cảm khởi).
Niệm chú xong, khiến sĩ tốt đi thẳng vòng bên tả, đừng quay đầu lại, giấu ở dưới sáu quý. Như Giáp Tý thì Quý Dậu loại ấy.
Phép sáu Giáp âm phù
Kinh nói:
Làm đại tướng, khi ngăn giặc, nên làm sáu Giáp âm phù, khiến kẻ địch thân bị giết. Cho nên nói ngàn vàng không dạy người. Âm của sáu Giáp ở giữa khoảng trời đất. Đạo này linh lắm, cất trong trap vàng, quý ở trong tâm, không truyền cho hạng phi nhân. Đừng có nhẹ dạ để lộ ra ngoài. Nhìn trộm cũng mù, đọc trộm thì dịch.
Ví làm sáu Giáp âm phù, nên lòng thành trai giới để mong phúc trời. Hơi có ô uế, không trong sạch thì đừng hòng linh nghiệm.
Khi làm phù phải chọn giờ Nguyệt thực, chặt gỗ ngô đồng và các loại gỗ đỗ kinh, chọn cành âm, hoặc lõi gỗ Bách cũng được, phải dài 9 thốn, rộng 2 thốn, dày 3 phân. Dùng thư hoàng (hung hoàng) bôi lên làm tượng, và viết cả tên dưới hình tượng (tức như Đinh Mão âm thần Khổng Lâm Tộc). Vẽ theo hình tượng và đề tên. Làm phù xong, may túi gấm đựng. Đại tướng đeo bên thân. Khi dùng binh, lấy phù thần âm của bản tuần ra ngoài túi, trỏ vào quân địch, địch tự tan không dám giao binh.
Khi lấy gỗ, trước trai giới. Lấy rượu 1 đấu, nem hươu 3 cân, muối 1 chén mà tế cầu. Giải chiếu cỏ, hướng về Bắc, vái mấy vái mà chú trước cây Đỗ - Kinh rằng:
“Hỡi thần trăm quỷ, với con cùng đi. Biến hóa thân kia, do con bảo chỉ, mọi loài phục vụ. Rượu tốt nem ngon, cùng là muối mỹ. Mong hưởng đủ vị.”
Chú xong lại bái, chú ba lượt xong thì chặt cây, chớ để ô uế, mà cũng đừng để gần vật ô uế, cùng là đàn bà, gà chó trông thấy.
Lại phép thụ trì: Trai giới 5 ngày, tháng lan tắm rửa. Ăn uống thức tinh khiết. không  ăn 5 giống cay trần tục. Và viết vẽ xong vào ngày Sáu Giáp. Nửa đêm, làm chay trên đàn vuông. Làm đàn pháp 1 trượng 2 xích, ngoài đắp đất 12 trường, mở 12 cửa. lấy que trúc dài 3 xích hay 9 xích, cắm quanh 4 hướng. Đem phù sáu âm đặt trên đàn theo sáu ngôi. Lấy 5 mầu vẽ ô, mỗi ô 3 xích 5 thốn. Trên bày rượu 3 chén, nem 2 cân, muối 1 chén. Cỏ trắng làm chiếu. Hướng về Bắc, quỳ và hô tên thần Chi 4 phương và tên thần Sáu Âm sáu Giáp và tên thần Môn hộ mà tế.
Giả như Giáp Tý Thần âm là Đinh Mão, hướng về chính Đông, vái mấy vái, hô tên Thần và chú. Lấy gấm đỏ làm túi đeo âm phù vào thân thì trăm quỷ không dám phạm tới. Lấy âm phù trỏ địch thì kẻ tự duyệt. Như thảng thốt không đàn thì tới giữa sân hoặc ngoài đồng vạch đất làm đàn cũng được.

Phép chân nhân bộ đẩu (người bước chân đẩu)

Kinh Bộ Đẩu nói: Phép Bộ Đẩu có thể thông thần.
Phải vào nửa đêm sao sáng, dưới làm đàn, vạch đất làm hình sao Bắc đẩu bảy ngôi. Các ngôi cách nhau 3 xích. Thiên Bồng theo Thiên Cương khởi, thứ tự tùy theo mà bày. Trước Khôi bày nghịch xong, đứng ngày thẳng trên Thiên Ương thì trước cất chân trái mà đọc chú tiếp. Nhẹ nhàng trái phải thay đổi mà giẫm. Như phép mà làm. Trăm ngày thì Người Thần tự nhiên cảm thông. Giữ bí, đừng tiết lộ với bọn phi nhân mà ương tới 9 họ. Nhìn trộm mắt mù.
Chú rằng:
 Đẩu yêu diệu tìm 12 thần,
 Được sáng lạn nơi Huyền vũ trần.
 Khí phảng phất kìa như phù vân,
 Bẩy biên động kìa ứng trời trên.
 Biết biến hóa mà có cát hung,
 Vào Tú Đẩu rồi qua Thiên quan.
 Hợp Luật Lã mà trị Giáp Ất,
 Giẫm Thiên Cương mà độ Thiên Nhậm.
 Vực lạnh trong mà đất lắng trầm,
 Chống Thiên tuế mà đỡ Thiên tâm.
 Từ đó độ mà lên Thiên Cầm,
 Tựa Thiên Trụ mà ngóng Thiên Xung.
 Vào Thiên Nhuế mà ra Thiên Bồng,
 Đẩu đạo chông mà mềm rắn đỡ.
  Ra mờ tỏ mà ngàn vạn tuế,
 Kíp kíp như luật lệnh.
Khi có việc ra đi, đem tên Ngọc Nữ bản tuần, như Tuần Giáp Tý, âm ở Đinh Mão, mà chú rằng:
“Đinh Mão ngọc Nữ, giúp ta, đỡ ta, đừng để làm thương ta. Nhìn ta thì mù, nghe lắng ta thì chịu tai ương”.
“Đinh Mão Ngọc Nữ, Hộ ngã hựu ngã, vô linh thương ngã, thị ngã giả cổ, thính ngã giả phản thụ kỳ ương”.
Chú xong, thì đi, đừng ngoảnh lại, Thần ấy theo đỡ, theo được phúc lớn.
Như trong Tuần Giáp Tuất thì hô Thần Đinh Sửu, chu như trên. Ngoài ra phỏng thế
.
Thần chú kỳ Ất 

Thần uy Thiên đế, giết sạch quỷ tặc,
 Sáu ất cùng phù, Đạo trời giúp sức.
 Lệnh ta phải theo. Không công chớ chống,
 Cấp cấp như Huyền Nữ luật lệnh.
(Thiên đế uy thần, Tru duyệt quỷ tặc, Lục ất tương phù. Thiêndddaoj tán đức. Ngô lệnh sở hành. Vô công bất khắc. Cấp cấp như Huyền nữ luật lệnh)

Thần chú kỳ Bính

 Đức ta Trời trợ, trước sau đón xét,
 Rồng xanh Hổ trắng, Tả Hữu đuổi ma.
 Chu tước đi trước. Hội với người ta,
 Uy trời trợ ta, Sáu Bính trừ bệnh
 Cấp cấp như Huyền Nữ luật lệnh.
(Ngô đức Thiên trợ - Tiền hậu giá la – Thanh long bạch hổ - Tả hữu khu ma. Chu tước tiền đạo – Sử ngô hội tha – Thiên uy trợ ngã – Lúc Bính trừ kha. Cấp  cấp như Huyền Nữ luật lệnh)
.
Chú ca Ba Kỳ Môn cát

Kinh nói:
Ra cửa Sáu Ất, bước Vũ, ba chú rằng:
“Hổ trắng! Hổ trắng! lối ta đi, trước nên tôn trọng.
Chớ lầm nhận kẻ sĩ có đức, lại cùng trợ.
Ra mờ vào tối (1) cùng giao trợ. Kíp Kíp như Cửu thiên huyền nữ nguyên quân luật lệnh”.
(Bạch hổ ! Bạch hổ! Trừ đạo lộ. Dương tiến tôn lộ. Vật ngộ hữu đức chí sĩ, lai tương trợ. Xuất u nhập minh giao tương trợ. Cấp Cấp như Cửu thiên huyền nữ nguyên quân luật lệnh).
1-4 chữ xuất u nhập minh này, bản nguyên viết là Xuất u minh minh.
Ra cửa Sáu bính, Bước vũ, 3 chú rằng:
 “Trước có Thiên cương dương oai võ,
 Phải đi theo Thanh long và Bạch hổ.
 Giết sạch giặc trời và ma trời,
 Dám không phục tòng, búa trời bổ.
 Kíp kíp như Cửu Thiên huyền nữ nguyên quân luật lệnh.
(Tiên hữu Thiên cương dương uy võ. Dương tong Thanh long dữ bạch hổ hành. Tru Thiên tặc cập thiên ma. Cảm hữu bất tòng phục, thiên phú. Cấp cấp như Cửu Thiên huyền nữ Nguyên quân luật lệnh).
Ra cửa Sáu Bính, bước Vũ, 3 chú rằng:
 “Nàng Ngọc ! nàng ngọc!
 Tên thần mẹ hô lên mà hỏi,
 Đạo ta vẫn thường từ chuôi Đẩu vào bọng Đẩu.
 Vực trong lạnh thẳm có nhiều thần.
 Bế cỏ để tự che, chớ kinh ngộ.
 Kíp kíp như Cửu thiên huyền nữ Nguyên quân luật lệnh.
(Ngọc nữ ! ngọc nữ! danh thần mẫu hô nhi vân chi. Đạo ngộ sở thường tong đẩu thược, nhập đẩu lý. Thanh lánh chi uyên đa thần. Chiết thảo dĩ tự chướng, vật kinh ngộ. Cấp cấp như cửu thiên huyền nữ nguyên quân luật lệnh).
Kinh nói:
Ra ba kỳ môn cát, hoặc có việc gấp không kịp chú, cũng có thể cứ đi, nhưng cần chí tâm tin theo tất nghiệm. Cần là chớ có ngoảnh lại.
Khi niệm chú, nên bước vũ, tay hữu vạch 4 dọc 5 ngang mà đọc:
 “Bốn dọc năm ngang, Sáu Giáp Sáu Đinh,
 Huyền vũ chở đạo. Suy vưu lánh binh.
 Tả khoái Nam Đẩu, Hữu theo 7 tinh,
 Tà ma mất tích, quỷ quái lặn hình.
 Can không dám phạm. Chi chẳng dám xâm.
 Thái thượng có sắc. Lệnh ta chỉ làm.
 Vào nước không đắm, vào lửa không bùng,
 Nghịch ta thì chết. Thuận ta thì sống.
 Đương ta thì diệt. Ngó ta mắt mù.
 Kíp kíp như Thái thượng đạo tổ Thiết sư thượng đế luật lệnh”
(Tứ tung ngũ hoành. Lục Giáp Lục Đinh. Huyền Vũ tải đạo. Suy vưu tị binh. Tả huyền nam đẩu. hữu bội thất tinh. Yêu ma duyệt tích. Quỷ tý tiềm hình. Can bất cảm phạm. Chi bất cảm xâm. Thái thượng hữu sắc. Ngô lệnh chỉ hành. Nhập thủy bất nịch. Nhập hỏa bất phân. Nghịch ngô giả tử. Thuận ngô giả sinh. Đương ngô giả quyệt. Thị ngô giả manh. Cấp cấp như Thái Thượng đạo tổ Thiết sư Thượng Đế luật lệnh”.
Niệm xong thì niệm các thần chú trước, hoặc Ất, Hoặc Bính, hoặc Đinh, Ba Kỳ, tùy niệm tùy hành, cẩn thận chớ có quay đầu lại.
Ngày đơn thì 5 ngang Đông tây. 4 dọc Nam Bắc.
Ngày kép thì 5 ngang Nam Bắc, 4 dọc Đông Tây.
Chú rằng:
 “Vua vũ rút đường. Ta nay ra đi,
 Bốn dọc năm ngang. Suy vưu đủ binh.
 Chạm ta thì tử. Lánh ta thì sinh,
 Ta đi dưới Trời. Trở về cố hương.
 Kinh mời Nam Đẩu sáu chàng, Bắc đẩu bảy tinh.
 Ta vâng Thái thượng lão quân. Kíp kíp như luật lệnh”
(Vũ vương giảm đạo. Ngô kim xuất hành. Tứ tung Ngũ hành. Suy Vưu bị binh. Chàng ngô giả tử. Tị ngô giả sinh. Ngô du thiên hạ, hoàn quy cố hương. Kinh thỉnh nam đẩu lục lang, bắc đẩu thất tinh. Ngô phụng Thái thượng lão quân. Cấp cấp chủ luật lệnh).
Tay trái bấm chữ bản nhật (thần chi của ngày này), dở tay phải, vân ngón tay vạch ngang.
Hai chú trên, đại đồng tiểu dị, tùy ý mà dùng.

Cục Ngọc nữ phản bế

Ngày Tý  Ngọc nữ ở  Canh,  Thiên môn ở  Bính,  Địa hộ ở  Ất
Ngày Sửu  Tân  Bính               Ất.
Ngày Dần  Kiền  Bính              Canh
Ngày Mão  Dần  Canh    Đinh
Ngày Thìn  Quý  Canh    Đinh
Ngày Tị  Cấn  Canh    Nhâm
Ngày Ngọ  Giáp  Nhâm    Tân
Ngày Mùi  Ất  Nhâm    Tân
Ngày Thân  Tốn  Nhâm    Thân
Ngày Dậu  Bính  Giáp    Quý
Ngày Tuất  Đinh  Giáp    Quý
Ngày Hợi  Khôn  Giáp    Bính
Trong khi Âm Dương 2 độn không được kỳ môn. Khi phải nhập xuất, dùng cục Ngọc nữ phản bế thì xuất nhập sẽ được trinh cát. Làm thượng tướng tất phải biết để giữ vạn toàn.
Khi được Kỳ mà không được Môn, hoặc có Môn không Kỳ, đều gọi là không được Kỳ Môn.

Còn tiếp